Hà Nội trong văn Hồ Anh Thái

Nói thẳng và trực diện vào vấn đề, nhà văn Hồ Anh Thái miêu tả Hà Nội với những nét sống động và chân thực nhất. Không màu mè, không phô trương, Hà Nội hiện ra với những đặc trưng của đời sống hiện tại.

Làm việc trong ngành ngoại giao, nhà văn Hồ Anh Thái có cơ hội tiếp chạm các nền văn hoá của các nước phát triển, nhìn nhận và so sánh một cách khách quan những khác biệt giữa Hà Nội với các thành phố khác, các quốc gia khác.

Hà Nội sau khi mở rộng đã dần mất đi những nét xưa cũ. Từ hơn chục năm trở lại đây, làn sóng di dân vào Hà Nội làm việc đã mang theo những thói quen sinh hoạt từ nhiều vùng miền khác… cộng với những thay đổi bộ mặt đô thị làm những nét tinh hoa, những gì thuộc về Hà Nội xưa cũ đang dần xoá nhoà.

Hà Nội trong văn Hồ Anh Thái khác hẳn với những Hà Nội đã từng gặp trong các tác phẩm của Vũ Bằng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân… hơn nữa, đó là tâm tư của một nhà văn- người Hà Nội trước một Hà Nội đang dần biến mất. BBT Vanhocquenha- Báo điện tử Tổ quốc xin trích giới thiệu 2 trong số 19 tản văn ở tập tiểu luận “Hướng nào Hà Nội cũng sông” của nhà văn Hồ Anh Thái để bạn đọc một lần nữa thấy được những tâm tư, suy nghĩ của một người luôn mang hoài niệm về một Hà Nội cũ, sang và đẹp.

 

Hướng nào Hà Nội cũng sông

 

Nhiều năm gần đây, người Hà Nội có phong trào đi tìm vùng đất mới. Nghe như chuyện thám hiểm tìm tân lục địa. Gọi khác đi là phong trào làm trang trại. Nghe như thực hiện chủ trương đi xây dựng vùng kinh tế mới. Gọi khác nữa là đi trồng rừng. Nghe như công tác môi trường hoặc lâm nghiệp.

Thực ra là tư nhân đi mua đất làm trang trại, biến nó thành nơi nghỉ thư giãn cuối tuần, hoặc nghỉ dài triền miên sau khi đã hạ cánh an toàn ở công sở. Một cuộc sục sạo săn lùng thật sự. Ở đâu đất ngon đất rẻ thì lượn vè vè đến. Bán kính trên dưới năm mươi cây số là lý tưởng. Có người đi xa hơn, đến vài ba trăm cây số. Tầm nhìn cũng xa hơn: mai đây sẽ có tàu cao tốc, ba trăm cây số một giờ, Hà Nội vào đến Vinh hay lên Lào Cai, Móng Cái chỉ một tiếng đồng hồ. Nhân nói chuyện tầu cao tốc, ở cái xứ đường tàu vặn chơi vài con ốc giật vài thanh tà vẹt trên đường ray bán sắt vụn thì hàng rào bảo vệ cao ba mét xung quanh đường tàu cũng chỉ là cái đinh gỉ. Rồi lại đổ tàu. Không thì người ăn cắp chạy chẳng kịp với tàu cao tốc, bét xác.

Công cuộc đi tìm đất len lỏi đến tận những vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo. Những bãi biển và khu du lịch trên núi cao, khách sạn hiệu ăn đều là của người Hà Nội. Miếng đất nào nghon ngon, hỏi, cũng là của người Hà Nội đã xí phần. Ra đảo Quan Lạn ở vùng Đông Bắc, đi tàu thuỷ mất mấy tiếng đồng hồ, tiềm năng du lịch nhưng còn khá hoang vắng, hỏi, thì mấy miếng này của người Hà Nội, miếng kia Sài Gòn. Không đất nào còn là đất hoang. Đất nào cũng đã có chủ, đã phân chia ranh giới. Miếng bánh đã cắt để đấy chưa vội ăn làm gì.

Trang trại ở những vùng đồi vùng núi xung quanh Hà Nội giờ đã xanh tươi. Có người mua lấy một vài quả đồi, diện tích đến cả chục héc ta. Xây lên những biệt thự. Xây lầu xây phủ. Dựng nhà sàn mua tận miền núi về lắp ráp lại. Bấy lâu bị giam trong cái lồng bê tông, trong cái thành phố ngột ngạt hơi người hơi xăng khói bụi, trong cái ô nhiễm không khí, nguồn nước và cả ô nhiễm âm thanh. Ai mà chẳng có nhu cầu vượt thoát về nơi thoáng rộng, trong lành. Thuê người trồng cả đồi chè, trồng cây ăn quả. Thuê trồng cả đồi thông. Có người doạ trộm cắp bằng cách đắp lên trong rừng thông của mình hai nấm mộ, đồi thông hai mộ, phao ra là có mộ cổ, thiêng, độc, kẻ trộm cũng ngại lẻn vào. Trồng rừng là cũng có lý do. Xây dựng trang trại trên đồi rừng là vi phạm. Có dạo đã bắt xử cả một đội ngũ cán bộ xã huyện vì cấp đất sai luật. Vậy người mua quả đồi phải thực hiện việc trồng rừng để khôn khéo lạng lách.

Sau từng ấy năm, giờ thì rừng cây đã lên xanh tốt. Lên thăm nhau, được mời ra đồi hái chè, ra vườn hái cam, bưởi, mít, xoài. Mang được bao nhiêu cứ việc hái. Hiếu khách. Gà đồi thả tung tán khắp vùng có hàng rào chắn, muốn ăn con nào mang cung tên lên đồi bắn như bắn chim. Quý người. Trang trại tiếp nối trang trại. Cả một vùng đồi núi mênh mông hiếm khách lên thăm. Lâu lâu bắt được một khách. Định đến thăm trang trại của một hoạ sĩ, nhưng đi qua trang trại của một chính khách quen, bị bắt vào luôn. Dùng dằng nửa ngày uống rượu, ra đi mang theo một đống sản phẩm cây nhà lá vườn thì ngang qua trang trại một cô ca sĩ, lại bị bắt vào. Một ông tổng biên tập báo có vườn bưởi bên cạnh nghe tin cũng phóng sang chơi, rồi dẫn độ khách về trang trại của mình. Khách hiếm. Cung ít hơn cầu. Muốn được vỗ béo thì cứ lấy đủ can đảm lên thăm những khu trang trại kiểu này.

Cuối tuần. Nhưng rồi thưa vắng. Cái hào hứng thời gian đầu dần dần nhường chỗ cho sự nhàm chán. Tuần nào cũng quay lại một chỗ là nhàm chán. Thời gian cuối tuần lẽ ra dành để đi du lịch đi picnic một nơi mới mẻ. Công việc ở thành phố đã ngổn ngang, giờ lại vướng thêm cái trang trại phải lo. Lâu lâu không lên thì nhà cửa ẩm mốc, vườn cây ăn quả trở thành cây tiêu cây điều, gọi tắt là tiêu điều. Phải thuê người trông coi, thuê người trồng rừng. Có người còn thuê được cả cán bộ xã trông nhà cho mình.

Đã có tiếng kêu: người Hà Nội đổ quân đi đánh chiếm các tỉnh. Thành thị tấn công nông thôn.

*

Nhưng cùng một lúc đã diễn ra một cuộc tổng phản công: người các tỉnh về đánh chiếm Hà Nội. Nông thôn tấn công thành thị. Thời chiến tranh, đối với các thành phố bị giặc chiếm đóng, ta có một chiến lược: lấy nông thôn bao vây thành thị.

Người Hà Nội đi các tỉnh mua đất làm trang trại, sùng sục cả lên, thì người các tỉnh về Hà Nội mua nhà mua biệt thự ngay giữa lòng Hà Nội, rất lặng lẽ êm thấm. Một sáng thức dậy, thấy bệit thự mới xây bên hàng xóm đã có một gia đình từ miền núi Tây Bắc về ở. Một năm sau thì cả một đường phố mọc lên quanh hồ. Bắt đầu một bản xô nát bên hồ của những cư dân vùng sâu vùng xa. Đường phố phía bên này hồ có tên danh nhân hẳn hoi, nhưng dân chúng gọi là phố Quan. Đường phố bên kia gọi là phố Hàng Trắng.

Quan các tỉnh lương bao nhiêu mà xây nhà mua nhà bạc tỉ ở Hà Nội? Ông quan không sống bằng lương mà bằng lậu, không bằng lương mà bằng bổng. Mấy cái dự án về các tỉnh, nhất là dự án xoá đói giảm nghèo của quốc tế cho vùng xâu vùng xa, chỉ cần nhặt hạt mảy hạt tấm của dự án là mua được nhà Hà Nội, cho con về Hà Nội ăn học, rồi cho vợ về Hà Nội trông con, ít năm sau ông hạ cánh an toàn ông về nốt. Úm ba la, ba ta đều thành người Hà Nội.

Oái oăm, phố Quan ở cạnh phố Hàng Trắng. Biết đâu ngày trước ở tỉnh, họ cũng là láng giềng. Bên ấy làm quan thì bên đây đi buôn . Hàng trắng. Có khi đây chỉ danh nghĩa đấu thầu được một đoạn đường nâng cấp, một công trình xây dựng cho tỉnh, thực chất là đây làm hàng trắng. Có tiền đây xây khách sạn nhà hàng chung cư, lôi hết vợ con cô dì chú bác từ quê ra, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người. Rồi đây về Hà Nội mua đất xây nhà, thậm chí xây chung cư để bán. Đây lại làm bạn láng giềng với ông quan cũ ở tỉnh.

Có ai không quan không ma tuý mà về sở hữu được đất Hà Nội không? Chắc là có, những người phải bán đất bán nhà ở tỉnh nhỏ, đánh đổi lấy cái nhà nhỏ hơn ở Hà Nội, mơ về một nơi đô hội, nơi thu nhận thông tin từ khắp thế giới nhanh hơn, con cái học hành triển vọng hơn, làm ăn có lẽ cũng dễ dàng hơn chốn ao tù nước đọng. Đời sống toàn cầu hoá, dòng người đổ vào đô thị là dòng thuận. Không học hành, đi bán sức lao động ở chợ người cũng có đồng tiền hàng ngày, mua đầu chợ bán cuối chợ cũng có đồng tiền hàng ngày. Sự phát triển ở các tỉnh chưa đến mức hấp dẫn có thể giữ được chân người ta ở lại quê hương. Huyền thoại kiếm cái ăn dễ dàng nơi đô thị lôi kéo người ta đi. Nói đến đây, nhớ một bài hát của Trần Tiến, nhạc sĩ ra đi từ Hà Nội. Ông nhắn nhủ cô gái nơi chốn phồn hoa: vê đi em, về đi em cô gái xinh tươi của làng ta. Đồng tiền kiếm được ở đô thị nhiều mồ hôi nhiều nước mắt, em hãy về đi, về với quê hương. Xót xa, thương cảm, sẻ chia. Nhưng em quay về thì em đói, ai cho em công ăn việc làm ở đồng quê tươi đẹp kia? Chất trữ tình của bài ca có lẽ là đi ngược với quy luật phát triển và mang tính không tưởng.

Thế là đô thị như cái chỗ trũng, dòng nước lũ nhập cư ào ào đổ vào, cuốn phăng mọi sự chuẩn bị, ước lượng, đo tính, thậm chí là cuốn phăng cả những ổ đề kháng, nếu có.

*

Sự chuẩn bị nào, sự ước lượng nào, ổ đề kháng nào? Nếu có, thì đó là thuộc về người quản lý đô thị. Đô thị, mà lại là thủ đô. Địa phương, mà lại là trái tim của đất nước. Vậy thì trong hàng ngũ quản lý các địa phương, ông thị trưởng Hà Nội cũng phải nổi bật lên, phải là một danh nhân. Gương mặt của thủ đô. Trước khi là thị trưởng, ông phải là một danh nhân đúng nghĩa, trong lĩnh vực bất kỳ, văn hoá, khoa học kỹ thuật, kinh tế… Nên được lựa chọn trong hàng ngũ danh nhân cả nước. Danh nhân, cộng thêm khả năng quản lý. Nhưng lâu nay người ta mới chỉ dừng ở tiêu chuẩn nhà quản lý. Nói như ngôn ngữ tuyên truyền thời thượng, chưa ngang tầm thời đại.

Có tin được hay không, đội ngũ quản lý các cơ sở ban ngành ở thủ đô vẫn nhiều người nói ngọng, đúng hơn là loạn ngược chữ e lờ và en nờ? Thổ âm thì đặc biệt nặng, không phải là giọng miền Trung lãnh tụ, mà giọng chiêm mùa đồng bằng hoặc bán sơn địa trung du. Không nên phân biệt, nhưng chính khách phải là người giỏi điều chỉnh, một cái giọng cho dễ nghe cũng là cách chứng tỏ khả năng điều chỉnh, chứng tỏ không bảo thủ. Không phân biệt, nhưng cũng cần thấy rõ cả nước chỉ có một thủ đô, cả nước chỉ có một ông thị trưởng thủ đô. Và cả nước cũng chỉ có một đội ngũ quản lý thủ đô.

Cái được có lẽ nhiều, nhưng cái được là chuyện tất nhiên ở thủ đô. Cái chưa được thì hàng ngày hàng giờ bày ra đấy. Một bài hát, em ở tận miền non cao nơi đây có hoa ban trắng. Em về thành công dân thủ đô, em học lái xe hơi, em trèo lên xe, cái xe bình thường trở thành xe điên, xe điên lao vùn vụt đâm chết cả người lẫn xe máy lẫn ô tô mới dừng lại. Một bài hát khác, em mang theo về tình yêu và nỗi nhớ. Chàng và nàng đã dan díu ở vùng quê xa, bây giờ em về Hà Nội. Tình cũ không rủ cũng về. Hoá ra chàng cũng dã chuyển về Hà Nội. Em muốn cắt đứt nhưng chàng không chịu, chàng doạ sẽ tung tin lên mạng. Em cự tuyệt nhưng chàng sấn sổ cưỡng ép. Kết cục, em có con dao gọt quả trong tay.

Em mang theo về. Rất nhiều cái hay sao em không mang theo về? Lại chỉ là những cái chưa được, cái dở dang ngổn ngang, cái trì đọng xét nét tỉnh lẻ. Lĩnh vực nào cũng có thể nhìn thấy dấu ấn địa phương. Cách tổ chức các sự kiện, các hoạt động xã hội. Các kế hoạch kinh tế thương mại dịch vụ. Văn học nghệ thuật truyền hình. Ồn ào chói chang loè loẹt phô lộ. Trống dong cờ mở loa đài che đỡ thực chất. Thiếu tính chuyên nghiệp và thiếu bài bản căn cốt. Thèm quá một phong cách vừa trầm tĩnh vừa thanh lịch vừa điềm đạm vừa thiết thực. Cần quá một tác phong vừa dứt khoát vừa tự tin vừa rõ ràng vừa mềm dẻo. Như vậy là Hà Nội. Như vậy là không quê.

Đã có một bài bình luận về sự quê mùa và chủ nghĩa nông dân. Nhưng ở đây cũng cần rẽ ngang làm rõ một tí. Chữ quê ở đây để chỉ sự vụng về, kém chất lượng, thiếu chuyên nghiệp. Không phải là nói về đồng quê.

Như thế này là quê: lễ hội ha anh đào người Nhật đem cống hiến cho dân chúng Hà Nội đã trong nháy mắt biến thành cuộc cướp phá. Vặt sạch bẻ sạch đập phá sạch. Nhân viên Nhật đứng ứa nước mắt giữa khu triển lãm tan hoang, mãi sau vẫn chưa hết bàng hoàng.

Như thế này là quê: chỉ ngay năm sau thôi, đầu năm 2009, lễ hội phố hoa Hà Nội bên bờ Hồ Gươm, lặp lại. Lại bẻ lại vặt lại cướp lại phá. Có ông một tay dắt con nhỏ, một tay ôm cái chậu hoa cướp được. Đứa bé ấy ai dám bảo sau này lớn lên không noi gương cha, coi chuyện cướp phá là bình thường, như vậy tức là phải bỏ thêm một thế hệ nữa? Có nam thanh nữ tú tay cầm cành lau cướp được, tay cầm vài bông hoa địa lan đỏ, vặt từ cái vẩy rồng trưng bày. Để yên thì nó là con rồng vài chục mét hoành tráng. Vặt đi thì mỗi người một bông hoa tơi tả, chả ra thể thống gì. Nhưng vặt được là được. Sở hữu chung đã trở thành riêng. Thoả mãn ý thích, thấy cái gì đẹp đẽ nguyên lành thì phải phá, phải cấu chí, phải bày bừa lem nhem ra.

Từ cướp hoa sang cướp gà vịt dịch bệnh là sự chuyển đổi tất nhiên. Xe người ta chở gà bị dịch đi tiêu huỷ, vừa mới đổ xuống một cái hố sâu thì cả làng đổ xô ra cướp. Hân hoan. Tươi mưởi. Không cần biết thảm hoạ dịch bệnh cho mình. Không cần biết mình có thể gieo rắc dịch bệnh cho cả làng cả huyện cả thủ đô. Chẳng phải là vấn đề nghèo đói. Nhận thức. Lối sống. Giáo dục. Số liệu năm 2008 cho thấy Hà Nội đứng đầu cả nước về số người mù chữ. Hà Nội bây giờ có vùng lần đầu tiên mới có điện. Cách Bờ Hồ trung tâm mười cây số, có vợ chồng nọ chưa đến 30 tuổi, năm con, không muốn đẻ nữa nhưng không biết làm cách nào.

Không phải cái quê của Hà Nội là tất tật tại người nhà quê. Rất nhiều người làm ra cái quê ấy là người đã sống ở Hà Nội vài ba chục năm, thậm chí là ba đời. Tiện thì nói luoon, người ba đời ở Hà Nội không phải là ít, gốc Hà Nội, nhưng phần nhiều nền nếp, nhún nhường, thành ra lại bị coi là quê. Quê, khi đặt bên cạnh sự bạo tợn, sự miệng nhà quan có gang có thép, sự giàu xổi mạnh vì gạo bạo vì tiền, sự ồn ào láo nháo của người mới nhập cư. Mới, lại càng phải tỏ vẻ. Nhưng không mới cũng chẳng vô can trong cái chất quê mùa làng xã mà Hà Nội đang mang khoác trên mình. Bộ cánh này bao giờ mới thay được? Người Hà Nội có lẽ đến lúc phải hỏi nhau, hỏi đi hỏi lại, nhiều lần.

*

Từ mười lăm hai mươi năm trước, khi xe máy chưa chen cứng đường phố, đã có ý kiến phải chủ trương hạn chế xe máy. Hạn chế đăng ký xe, thu phí lưu thông xe máy xe hơi. Ý kiến bị bỏ ngoài tai. Bây giờ một số đô thị mới đề nghị thực hiện, nhưng chưa được chấp thuận. Bên cạnh một số lý do về kỹ thuật, thì còn phản biện: vi phạm quyền con người. Vậy còn chờ đến khi phải ra lời hiệu triệu nhân dân toàn thành phố hãy ngồi yên trong nhà hay sao? Ai ở đâu ngồi yên đấy. Sử dụng vi tính, văn phòng ảo, dịch vụ ảo. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Ngồi yên là yêu nước.

Cũng giống như một đề xuất khác cũng bị gạt sang bên lề nghị sự: hạn chế người lưu thông vào Hà Nội. Người ta bảo dân số thực tế của nội thành Hà Nội phải trên trăm triệu người. Cô giúp việc nhà ta không được tính, những người bán hàng rong trên đường không được tính, những người thợ ở công trường, ở chợ người không được tính. Sài Gòn cũng vậy, dân số thực tế có lẽ phải gần chục triệu. Quá tải. Kinh nghiệm của một số thành phố quá tải trên thế giới: người bên ngoài ra vào đô thị phải có giấy phép có thời hạn. Sáng mang hàng vào, chiều tối hoặc ngày hôm sau trở ra, đi qua cửa ô, có quẹt thẻ. Nghe ra thì phạm vào quyền con người. Thủ đô không phải của riêng ai. Anh là người Hà Nội thì không có nghĩa là Hà Nội của riêng anh. Chiếc bánh ga tô chung, dù là miếng nhỏ tí xíu thì ai cũng phải có phần.

Đúng quá đi rồi. Nhưng ông quản lý đô thị nếu không nhìn xa trông rộng (vừa muốn giữ đẹp giữ yên thủ đô cho cả nước cùng hưởng, lại vừa không hạn chế quyền con người của bất cứ ai) thì ông cũng làm be bét chiếc bánh ấy. Rốt cục nó lem nhem, nó tan hoang, nó ôi thiu, chẳng ai ăn được nữa. Vừa mềm dẻo dân chủ vừa dứt khoát quyết đoán. Dám chịu trách nhiệm ngay bây giờ chứ đừng đùn lại cho nhiệm kỳ sau. Hội chứng nhiệm kỳ an toàn đã làm cho bao nhiêu việc dở dang hàng chục năm rồi.

Sáng mùng một Tết nào tôi cũng phóng xe máy một vòng quanh Hà Nội. Ra đường vào buổi sáng, hưởng cái vắng vẻ của đường phố không người. Phải đổi lấy cái rét như cắt da cắt thịt. Đường phố như của những năm bảy mươi tám mươi thế kỷ trước. Một vòng quanh Hồ Tây sương trắng, có đoạn sóng to gió cả, người quay phim có thể dí máy quay cận cảnh giả vờ làm sóng biển cũng được. Phải đi sớm, muộn một tí, đến trưa thì đông người trở lại. Mỗi năm chỉ có sáng mùng một cho người Hà Nội cũ hoài niệm. Người Hà Nội mới thì đã về quê, năm hết Tết đến ai cũng về ăn Tết ở quê. Có người đã viết một cái tản văn về sự hoài niệm này, bị phê phán ngay lập tức. Như vậy là chia rẽ nông thôn thành thị. Như vậy là biết một mà không biết hai, như vậy là không biết hàm ơn những gì mà người quê đem lại cho đời sống thành thị. Và trong những cư dân thủ đô kia, ai biết bao nhiêu phần trăm cũng còn gốc gác quê mùa?

Sau Tết khoảng mười ngày, khi những cô ôsin về quê ăn Tết trở lại làm việc,  khi những người bán hàng rong quang gánh và xe đạp cồng kềnh trở lại trên đường, khi người ở phố Quan phố Hàng Trắng trở lại biệt thự của mình, cũng là lúc một dòng người đổ xô đi, theo chiều ngược. Người Hà Nội lúc ấy mới kéo nhau về quê cha đất tổ. Về xem hội làng mở giữa ngày xuân. Về thăm họ hàng làng nước. Về thăm mộ ông bà cha mẹ, về đóng góp quỹ khuyến học quỹ xây dựng quê hương. Có ông thoát ly hơn nửa thế kỷ về quê rưng rưng. Có ông không sinh ra ở quê, cả đời mải tiến thân làm ăn phấn đấu, cả đời chẳng cần biết quê ở đâu, tuổi về hưu bỗng nhiên lại gạo. Về đến làng quê bùi ngùi sụp lạy trong nhà thờ họ, mở túi mở ví mừng tuổi trẻ con người già trong làng. Ra đi thì xuýt xoa quê mình thương thế mà bao nhiêu năm không về. Rồi đi vận động xin cho làng cái danh hiệu làng văn hoá, di tích lịch sử được xếp hạng, lễ đón lễ rước cứ tưng bừng cả lên.

Mấy người dân làng chỉ muốn yên thân kêu lên: Thôi thôi, quê hương không phải là cái nghĩa địa. Khi các ông bà đang khoẻ mạnh, thế lực danh tiếng thì chẳng thấy đâu. Chỉ đến khi về hưu không làm được gì nữa các ông bà mới tìm về. Tìm sự cứu rỗi, tìm sự bình an khuây khoả ở quê. Xí cả miếng đất tốt làm mộ phần ở quê. Thêm mấy ông bà định cư ở nước ngoài nữa, trẻ không thấy mặt, già mới lá rụng về cội.

Tìm về quê là nhu cầu tự thân hợp quy luật của tuổi tác. Cũng chẳng nên hẹp hòi khó chịu làm gì. Cũng như làn sóng nhập cư vào đô thị đã nói ở trên, không hẹp hòi làm gì. Hà Nội là thành phố đi về phía nào cũng gặp những dòng sông. Sông Hồng ôm gọn Hà Nội từ mấy phía. Cái tên Hà Nội có nghĩa là thành phố được sông bao bọc trong lòng. Hà Nội có chất mềm mại uốn lượn của sông. Có cái dịu dàng trầm tĩnh của nước. Cả sự bao dung của nước. Bao nhiêu dòng trong dòng đục đổ vào sông đều hoà nhập thành một. Bao nhiêu thứ chưa sạch được nước rửa trôi khoả lấp và làm cho trong sạch trở lại. Nước tiếp nhận, dung chứa và thanh lọc tất cả. Nhẹ nhàng thôi mà nước chảy đá mòn.

Hà Nội trong văn Hồ Anh Thái  - ảnh 1 


Hà Nội, con thuyền, phù sa

 

Đôi khi tôi tự hỏi cái ngày Lý Công Uẩn đến vùng bờ bãi phù sa ven sông Hồng, thấy những ráng mây vàng như một con rồng bay vút lên, chính ngày đầu tiên ấy ông đã ngắm con rồng Thăng Long trên mình ngựa hay trên thuyền?

Hình ảnh một con thuyền có lẽ hợp hơn với người đầu tiên đến chọn đất xây dựng nên Thăng Long. Không loại trừ sự tô vẽ của người đời rằng ông ngồi hùng dũng trên một thớt voi hoặc một con ngựa chiến. Nhưng dải đất phù sa nâu đỏ ven dòng sông cũng đỏ đòi người đến khám phá ra nó phải cưỡi trên một con thuyền đè trên đầu sóng. Những hồ nước khắp trên đất Thăng Long cũng muốn rằng người đầu tiên đến đây phải có một con thuyền. Phải là thuyền cơ. Mãi đến thời Hồ Quý Ly, như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh miêu tả, cả vùng Thăng Long vẫn còn mênh mông hồ nước. Phương tiện phổ biến và an toàn vẫn là thuyền. Những con thuyền chập chờn luồn lách trong sương, qua lau sậy, mang chở trên đó bao nhiêu nỗi niềm, cả những mưu đồ bá vương.

Phải là thuyền. Sông dài bãi rộng. Trên bến dưới thuyền. Chài lưới. Canh tác lúa nước. Buôn bán vùng kẻ chợ. Người ấy cảnh ấy kéo dài ra đến một nghìn năm, đến bây giờ. Người bây giờ ngồi mà hình dung cứ tự đoán chắc với mình rằng Lý Công Uẩn ngày đầu đến đây bằng thuyền.

Chắc là thế. Bằng thuyền.

*

Có lần tôi ngồi nghe chuyện nhà văn Tô Hoài, cũng là một nhà Hà Nội học trực nghiệm đáng tin cậy. Nhân chuyện người Hà Nội gốc, ông nói rằng hiếm có lắm, Hà Nội gốc họa chăng chỉ có mấy anh chàng đánh cá ven sông Tô Lịch.

Ừ nhỉ, ngay như nhà văn Tô Hoài đấy thôi. Ông vẫn được coi là một nhà văn hiếm hoi người Hà Nội từ đầu thế kỷ trước còn lại với chúng ta, nhưng mà trước năm 1945 vùng Nghĩa Đô quê ngoại ông hằng đi về vẫn còn thuộc tỉnh Hà Đông. Hà Nội khi ấy chỉ là một mảnh bé xíu của nội thành Hà Nội bây giờ.

Hà Nội gốc bây giờ tạm chấp nhận tiêu chuẩn có ba đời sinh ra ở Hà Nội. Ông nội tôi sinh ra ở đây, cha tôi sinh ra ở nơi đây, tôi nữa cũng sinh ra ở nơi đây. Thế thì tôi là người Hà Nội, cho dù những năm chiến tranh ly tán, cha mẹ tôi có phải bỏ Hà Nội dắt dìu nhau đi kháng chiến chống Pháp, cho dù những năm chống Mỹ có phải bồng bế tôi đi sơ tán về miền quê. Cho dù gốc gác tôi ở Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên, hay từ những tỉnh đồng bằng Bắc bộ không xa. Hay từ những nơi thật xa Nam bộ.

Nghe thế thì hiểu rằng Hà Nội gốc ba đời ở móng chân vẫn còn giắt bùn sông Hồng. Đầu thế kỷ XX vùng phố cổ bây giờ nước sông Hồng vẫn còn mấp mé liếm vào bến đỗ, rồi theo thời gian nước mới dùng dằng rút dần ra xa. Người Hà Nội gốc khi ấy vẫn phải làm nghề chài lưới. Bà buôn vẫn phải lăn xả xuống bến lội bùn lấy hàng lên. Ông đồ ông ký sao cũng có lúc phải lội nước lên thuyền hoặc lội qua bãi sông ngập nước mà về nhà. Hà Nội gốc mà móng chân vẫn giắt bùn là như vậy. Lá ngọc cành vàng, danh gia vọng tộc thật là một huyễn tưởng mong manh.

Thế thì người Hà Nội là những ai? Cũng như mọi thủ đô trên thế giới này thôi. Chưa đến London cứ tưởng người London nói tiếng Anh theo kiểu thủ đô rất chuẩn. Chưa đến Paris cứ tưởng người Paris chỉ toàn người sinh trưởng ở thủ đô hoa lệ. Những đô thị ở nước Mỹ thì khỏi nói, New York, Chicago, San Francisco, Los Angeles... Tất cả đều là những tụ điểm tập hợp dân tứ chiếng hay người tứ xứ cũng vậy. Khó mà tìm ra ở họ một mẫu số chung.

Hà Nội có lẽ cũng vậy thôi. Gốc gác ba đời ít ỏi đã nói ở trên. Đa số người Hà Nội bây giờ là “ngoại kiều”. Những Thanh kiều, Nghệ kiều từ miền Trung ra. Từ Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình lên. Từ phương Nam tập kết đến. Tinh hoa gốc rễ hun đúc ở đây. Tinh hoa từ mọi miền mang đến, giao kết hợp chủng mà tạo nên người Hà Nội. Lâu dần cứ cái gì thanh lịch, hào hoa, cao nhã, tinh tế... thì mặc nhiên đều được coi là của người Hà Nội. Chẳng cần phải rạch ròi phân định “của tôi trả tôi” làm gì.

Người Hà Nội là người sống trên dải đất ven sông Hồng. Người Hà Nội cũng là người Việt đến tận từng phân vuông vậy.

*

Những nơi đô thị như Paris, London, New York là nơi quần cư của người tứ xứ. Tiếng Anh, tiếng Pháp đại trà ở những nơi ấy khó mà coi là khuôn vàng thước ngọc. Hà Nội thì sao? Xu hướng đô thị hóa và quản lý đô thị khá lỏng lẻo mấy chục năm qua cũng đang làm tiếng Hà Nội có phần nào hỗn độn. Như giao thông. Như nếp sống bày bừa làng xã đang biến Hà Nội thành một cái làng có đường phố, sự quá tải về số lượng người không điều tiết sớm, một ngày nào đó người ra vào thành phố hàng ngày cũng bị hạn chế như phải đăng ký xe máy hôm nay vậy.

Còn nhớ đầu những năm 1980 người ta nhận thấy hiện tượng này: những người líu lo “Hà Nội thanh nịch”, “Hà Lội lên thơ” thuộc hai loại: hoặc là dân ngoại thành, hoặc là dân chợ giời. Các chàng các nàng chíp chíp kiu kiu trong vòng bán kính mười lăm kilômét tính từ Bờ Hồ, ban ngày cấy lúa trồng rau trồng hoa, tối đến huỳnh huỵch đạp xe đến vũ trường, cứ dép lê mũ cối mà đăngxinh. Vừa nhảy vừa bô bô một thứ tiếng Hà Nội đố nhau xem đó là nờ cao hay nờ nùn.

Nhưng tại sao lại là dân chợ giời nữa? Đám thanh niên chúng tôi hồi ấy tự giải thích thế này: đa số dân chợ giời cũng từ các miền quê mới đổ đến. Ngay cả dân gốc gác vài đời định cư ở chợ giời cũng quen dần lời ăn tiếng nói kiểu này. Một người khách mang hàng vào chợ là một con mồi. Cả một toán người ùa đến quây con mồi vào giữa, mồm năm miệng mười, mua tranh bán cướp. Những kẻ trả giá dìm giá ấy chỉ là “chân gỗ”, có nhiệm vụ uy hiếp cho con mồi hoang mang nhụt chí. Rốt cục chỉ có một kẻ chủ mưu đứng ra mua giá hời. Đám “chân gỗ” hầu như đều cố tình phạm lỗi phát âm elờ enờ, gây cảm tưởng quê kệch chất phác. Bao nhiêu người đã phát khóc giữa chợ giời vì cái thứ tiếng “hà lội” quê mùa ngớ ngẩn ấy.

Nhưng bây giờ có thể coi là Hà Nội đang tràn ngập cái thứ tiếng mà cách đây vài ba chục năm còn là tiếng ngoại thành, tiếng chợ giời.

Nói như thế không có nghĩa là ca sĩ ngày nay không còn luyện thanh phát âm nhả chữ theo giọng Hà Nội. Tiếng Hà Nội vẫn còn đó. Hồn Việt, tiếng Việt vẫn phải nương vào giọng phát âm Hà Nội để biểu đạt âm thanh ở mức đẹp nhất. Một thứ tiếng trong trẻo, nhẹ nhõm, nhẹ đến mức phạm luật phát âm, người nghe khó phân biệt xờ với sờ, chờ với trờ - “xắt xon chung hiếu”, “chương chình xản xuất”. Nhưng cái nhẹ nhõm khiếm khuyết vẫn được yêu, như người ta yêu cái dịu dàng có phần yếu đuối của thiếu nữ. Các diễn viên thanh nhạc mọi miền khi hát lên vẫn hát bằng tiếng Hà Nội. Hai tiếng Hà Nội phát ra đẹp nhất có lẽ là từ giọng soprano Lê Dung khi chị hát Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương. Sinh thời Lê Dung nói với đồng nghiệp: “Tôi không phải là người Hà Nội, chúng ta đây cũng hiếm có ai gốc Hà Nội, nhưng hai tiếng Hà Nội khi hát lên thì nhất thiết phải sang phải đẹp”.

Đâu phải ai cũng nghĩ được và làm được như vậy. Ca sĩ đằng trong nếu không nỗ lực một cách có ý thức thì phát âm vẫn ngòng ngọng, chơn chớt, như Tây nói tiếng ta, như “Tây Annam nói tiếng Annam”. Khán giả không sành thì lấy làm thích thú cái giọng phát âm ngồ ngộ “như Tây”. Đến lượt một số ca sĩ sinh trưởng Hà Nội có sẵn giọng nói trời cho, ảo vọng ăn khách xui họ cũng nắn tiếng méo giọng theo kiểu ca sĩ Nam hát giọng Bắc. Nghe họ hát mà có cảm giác bị pha tiếng. Sự báng bổ xúc phạm nhất còn không bằng pha tiếng cơ mà.

Còn nữa, có một vị chức sắc lên tivi nói: “Hôm nay tôi hoan nghênh các i-em làm xanh sạch đi-ẹp chi-o thành phố”. Tiếng địa phương mang vào Hà Nội thì tiếng nào cũng nặng, nhưng nghe một nhà quản lý ở Thủ đô “yêu quê hương qua từng âm tiết nhỏ” như thế, lại ưu tư: giá mà điều chỉnh từ cái nho nhỏ như phát âm cho dân dễ nghe hơn? Một chính khách đúng nghĩa còn là một diễn viên, một nhà hùng biện. Nhập gia tùy tục thì đâu có sợ tự làm mất gốc.

Tiếng Hà Nội không ngừng phát triển, như mọi sinh ngữ khác. Tiếng Hà Nội 1954, tiếng Hà Nội 1975. Hai thứ tiếng ấy vào đến phương Nam có bảo tồn đến mấy cũng không trụ vững được trước sức xâm nhập của môi trường và sự phát triển của ngôn ngữ. Lạ. Người Nam bộ tập kết ra Bắc hai mươi mốt năm ít thấy pha tiếng, nhưng người Bắc vào Nam dăm bảy năm tiếng đã cưng cứng khê khê như giọng Thanh. Lạ nữa. Tiếng Hà Nội “54” vào Nam rồi du cư sang Tây sang Mỹ, xa cách thế càng quyết tâm bảo lưu bảo tồn bảo thủ. Đi khỏi Hà Nội 1954, rời khỏi Sài Gòn 1975, ngôn ngữ sống trong lòng đôi ba người như một tiêu bản sống chia rẽ chiến tuyến. Một người phiên dịch trong cộng đồng mở miệng nói: Ngôi nhà này hiện đại nhỉ. Bị chấn chỉnh ngay: Đấy là nói giọng Cộng, phải nói là: Tòa Binđinh tân kỳ nhỉ. Nói sông núi đẹp tươi thì bị chỉnh thành ngôn ngữ của nửa thế kỷ trước: non sông cẩm tú... Cố níu giữ tính chiến tuyến và giai cấp của ngôn ngữ. Còn giọng, nhiều ông bà già Việt Kiều đến bây giờ vẫn còn nói giọng 1954. Nghe lạ. Buồn cười. Quê quê thế nào. Tên cụ là Dư, chắc thế, cứ nhất quyết đòi viết đúng trong văn bản là Rư, phát âm cũng rung bần bật cả lưỡi lên, R-R-R-Ư, ngày xưa nhà cụ ở phố Thợ Ruộm, chứ không phải Thợ Nhuộm. Nhà văn Tô Hoài mỉm cười: Tiếng Hà Nội ngày xưa đấy. Vậy ư? Nhưng tiếng Hà Nội bây giờ khác rồi: tròn, sáng, trong, vang, sang, nhẹ. Lại vẫn nhà văn Tô Hoài: Nhưng hơi điệu.

*

Điệu. Có lẽ vì véo von ngữ điệu. Lại nhẹ nữa. Ô hay nhỉ, tiếng nói càng phát triển lại càng nhẹ nhõm đi, trong khi thời đại thì ngày càng vạm vỡ, xô bồ. Cái ăn Hà Nội trong văn Vũ Bằng, Thạch Lam thanh cảnh tinh tế là vậy, nhưng bây giờ... Đến cả các nàng nói giọng nhẹ nhàng yểu điệu cũng đã có văn hóa ẩm thực khác.

Món ăn Hà Nội thời nay có lẽ cũng là sản phẩm của một thứ “hợp chủng thị”. Đã dậy mùi sặc sỡ như Trung. Đã nhiều gừng nhiều ớt như Nam. Đã nhiều sả như Thái, ngọt như Tàu, gây gây như Ý... Chuyện ở trên, các ca sĩ Hà Nội cố uốn giọng phát âm như ca sĩ Nam hát giọng Bắc. Chuyện ở đây, ẩm thực mọi miền được tiếp thu dễ dàng. Cả hai chuyện đều cho thấy người Hà Nội thật cởi mở, thật dễ tiếp thu những gì ở bên ngoài mình.

Miếng ngon Hà Nội vẫn còn đó. Nhưng đời sống đô thị chuyển vần tốc độ chóng mặt, thức ăn khó mà chỉ dành cho thiểu số người ngâm nga nhấm nháp bên lề dòng chảy. Ăn uống cũng nhanh lên, mạnh lên, hùng hục, quần quật. Nhiều sáng kiến ẩm thực cho phù hợp thế sự. Bát phở thời bao cấp không phải ai cũng có tiền mà ăn mỗi tháng một lần, đến độ trí thức không còn nhớ định nghĩa phở là gì. Vào quán phở chỉ ăn thuần phở thôi cũng đã là một sự kiện. Đôi ba kẻ phe phẩy, giàu có nhờ buôn bán, gọi thêm vào bát phở quả trứng gà chần, thứ nhất để tăng lượng prôtit bổ béo, thứ hai để chứng minh đẳng cấp có tiền. Bát phở đẳng cấp cứ thế mấy chục năm, giờ thành món quen vị quen miệng. Phở trứng. Người sành ăn thì không sao quen được cái thứ phở giàu xổi tanh tanh ấy. Phở không chịu dừng lại, mấy bà bán phở còn sáng kiến thả những viên thịt vào bát phở gà phở bò thành phở tổng hợp, phở mọc. Phở còn đi xa hơn, sang cộng đồng người Việt ở Âu Mỹ. Món ăn Âu ăn Thái vào Việt Nam phải điều chỉnh thế nào cho vừa miệng dân ta thì phở Việt NamParisCali cũng phải biến đổi như thế. Khối lượng cũng phải tăng lên ngồn ngộn trong những cái bát to như cái chậu. Phở ăn nóng cho đến thìa nước dùng cuối cùng là điều không thể thực hiện được trong cái bát phở xe lửa phở tàu bay.

Các chàng các nàng yểu điệu bây giờ ăn rau sống là ăn cả cây húng cây kinh giới um tùm sum suê. Xà lách rau diếp món chính thì ít. Rau thơm ăn hương ăn hoa thì thành món chính rậm rạp. Trong ẩm thực giá trị cũng bị đảo ngược, bị đánh tráo khái niệm như cách lập ngôn trong phê bình văn học thời thượng. Ẩm thực thịt vịt thịt ngan cưỡi lên cả đám giỗ đám cưới. Ban đầu nó được các cô Ôsin giúp việc “thế nào cũng được” hồn nhiên mua bán nấu nướng bày lên. Dần dần nó được các ông bà chủ nhà “để yên xem sao” quen mắt quen miệng. Lâu lâu sau nó được người Hà Nội “nhẹ dạ dễ dãi” chính thức cho gia nhập văn hóa ẩm thực thủ đô.

Nói thế biết thế, nhưng miếng ngon Hà Nội vẫn còn. Trong những người sành, thanh tao. Hiếm lắm. Nhưng hồn cốt văn hóa bao giờ cũng được bảo tồn nhờ một số ít. Dường như vậy.

*

Gia phong trong những nhà số ít ấy giờ đây ngẫm lại thực ra lại mang tính toàn cầu. Trọng trung hiếu lễ nghĩa. Biết lắng nghe người đối thoại, biết đàm phán và biết thuyết phục. Không thuyết phục được thì khôn khéo biết để cho đối tượng ra đi trong danh dự. Ăn thanh tao, mặc thanh lịch, bước đi dáng đứng thanh nhã. Chữ thanh thường làm đầu. Bao giờ xử sự cũng tự nhiên, tự nhiên như người Hà Nội. Thoải mái. Tự tin. Không thích kẻ thu mình. Ăn uống không xô bồ hấp tấp nhưng cũng không cảnh vẻ kiểu cách. Bát cơm bát phở phải ăn bằng hết, không được bỏ thừa một chút làm phép. Chúng tôi ngày ấy được giáo dục bằng chữ thanh, vào đời làm ăn là ổn. Ra nước ngoài bỡ ngỡ chưa biết rõ tập quán địa phương, chỉ việc xử sự như cha ông dạy bảo là hòa nhập tự tin được. Không bị sốc văn hóa. Không bị mặc cảm mình vụng về quê mùa.

Chữ thanh đôi khi hiểu thái quá mà thành ra sáo ra sĩ. Sĩ diện. Thời bao cấp có nhà buôn gian bán lận, cơm gà cá gỏi nhưng rổ rác phải phủ rau lên trên để che xương cá xương gà, sợ hàng xóm dị nghị. Mốt kín đáo. Thời thuộc Pháp thì trái lại, có giai thoại người Hà Nội nghèo, trước khi mang sọt rác ra đổ nơi công cộng lại phải phủ lên trên đôi ba cái vỏ trứng. Ra điều ta không nghèo. Mốt sĩ.

Người bốn phương tụ về, chỉ mượn cái bãi đất sông Hồng mà làm nên Hà Nội. Người ở đâu về đây lâu rồi cũng dần dần ra người dễ chan hòa, khoáng đạt. Trong cả nếp nghĩ. Trong cả nếp sống. Dễ. Thảng hoặc dễ đến mức không kiên quyết bảo vệ điều mình tin. Nhiều khi dễ, gặp cái gì hơi khó là lảng là chuồn. Thật êm. Dễ thì xơi khó thì lặn một hơi. Nam chuồn Hà lủi Thái thì bay. Hà ở đây là chỉ người Hà Nội.

Nhưng dễ bên này dao động sang phía bên kia quả lắc thành ra khó. Người khó thì thật là quyết liệt. Thời tiết khí hậu không ôn hòa bình ổn như phương Nam. Nóng đến điên người mà rét có thể chết người. Cư dân chịu tác động khí hậu ấy địa lý ấy nên cũng không sôi nổi ồn ào dễ dãi như người phương Nam. Cái kiểu tuẫn tiết của người anh hùng miền Trung trong thành Hà Nội là đúng kiểu Hà Nội. Ôm bom ba càng quyết tử cho tổ quốc quyết sinh dường như cũng là cách chết thật là Hà Nội. Chết vì tình cũng phải là kiểu lá ngọc cành vàng, là kiểu chết tương tư Tố Tâm tiểu thuyết. Trong văn chương cái quyết liệt Hà Nội dễ thấy trong khí phách Nguyễn Trãi. Trong chua xót tận cùng Nguyễn Du. Trong cay chua vẻ ngoài khao khát bên trong Hồ Xuân Hương. Những người nhắc tên dường như chứng minh cho một giả thiết dân gian: người Hà Nội thành danh đều phải là kết tinh văn hóa mọi miền; người tứ xứ, người khu Tư khu Năm muốn thành danh đều phải xa quê mà đến với Hà Nội. Như thời nay người muốn làm ăn đều phải quy về đầu mối Sài Gòn. Hà Nội nữa.

*

Tôi có lần ra giữa sông Hồng dự một đám tang đặc biệt. Của một nhà thơ. Đặc biệt. Vì mong muốn cuối cùng của người quá cố là sau khi hỏa táng, di cốt ông được thả xuống sông Hồng. Hình như mong muốn ấy chỉ có ở một con người thật lãng mạn. Tôi chắc là ông cũng đã biết nhiều về Phật giáo, Hindu giáo và văn minh Ấn Độ. Người Ấn từ thượng cổ gắn với những dòng sông lớn. Họ gọi đó là sông thiêng. Sinh ra được rửa tội trong dòng sông thiêng là may mắn lớn. Cả đời người một lần tắm nước sông thiêng là được giải thoát. Chết đi thì tro than nhất thiết phải về với sông. Về với sông tức là về với sông cha đất mẹ.

Chắc là ông nhà thơ đất Việt kia cũng an nghỉ với giấc mơ lần cuối cùng phiêu du trên dòng sông cái màu đỏ. Tôi tuổi tứ tuần vương vấn mãi từ chuyến tiễn đưa trên sông Hồng hôm ấy. Không có ai được dự đám tang mình. Nhưng dường như tôi đang tiễn đưa chính mình trong hành trình cuối cùng. Giống như thế. Con cháu tôi sẽ mang cái bình gốm ấy trên tay ra bờ sông Hồng. Nhúm tro ấy sẽ tan hòa trong dòng nước. Cũng có thể là một con thuyền giấy sẽ chở nhúm tro tàn ấy trôi một quãng sông Hồng. Chiếc thuyền giấy sẽ rơi vào một xoáy nước, bị dìm đắm, kết cục tất nhiên cho bất cứ một con thuyền nào hôm nay vẫn còn thong dong trên sông. Chính ở chỗ chiếc thuyền giấy buông mình đầu hàng số phận, tôi sẽ li ti lắng xuống cho một lớp phù sa sẽ tôn lên thành bờ bãi mới. Cũng có thể vào bụng cá, cá thì cũng lại về với sông cha đất mẹ.

Người mê tín bảo đừng có hỏa táng. Nóng lắm. Gọi hồn không được. Hồn nào về được cũng đều kêu nóng lắm. Chẳng hóa ra niềm tin tâm linh của người Ấn là sai, họ chẳng có một linh hồn nào còn lại từ đống tro tàn hỏa táng hay sao? Chẳng hóa ra những người được mai táng gọi hồn lên không có ai kêu dưới ba thước đất nằm rất lạnh? Bị cả triệu triệu sâu bọ côn trùng quấy nhiễu? Giấc ngủ nghìn thu có cả cá trê bẹp đầu sùng sục xông vào?

Người Hà Nội bây giờ có mê tín hơn xưa? Tiền cho vàng mã khói hương ngày một ngày rằm đã thành một ngăn dành riêng trong vỏ não? Người Hà Nội ấy khó quen với việc rải tro xương xuống sông Hồng. Thì cũng phải dành lại một phần mộ, một chỗ nho nhỏ cho con cháu tưởng nhớ. Như thể không có một nấm đất con con thì đời sau sẽ không còn ký ức. Thì chẳng lẽ lại đem tro đi rải xuống sông, chết là xóa sạch mọi dấu vết? Như thể còn nhìn thấy một tấm bia thì người chết vẫn còn.

Không, người có danh lẫn người vô danh khi đến thế giới này đều chỉ là đứa hài nhi vô danh. Vậy khi ra đi cũng nên vô danh như hài nhi của một vòng đầu thai mới. Cái gì còn lại đều là cái khó nhìn thấy. Chẳng phải cứ tượng đài bia đá là còn.

Tôi lại vẫn nghĩ rằng hành trình cuối cùng của Lý Công Uẩn cũng là trên một con thuyền. Sau đó là dòng sông Hồng. Sau đó là phù sa.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác