Giếng làng

Thấy anh cứ lăm xăm làm hết việc này việc khác, vợ tôi bảo: Bác ở chơi được mấy ngày. Việc nhà em bác cứ để đấy. Ra phố, đi chợ Đầm, chợ Xóm Mới… Thích gì bác cứ nói. Anh cười: Ngồi không tay chân ngứa ngáy, tao không chịu được. Vợ tôi chặc lưỡi: Rõ khổ! Số anh ấy vất vả. Tôi nói, số má gì. Nông dân ai chả vậy. Vợ tôi xì: Cái số nó đày ra như thế, chứ khối ông nông dân còn sướng hơn thành phố.

Ngồi nói chuyện với tôi, anh phân trần: Chú ạ, từ ngày ở bộ đội ra quân đến giờ, gần ba mươi năm, chỉ chúi đầu với đồng ruộng, bám theo đít con trâu. Nay phải đi xin việc làm cho cháu Hùng, rồi cậu Cảnh ở Sài Gòn cưới vợ, anh mới rời làng ra đi. Chà, có đi mới biết ở quê mình nhà ngói sân gạch, thóc đầy hai, ba cót cao đến tận nóc nhà cũng chả là cái đếch gì.

Tôi với anh là bạn "đứng nắng", bạn "đồng hao", bạn "cọc chèo", nghĩa là cùng làm rể một gia đình. Ở nông thôn, rể không phải là khách. Chàng rể phải như "con trâu tốt", biết cày ruộng, cấy hái, có sức khỏe để đập hết cả một sân lúa to cao như quả núi ở nhà bố vợ, biết làm mọi công việc nhà nông. Phận rể với nhau vừa là anh em, vừa là bạn bè, gắn bó như "cột" với "chèo", cùng nhau "đứng nắng" gánh vác việc nhà vợ đến hao gầy đi. Anh đã hơn năm mươi tuổi, là rể cả. Tôi kém anh gần chục tuổi, rể thứ ba. Bố mẹ vợ tôi quê ở Thanh Hóa có năm người con: Ba cô gái là Việt, Hồng, Loan, hai cậu Cảnh, Toàn. Anh rể thứ hai, chồng chị Hồng là công an, từng đi Căm pu chia, về công tác ở Trại giam của Bộ Công an ở Thanh Hóa, bị bệnh mất khi mới sinh đứa con thứ hai được mấy tuần. Thành ra, bạn "đứng nắng" chỉ còn anh với tôi.

Tôi rót rượu mời anh. Rượu nước nhất, men Hoằng Thịnh - Thanh Hóa, tự tay anh nấu. Nước nấu cơm rượu lấy từ giếng làng. Anh đem vào Nha Trang cho tôi năm lít, ngâm với một thang thuốc bắc, chị Việt- vợ anh- cắt ở đông y huyện Hoằng Hóa. Rượu có vị thơm, dịu, cay cay. Uống không bị sốc.

Tôi hỏi: "Thế việc làm của cháu Hùng đến đâu rồi?". Anh lắc đầu: "Chưa đâu vô đâu. Khổ! Nhà có mỗi mụn con trai, như con người ta hết nghĩa vụ quân sự an phận về quê lấy vợ sinh con, thờ cúng tổ tiên ông bà. Nếu thằng Hùng không đi bộ đội có thế hắn cũng vậy. Đằng này hắn nhất quyết không chịu làm ruộng, mà phải thoát ly". Tôi bảo, thời anh khác. Anh không nên bắt cháu như mình. Anh gật: Chú nói phải. Anh cũng nghĩ, cứ cho hắn thoát ly làm ở tỉnh, ở huyện cũng gần nhà, rồi hỏi cho hắn một cô vợ ở làng, sống với anh chị. Nhưng anh xin việc cả năm trời không được. Chỗ hứa hão. Chỗ lại đòi tiền "trà nước" quá cao. Chợt nhớ có mấy người bạn đã lâu không gặp đang công tác ở Hà Nội. Anh liền sai vợ đong một yến gạo nếp, mấy cân lạc…

- Anh thì… - vợ tôi đang nấu cơm liền xen ngang - Vợ chứ có phải "con ở" đâu mà lúc nào cũng bảo "sai vợ"!

Anh sững lại, cười xòa. Tôi cũng cười. Xem ra anh có vẻ khoái cái từ "sai vợ". Nghe cho oách, chứ thực ra khi vợ anh cáu, anh im re!

Uống hết ly rượu, anh kể tiếp: Bạn anh, vốn là đồng đội cũ cùng chiến trường B, la: Bữa sau bác có ra đừng lỉnh kỉnh mang quà quê làm gì cho mệt! Còn cháu Hùng, con anh cũng như con của tụi em, anh để tụi em lo. Rồi xuýt xoa: Chúng nó đứa nào cũng giàu các em ơi! Nhà to. Sống sung sướng lắm! Trước kia chúng là lính của anh. Anh thiếu úy, chúng mới hạ sĩ, trung sĩ… Giá năm bảy lăm, ra quân anh chuyển ngành, hoặc cứ ở trong quân đội làm cái anh y tá quèn giờ lại sướng. Giàu cả quê không bằng ngồi lê thành thị. Anh có vẻ nuối tiếc. Cứ "giá như"…

Tôi an ủi: Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh anh ạ!

Anh ừ! Chú nói phải. Nói đến hoàn cảnh thì anh chịu. Anh lặng đi, buồn hẳn. Mắt nhìn xa xăm. Mái tóc cắt cao, vuốt ngược đã nhiều sợi bạc. Cái miệng rộng hay cười mím lại. Anh là con độc đinh. Thế hệ anh, đi bộ đội chỉ mong kết thúc chiến tranh là về quê lấy vợ. Anh nói, gái quê mình đẹp lắm, chẳng cần tìm đâu xa. Khi ấy chị Việt học sư phạm bảy cộng ba mới ra trường, dạy cấp hai, có một thầy giáo dạy cấp ba trường huyện yêu tha thiết. Gia đình nhà trai đã bỏ trầu ăn hỏi. Thế mà bà mẹ chồng chỉ có một câu, rằng con này xinh thật là xinh, khéo tay, nấu ăn ngon, nhưng phải cái nóng tính, nói năng cứ chan chát. Thế là chị tự ái và bỏ nhau. Nhà anh cách nhà mẹ vợ tôi chỉ mấy cái ao bèo, mấy hàng rào ruối và hoa râm bụt. Ông bà cụ thân sinh đều làm ruộng. Ông còn có thêm nghề thợ mộc, thợ nề. Các cụ hiền lành, phúc hậu, chỉ có hai người con: Anh được đặt tên là Năng, cô em tên Niêu. Năng, Niêu là loại nồi đồng nhỏ gắn liền với bếp núc và cuộc sống người nông dân từ thời còn chế độ phong kiến, dùng để nấu cơm. Năng to hơn Niêu một chút. Hẳn các cụ mong con mình luôn có cuộc sống ấm no. Cô Niêu dạy học cấp một, lấy chồng xa. Việc anh tìm hiểu chị Việt, bố vợ tôi không bằng lòng ngay đâu. Ông là trưởng họ Trần, rất coi trọng nền nếp, gia phong và việc thờ cúng tổ tiên ông bà. Ông bảo, thằng ấy thì được, nhưng nhà con trai một ngại lắm. Ý cụ muốn gả con gái cho gia đình nào có đông anh em để đỡ đần nhau. Độc đinh không khéo bị cụt, nó lấy vợ lẽ hay giấm giúi kiếm con trai ở đâu đó, khổ cho con gái mình. Nhưng anh được cái thế "nhất cự ly". Lại khỏe mạnh, vâm váp. Nói năng, cư xử với mọi người thì cực khéo. Cả họ nhà vợ tôi đều quý anh. Mấy cô, mấy thím nói xa xôi: Con gái gả chồng xa là mất luôn đấy. Gả chồng gần có bát canh cần nó cũng đem cho. Thế là làm đám cưới.

Tôi công tác ở Nha Trang, ra Hà Nội học nghiệp vụ mới quen biết vợ tôi, vừa học xong phổ thông. Lúc ấy anh chị đã có bốn đứa con. Cháu Hùng là trai còn ba cô con gái.

*

Làng Mỹ Đà của anh cách làng tôi một cánh đồng. Cùng một xã mà con gái làng Mỹ Đà rất
Giếng làng  - ảnh 1
Giếng làng (ảnh Internet)
xinh, và dường như cô nào cũng biết hát chèo. Ở nông thôn, cái thời chưa có ti vi, đài bán dẫn cũng còn ít, thì một giọng hát chèo thiếu nữ giữa đêm khuya thanh vắng nghe cứ nôn nao cả người. Các cụ bà nói, làng Mỹ Đà có cái giếng đất ở cánh đồng cuối xóm, thiêng lắm! Giếng do trời sinh, không biết từ bao giờ, hình lòng chảo, rộng bằng nửa cái sân kho hợp tác, nước trong văn vắt, ngọt lịm, quanh bờ giếng cây cỏ, hoa lá xanh tốt. Hoa dành dành cánh hoa dày, trắng muốt, hoa dẻ màu vàng tươi vươn dài ra mặt giếng tỏa hương thơm quyến rũ. Cạnh giếng có một cây đa cành lá sum xuê. Rễ đa sần sùi, gân guốc. Bên gốc đa, có phiến đá to dày bằng phẳng đủ cho hai, ba người ngả lưng nằm nghỉ. Đây là nơi trẻ con chăn trâu, xúc phân, chăn vịt chơi đùa, người nông dân sau buổi cày nghỉ ngơi, mở mo cau ăn chút cơm nắm muối vừng, uống bát chè xanh. Cây đa, giếng nước ấy gắn liền với kỷ niệm của biết bao thế hệ. Gái làng ai cũng ít nhất một lần hái chùm hoa dẻ, hoa dành dành cài lên mái tóc rồi soi khuôn mặt mình xuống làn nước giếng rúc rích cười. Dân làng Mỹ Đà chỉ gánh nước giếng này vào ban ngày. Từ trên bờ giếng cứ theo bậc đá mà bước xuống. Cũng chưa ai đếm được có bao nhiêu bậc đá, chỉ biết rằng các bậc đá dày, bằng phẳng nối nhau xuống tận đáy giếng. Những năm hạn hán, đồng ruộng khô nẻ, nước giếng vơi đi nhìn thấy rõ đá tổ ong dưới làn nước trong vắt, và thấy một con cá chép to bằng bàn tay người lớn lượn lờ bơi. Con cá cũng lạ lắm! Lúc ẩn lúc hiện. Có lúc nó trồi hẳn lên nổi rõ vây, đuôi. Miệng tớp tớp đớp nước. Dưới ánh nắng vẩy trên mình nó lấp lánh như một tấm áo dát bạc. Người ta bảo đó là Cá Thần nên nhiều lần nó sà đến chân người gánh nước cũng không ai dám bắt. Con cá cứ thế lớn dần lên. Dân làng Mỹ Đà chỉ giành nước giếng để nấu ăn và đun nước uống. Buổi tối, ban đêm ít người dám ra giếng. Ngay cả buổi trưa vắng vẻ cũng không ai dám ra giếng gánh nước một mình vì rất dễ gặp ma!? Lại có người quả quyết không phải ma mà các nàng tiên từ trên trời xuống giếng tắm. Khi tắm, xiêm áo các nàng vắt lên các bụi cây dẻ, cây dành dành mỏng mảnh, phất phơ trắng toát, rồi trầm mình xuống nước vung vẩy, khoát nước tung tóe, nô giỡn, cười đùa. Các nàng tắm kỹ lắm, lâu lắm có khi hàng tiếng đồng hồ, hồn nhiên cưỡi trên lưng Cá Thần mà lặn ngụp, cứ nghĩ không ai nhìn thấy. Và từ nơi giếng, thoảng trong hương thơm của hoa dẻ, hoa dành dành nghe như có tiếng hát chèo da diết, mượt mà. Nước giếng đất ấy con gái uống vào cứ phổng phao lên. Gánh nước về nhà tắm, da thịt mịn màng, thơm tho, trắng ngần; mái tóc dài ra, đen mượt, mắt lấp lánh và có giọng hát chèo rất hay! Nhưng nước giếng này chỉ dành cho con gái, mà phải là con gái đang còn trinh non. Trai làng, đàn ông tắm vô được cái khỏe mạnh, còn đầu óc mê muội đi, da thịt đen nhẻm. Đấy là do các nàng tiên yểm thế. Có lẽ vì gái làng Mỹ Đà đẹp nên nhiều chàng trai hàng huyện, hàng tỉnh tìm đến tán tỉnh. Trai làng Mỹ Đà hiền nhưng cục tính, hung lắm. Làng Mỹ Đà lại nằm giữa cánh đồng như một ốc đảo, vô ra chỉ một con đường, hai hàng dừa dày mọc cao vút hai bên. Nhiều chàng trai lần đầu đến lớ ngớ đã bị trai làng ném gạch củ đậy sứt đầu, mẻ trán; xe máy, xe đạp thì vứt chổng kềnh xuống ruộng. Cạch đến già! Tôi thì không, một trong những lý do là có anh bấy giờ là đội trưởng sản xuất của thôn. Mấy thằng đầu têu đều sợ anh.

Quý tôi, anh rỉ tai nói: "Các em thương nhau thì vô nhà ông bà, hoặc sang nhà anh nói chuyện. Đừng đứng đường, đứng bụi…".

Tôi hiểu ý anh. Đứng đường, đứng bụi, hay rủ nhau ngồi bờ ao, bên cây rơm, cây rạ không những dễ bị trai làng ném đá mà còn đồng nghĩa với sự thiếu trong sáng. Có nàng chưa kịp cưới đã ễnh bụng lên đấy thôi! Nhưng trai gái yêu đương mà ngồi mãi trong nhà cũng chán. Nó chẳng thơ mộng chút nào. Hai đứa tôi vẫn đưa nhau đi chơi dưới hàng dừa đêm, trên con đê cao dẫn nước từ nông giang về ruộng, mê mải đến tận giếng trời, lòng đã thầm ước mình được gặp các nàng Tiên!

Ngày vợ chồng tôi cưới, anh căn dặn: "Các em cứ yên tâm học tập, công tác. Việc gia đình bên ngoại đã có anh chị".

Quả thực, anh với tôi là bạn "đứng nắng", nhưng chỉ có anh là phải "đứng nắng". Còn tôi thì ở trong bóng mát.  

Bố đẻ anh mất. Bố vợ cũng mất. Cái đận bố vợ mất, anh thật vất vả. Khi ấy chỉ có anh và vợ tôi ở bệnh viện K71. Anh nghe bố vợ hô: "Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!", và từ từ xỉu đi thì biết ông không thể sống được nữa, liền hối vợ tôi cáng ông về. Nắng chang chang, chân đất, đầu trần, hai anh em cáng bộ hơn mười cây số, vừa cáng vừa khóc, đưa được cụ về đến nhà, chân anh chân em tóe máu, sưng tấy. Chị Hồng và cậu Cảnh đi bộ đội. Tôi học nghiệp vụ xong đưa luôn vợ con vào sống ở Nha Trang. Ở nhà, công việc gia đình vợ tôi anh đều thu xếp. Anh không còn là rể nữa mà như con trai trong nhà.

Một lần tôi về quê, anh bảo: "Chú ạ, mấy năm nay anh chị túng lắm. Đồng lương giáo viên ít ỏi. Anh chị đông con, lại có mẹ già! Anh chị đã bàn tính quyết định xin cho chị nghỉ dạy học để "lấy tiền một cục". Làng đang chia ruộng khoán, mỗi khẩu được một sào ba. Anh tính, chị về làm ruộng, chăn nuôi còn hơn lương giáo viên. Mà phải nghỉ dạy ngay mới kịp được chia ruộng". Vợ chồng tôi đều phản đối. Chị Việt vốn yếu chỉ hợp nghề dạy học, chứ làm ruộng sao nổi. Anh bảo, chị chỉ cần dọn việc nhà, còn làm ruộng đã có anh. Cốt yếu có thêm một sào ba ruộng! Thế là chị Việt nghỉ dạy. Thời gian đầu thấy cũng được. Đâu hay, xã hội phát triển, lương công chức tăng lên, giáo viên còn dạy thêm kiếm được khối tiền. Đau quá!

Bốn đứa con được anh rèn dũa theo cái kiểu của bố anh, một ông thợ mộc, đều ngoan nhưng phải làm nhiều nên ba đứa đầu học hành làng nhàng. Thằng Hùng, anh cho đi bộ đội, "để quân đội rèn dũa cho nên người". Anh bảo, ở bộ đội thằng Hùng đã được "rèn dũa", nhưng để "nên người" còn là chuyện cả đời.

Nói rồi, anh loi lỏm đi kéo vó, úp nơm. Nước lụt. Mưa và rét. Anh mặc áo bông to sụ vẫn run lập cập. Có được con cá ngon, cá to đem biếu mẹ vợ, rồi thì kho, rán, nấu canh đãi tôi.

- Nào, uống đi chú! - Anh nâng ly rượu giục tôi - Đời người ai cũng ít nhất một lần sai lầm! Anh lại có đến hai sai lầm: Hết bộ đội về quê làm ruộng và cho vợ nghỉ dạy học để làm ruộng. Thật tai hại, chú ạ. Mà thôi, ta cụng ly uống mừng cho cậu Cảnh sắp có vợ.

- Dạ, mời anh! Mừng cậu Cảnh sắp có vợ.

Tôi đã uống rượu với không ít người, nhưng cái kiểu uống rượu của anh cũng lạ. Cứ hớp nửa ly một. Khà một tiếng. Rồi lại nửa ly tiếp. Anh bảo, làm cái thằng nông dân thời nào cũng khổ. Cày ruộng mệt, phải có cút rượu cho giãn xương cốt. Nhiều khi nghĩ thấy buồn. So với bạn cùng lứa mình cũng chẳng kém cỏi gì, nhiều đứa trước kia chỉ là bậc em út, vậy mà giờ chúng hơn hẳn mình, giàu có, có chức, có quyền. Tôi nghĩ, phải vì thế mà anh hay uống rượu? Có điều, uống rượu vô anh lại hay nói. Vợ thấy thế thì ghét không cho uống. Mà khi chị vợ tôi la thì nghe đến sốt ruột! Nói cứ chan chát. Lại nói rõ dai. Nên ở nhà anh không dám uống rượu nhiều. Thèm quá thì lẳng lặng sang nhà mẹ vợ, có chai rượu cúng xong để trên bàn thờ, anh cầm ngửa cổ tu một ngụm, rồi lẳng lặng về. Thằng Hùng ngày ở nhà rất hiền lành, nói gì nghe nấy, không biết đến rượu bia, đâu ngờ đi bộ đội mấy năm về, nó uống rượu còn hơn cả anh. Bữa cơm, bố một ly, con cũng một ly. Mặt bố đỏ. Mặt con cũng đỏ. Một bữa, anh bảo nó: Mày uống ít thôi. Nó cũng nói: Bố cũng uống ít thôi. Hai bố con nhìn nhau. Mắt anh gườm gườm. Thằng con sợ, nhưng buồn vì bố chưa xin được việc làm cho mình nên có vẻ chán đời. Chị vợ tôi cáu lên: Bố con nhà ông uống ít thôi! Anh chặc lưỡi: Thì cho mày uống nửa ly nữa. Thằng Hùng cười hì hì: Bố cũng nửa ly nữa thôi đấy nhé!

*

Công việc cho một đám cưới khá bận rộn. Cậu Cảnh vừa là trai trưởng, vừa là trưởng tộc, trong khi cậu Toàn là em đã có vợ và hai con đang ở quê, nên việc cậu Cảnh cưới vợ được cả họ Trần quan tâm. Các cô, chú trong họ đã triệu tập một cuộc họp gia đình. Như trước đây, vợ chồng cậu Cảnh phải có nhiệm vụ "ôm cẳng bàn thờ", trông coi từ đường. Nay các cô chú bảo đứa nào đi ra làm ăn được thì cứ đi, miễn sao đừng quên tổ tiên, ông bà là được. Các cô chú cử anh đại diện họ nhà trai. Nhiệm vụ của anh rất nặng nề. Vợ chồng cậu Cảnh đều làm ăn ở Sài Gòn. Gia đình vợ cậu lại ở thị xã Bến Tre. Anh được cậu em vợ thuê hẳn cho một bộ đồ vét, đi dày đen, đóng bộ vô rất oách. Áo vét cài cúc mà cà vạt cứ để lòng thòng ra ngoài. Tôi dặn anh, khi gặp họ nhà gái, anh nói ít thôi, đừng dông dài như ở quê. Vậy mà khi về Bến Tre, đến nhà cô dâu, anh vẫn nói dài, dây cà dây muống. Cái chất giọng xứ Thanh vốn đã nặng, lại mô, tê, răng, rứa; nhà gái hỏi chuyện, anh cứ hẩy, hẩy, mần răng, cái chi… Lễ ăn hỏi, khi trao tiền, anh nói, đây là tiền nhà trai cho cô dâu. Bà cô bên nhà gái từ trong buồng chạy ra nhắc: Phải nói đây là tiền nạp tài! Đang bữa ăn, anh lại hỏi: Lúa má trong ta có tốt không? Một sào được bao nhiêu yến lúa ạ? Nhà gái cứ ngẩn tò te ra, họ là dân "cày đường nhựa" biết gì. Mâm cỗ có đĩa "cá kho tộ", món ăn đặc sản của Nam bộ, loại cá rô đồng, nhỏ, thơm, béo ngậy. Anh lắc đầu bảo, nấu thế ni không ngon. Ở làng tôi, tôi đánh cá được nhiều lắm. Cá diếc, cá rô to lắm, cá chuối cứ phải bằng cổ chân, om với mẻ và chuối xanh thì ngon cực! Mấy bà dì họ nhà gái nghe thế áy này, khiến vợ tôi phải đá khẽ vào chân anh. Ấy vậy mà trước hội hôn, chú rể phát biểu lúng túng, anh đứng bên cạnh nói thầm, nhắc cho cậu em vợ nói những lời rất hay!

Đám cưới cậu Cảnh xong, anh lăm xăm đi tìm bạn chiến đấu cũ ở Sài Gòn. Anh bảo, mấy chú này đều là lình của anh. Anh thiếu úy, các chú ấy mới binh nhất, binh nhì… Một chú, anh giúp đỡ giới thiệu vào Đảng, một chú anh cứu thoát chết. Anh thuê xe ôm đi gần một ngày. Tối mò anh mới về, thấy thái độ anh lạ lắm! Gặng hỏi mãi anh mới nói: Cái thằng được anh giúp đỡ vào Đảng, thấy anh đến ăn mặc lùi xùi, hắn tiếp không mặn mà. Con chó béc giê to xổ ra, anh suýt bị cắn. Còn cái chú được anh cứu sống thấy anh thì la lên, chạy đến bế anh lên, sai vợ đi lấy bia về nhậu (Anh lại dùng từ "sai vợ"!). Lần ấy chú bị sốt rét lên cơn co giật được anh tiêm cho mấy mũi thuốc mà sống được. Vợ tôi hỏi anh đã ăn cơm nước gì chưa? Rồi! Anh nói. Ăn ngon lắm. Ăn xong, chú ấy dẫn ra phố, nói anh thích gì cứ bảo. Đồ hàng nhiều cái đẹp hoa cả mắt. Anh thích nhiều thứ lắm, nhưng nể bạn anh không dám nói. Cuối cùng, anh chỉ vào một cái kính lão. Kính anh đeo rõ khéo. Hỏi giá, anh hoảng quá "Tính ra gần tạ thóc kia à?". Nhưng bạn anh đã rút tiền và dúi kính vào túi cho anh, gọi là kỷ niệm gặp lại ở Sài Gòn. Anh suýt xoa: Chúng nó giàu quá các em ơi! Ngày xưa chúng là lính của anh… Cái thằng được anh giúp đỡ vào Đảng nhát gan lắm. Đánh trận đầu, vừa nghe tiếng súng địch, nó đã són đái trong quần. Vậy mà không biết làm ăn kiểu gì giờ nó giầu thế! Giá ngày ấy ra quân anh ở lại Sài Gòn… Anh lại "giá như…".

Ở Nha Trang thêm với vợ chồng tôi một tuần, anh chẳng chịu ngồi yên, lúc thì đóng lại mấy cánh cửa đã long mộng, cái trần nhà bị chùng, sửa lại mái tôn che trước hiên nhà. Rồi anh lăm xăm đi chợ mua rau, mua cá về nấu nướng. Anh nấu ăn rất khéo. Món nào cũng ngon. Nhà tôi chật. Căn hộ tập thể chỉ hơn ba mươi mét vuông. Lúc ngủ anh với tôi trải chiếu nằm dưới đất. Anh bảo, chú dì cố gắng vay mượn sửa lại cái nhà. Tôi hỏi, nhà nên làm thế nào hả anh? Anh nói, ở đời có an cư mới lạc  nghiệp. Anh biết chú dì cũng khó khăn nhưng cứ mạnh dạn vay mượn mà làm nhà. Cháo húp quanh, công nợ chả dần, không lo. Làm nhà không làm quá lớn. Chỉ cần lên hai tầng thôi. Muốn có căn nhà đẹp phải tham quan người ta làm trước rồi tổng hợp, rút kinh nghiệm cho đỡ tốn kém. Việc làm nhà yêu cầu phải đẹp. Hình thức phải vui mắt, phải xinh xắn, sinh hoạt phải thuận tiện để sau này không phải sửa sang. Nhớ lần sau anh vô, chú dì phải có nhà mới đấy.

Còn việc cháu Hùng, anh nói: Anh mới gọi điện cho bạn ở Hà Nội. Bạn anh nói đúng. Xin việc tay ngang khó lắm. Vì thế anh chị đang chạy cho cháu đi học nghề đông y. Nó là con độc đinh. Không cho nó học hành, không có được một cái nghề tử tế cũng tội lắm. Thi đại học thì không được rồi. Chỉ còn trung cấp, thi chiếu lệ, rồi nộp tiền mà học. Mấy anh bạn ở Hà Nội nhiệt tình lắm. Anh tính, cháu học xong, anh xin về trạm y tế xã hoặc đông y huyện, ăn cơm nhà, vợ cũng ở nhà. Thế là được cả đôi đường.

*

Mẹ vợ tôi mất đã được bốn năm.

Ngày sang mộ, anh em con cháu về đủ cả. Họ Trần là họ lớn trong làng. Mẹ vợ tôi là dâu trưởng, cả đời sống hiền lành, nhân hậu nên bà con lối xóm, chị em ai cũng đến thắp hương cho bà. Nhà mổ lợn, làm cỗ tiếp khách. Anh được các cụ phân công lo việc hậu cần. Suốt ngày anh ngồi ở bếp chặt thái thịt, xếp mâm cỗ. Miệng nói tay làm. Anh cắt cử công việc, đốc thúc đứa này đứa kia. Tôi thấy chai rượu kè kè bên chỗ anh ngồi, chốc chốc anh lại ngửa cổ tu một ngụm. Biết tôi khoái món lòng lợn, tiết canh, anh để riêng cho tôi một bát.

Thằng Hùng có giấy báo trúng tuyển vào khóa trung cấp y học dân tộc ở Hà Nội. Vợ tôi, vợ anh kéo nó xuống nhà ngang dặn dò, động viên, kể cả đe nẹt để mong sao nó học hành đến nơi đến chốn. Mặt hắn cứ tỉnh lụi, ừ hử, vâng, dạ nhưng mắt hắn thì nhớn nhác nhìn ra ngõ. Thì ra bạn gái nó rất nhiều. Nhìn bạn gái nó tôi cứ ngẩn ngơ cả người. Không biết con cái nhà ai mà nhiều đứa xinh thế! Mấy hôm rồi các bạn gái đã đến chia tay, tặng nhiều quà. Anh hỏi, mày có yêu nó hay không mà nhận quà? Nó nói, bố mẹ đang khó khăn. Bạn gái cho cái gì đỡ bố mẹ cái ấy. Còn có lấy nhau không là chuyện khác. Xem ra nó "tỉnh đòn" hơn anh. Vợ anh cười. Còn anh thì cứ hừm hừm. Thằng Hùng, hậu sinh khả úy, đúng là nó tirnh đòn hơn anh. Hôm anh dẫn nó ra Hà Nội đi thi, ở nhờ mấy người bạn đồng đội cũ, giờ làm to, có chức có quyền. Con gái bạn anh thấy thằng Hùng cao lớn, hào hoa thì thích lắm! Phải tội các nàng hơi xấu. Thằng Hùng cứ lấp lửng với bố, giờ con trai tìm vợ thường nhằm vào các ông to, các ông ấy lo việc cho mình, thậm chí lo cả nhà ở, ấm thân. Gái làng mình có nhiều cô xinh thật đấy nhưng vợ đẹp mà chẳng mài ra ăn được. Ý chừng nó muốn ở Hà Nội rồi. Anh thở dài…

Nhắc lại chuyện gái làng Mỹ Đà đẹp, tôi chợt nhớ chuyện các cụ ngày xưa. Một chút tò mò, buổi trưa tôi lặng lẽ theo mấy cô gái đi gánh nước ra cái giếng đất giữa cánh đồng. Cây đa vẫn còn đó già nua trơ trụi lá, nhánh cành khẳng khiu. Quanh bờ giếng, hoa dành dành, hoa dẻ chỉ còn lơ thơ mấy khóm nhỏ. Tôi bước theo bậc đá xuống sát mép nước. Nước vẫn trong xanh, mặt tôi hốc hác, đầy râu ria. Vậy mà vợ anh, vợ tôi cũng như bao gái làng đã uống nước giếng này mà trở nên xinh đẹp và có giọng hát chèo say đắm lòng người. Tiếng hát chèo ấy đã theo vợ tôi vào Nha Trang, đến giờ đôi lúc nàng vẫn hát. Ấy là lúc nàng vui hoặc nhớ về quê. Chuyện mới kể rằng, cách đây không lâu, buổi trưa có một bà già trong làng ra giếng này gánh nước, chợt thấy con cá chép sà đến quấn lấy chân mình. Bà bắt cá đem về làm thịt bỏ vào chảo mỡ rán lên. Bữa cơm, mở nắp vung để gắp cá bà chợt bàng hoàng. Trong lòng chảo chỉ còn bộ xương hình con cá còn thịt, vây, vảy biến đi đâu hết. Người ta bảo Cá Thần đã hóa kiếp theo các nàng Tiên về trời. Bà hoảng sợ liền sắm lễ vật mời thầy cúng về đưa đồ lễ ra giếng đặt dưới gốc cây đa khấn vái suốt một đêm. Dân làng đi coi đông lắm. Cũng từ đó không thấy các nàng tiên xuống tắm giếng của làng nữa. Các nàng tiên đã tìm đến giếng đất khác để tắm rồi! Hỏi, giếng các nàng tiên tắm ở đâu? Chưa biết, nghe đâu các nàng tắm không cố định một nơi, vì thế độ này khắp cả huyện Hoằng Hóa nổi lên nhiều cô gái thật đẹp và có giọng hát chèo rất hay. Các nàng tiên tắm ở đâu mang theo nhan sắc, hương thơm và giọng hát chèo cho con gái nơi ấy. Tự nhiên tôi thấy tiếc, tôi thấy tin ở nơi giếng này có các nàng tiên tắm. Các nàng đi về trời bằng chính con Cá Chép Thần kia. Nay Cá Thần không còn, biết làm thế nào để các nàng tiên trở lại? Phải vì thế mà trong vòng dăm bảy năm trở lại đây, so với lứa của vợ anh, vợ tôi, con gái làng Mỹ Đà không còn thật xinh nữa? Bần thần, tôi nhìn quanh cố tìm lại chút hình bóng, dấu vết của các nàng tiên, nhưng tìm mãi không thấy. Tôi cúi xuống định vốc nước uống một ngụm, chợt giật mình dừng lại. Nhớ câu trai uống hoặc tắm nước giếng này thì vất vả lắm. Anh cũng như bao trai làng đã uống nước giếng này, nhưng không biết đã có lần nào anh tắm nước giếng này chưa? Hốt hoảng, tôi vội bước lên bờ đi như chạy về nhà…

Anh vẫn đang nói về thằng Hùng. Cháu Hùng có thể học xong nó lại về quê. Nhưng nếu nó xin được việc làm ở đâu đó anh cũng đồng ý. Không lẽ vì độc đinh mà bắt cháu như bố. Rồi anh hăng hái hẳn lên. Độ này anh làm gạch kinh doanh, thuê máy chạy được năm vạn rưởi rồi. Ruộng cấy sáu sào, đủ lo cho cả nhà ăn, vẫn còn dư học phí cho cháu Hùng. Chăn nuôi lợn mỗi năm cũng gần tấn thóc. Ở nông thôn như thế là được. Nhìn lên không bằng ai nhưng nhìn xuống nhiều kẻ chạy còn mệt. Chẳng bận đầu óc. Xong việc khểnh cẳng nằm. Sướng! - anh cười. Chợt nhận ra tôi có vẻ hoảng hốt. Anh hỏi: Chú đi đâu về đấy? Tôi thật thà: Em ra giếng ngoài đồng. Anh lắc đầu: Chuyện Cá Chép Thần phải không? Chú lại mê tín rồi! Thôi nghỉ đi, để anh đi kiếm mấy con rô đồng về rán anh em mình uống rượu. Nói rồi anh xách nơm, vác vó lên vai. Bóng anh cùng với bước đi lăm xăm mới đó đã khuất sau khóm tre đầu ngõ.

Bạch Lê Vân Nguyên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác