“Giải Nobel Văn học 2012 cho Mạc Ngôn là xứng đáng”


(Toquoc)- Giải Nobel trao cho tác phẩm văn học nào mang tính nhân văn sâu sắc bất kể tác giả của nó thuộc quốc tịch nào, viết bằng ngôn ngữ nào.

Trần Đình Hiến là dịch giả đầu tiên đưa Mạc Ngôn đến với người đọc Việt Nam qua các tác phẩm nổi tiếng như: Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ…Khi giải thưởng Nobel Văn học 2012 xướng tên mạc Mạc Ngôn, dịch giả Trần Đình Hiến chia sẻ, ông không ngạc nhiên vì ông tin rằng chẳng chóng thì chầy Mạc Ngôn sẽ được giải thưởng cao quí này. Vì vậy năm 2001, khi Nhà  xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Văn học Hà Nội cho ra mắt bản dịch truyện dài “Báu vật của đời”, ông đã trích dẫn câu nói của nhà văn Ôe Kenzabako- nhà văn Nhật Bản được giải Nobel văn học năm 1994: “Ở Trung Quốc người có hy vọng đoạt giải Nobel là Mạc Ngôn”. Trước nhiều luồng ý kiến về giải thưởng Nobel Văn học 2012 được trao cho Mạc Ngôn, dịch giả Trần Đình Hiến đã chia sẻ với phóng viên báo Điện tử Tổ Quốc về quan điểm của mình.

“Giải Nobel Văn học 2012 cho Mạc Ngôn là xứng đáng” - ảnh 1

 

Dịch giả Trần Đình Hiến: "Văn học, trước hết là viết về số phận con người, nhất là số phận những con người yếu thế, dễ bị tổn thương. Tôi cho là với hàng loạt tác phẩm đạt tiêu chí trên, Mạc Ngôn xứng đáng với giải Nobel văn học."


+ Nhiều giải Nobel Văn học đã được trao nhưng có vẻ như giải thưởng năm nay có nhiều ý kiến trái chiều hơn cả. Là người am hiểu văn Mạc Ngôn, ông có chia sẻ gì về điều đó?

- Xin nhắc lại nhận xét của Hội đồng xét giải Nobel về ba tác phẩm được coi là cơ sở để trao giải “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo hòa trộn vào những câu chuyện dân gian, lịch sử và hiện thực đương đại”. Tôi xin nói thêm: Thủ pháp hiện thực huyền ảo mang nội hàm văn hóa Trung Hoa của Mạc Ngôn khiến ông không giống Marquez với thủ pháp hiện thực huyền ảo Mỹ La tinh. Ông cũng không giống bất cứ nhà văn nào của Trung Quốc. Theo tôi, chính sự ”không giống ai” nói trên nên có ý kiến trái chiều là đương nhiên. Nhưng mặt khác, ông lại lag nhà văn Trung Quốc được đọc nhiều nhất cả ở Trung Quốc lẫn quốc tế. Chắc chắn phải hấp dẫn người ta mới đọc, mà đọc say mê đến nỗi trở thành “hiện tượng Mạc Ngôn” rồi sau đó trở thành “cơn sốt Mạc Ngôn” thì không phải đọc chơi cho vui rồi. Ở Việt Nam cũng vậy, bản dịch Báu vật của đời ra mắt năm 2001 cũng tạo nên “cơn sốt Mạc Ngôn” ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và sau đó lan rộng ra cả nước.

Môt số người quan niệm rằng, giải Nobel văn học phải trao cho loại văn chương bác học với những tư tưởng cao siêu, những triết thuyết mới lạ, còn loại văn chương bình dân thì không thể. Nói vậy là chưa hiểu đầy đủ về giải Nobel. Giải Nobel trao cho tác phẩm văn học nào mang tính nhân văn sâu sắc bất kể tác giả cuả nó thuộc quốc tịch nào, viết bằng ngôn ngữ nào. Người ta bảo giải Nobel không có quốc tịch là vì thế. Tác phẩm nào vô cảm hoặc chống lại quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do của con người thì không thể được trao giải Nobel.

Ba tác phẩm: Báu vật của đời, Cao lương đỏ Cây tỏi nổi giận bằng lối văn kể chuyện với thủ pháp hiện thực huyền ảo, đáp ứng được tiêu chí trên. Trước khi trao giải, ba tác phẩm này không hề có ý kiến trái chiều. Vậy mà khi được giải Nobel, ý kiến trái chiều đã nổ ra, có lẽ vì những nguyên nhân nói trên?

+ Bên cạnh những vui mừng của người dân quê hương Mạc Ngôn, thì một số nhà văn Trung Quốc lại không tán đồng giải thưởng này, thậm chí có ý kiến cho rằng quê hương Mạc Ngôn mua giải. Ông có suy nghĩ gì về việc này?

- Không phải “một số nhà văn Trung Quốc”, mà chỉ một số rất ít, thậm chí lộ diện chỉ có hai nhà văn mà tôi không tiện nêu tên. Tôi xin khẳng định lần nữa, tiêu chí của giải Nobel Văn học là chủ nghĩa nhân văn, nhà văn nào phản ánh xuất sắc điều đó thì họ trao giải. Không có lý do chính trị, càng không có chuyện “chạy giải thưởng” với giải Nobel.

Bản thân tôi đã theo dõi tất cả các buổi phát thanh bằng tiếng Trung trên thế giới thì không thấy có phản biện hay dư luận trái chiều về giải thưởng được trao cho Mạc Ngôn.

+ Vậy theo ông, giải thưởng Nobel Văn học trao cho Mạc Ngôn là xứng đáng?

- Đúng vậy! Mạc Ngôn được trao giải thưởng theo tôi là rất xứng đáng. Tôi tán thành quan điểm của Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận xét về Mạc Ngôn: “Mạc Ngôn là nhà văn của nông dân, viết về nông dân, phản ánh cuộc đấu tranh dữ dội, ác liệt ở quê ông để giành quyền sống, mặc dù đôi khi  giành được đôi chút thắng lợi nhưng họ đã mất gần hết cuộc đời của mình”.

Bản thân tôi rất tán thành nhận xét này, bởi văn học, trước hết là viết về số phận con người, nhất là số phận những con người yếu thế, dễ bị tổn thương. Tất nhiên, viết hay thì phải có tài. Vì văn học phản ánh hiện thực bằng hình tượng văn học chứ không bằng báo cáo điều tra xã hội học. Tôi cho là với hàng loạt tác phẩm đạt tiêu chí trên, Mạc Ngôn xứng đáng với giải Nobel văn học.

Còn văn chương thế nào là bác học, thế nào là bình dân thì chỉ là phong cách, thủ pháp. Cái cốt lõi của văn chương là nói lên cái gì, phản ánh như thế nào, đứng về phía ai trong cuộc sống.

“Giải Nobel Văn học 2012 cho Mạc Ngôn là xứng đáng” - ảnh 2

Nhà văn Mạc Ngôn

+ Ông có thể nói rõ hơn về phong cách của Mạc Ngôn?

- Mạc Ngôn về cơ bản theo chủ nghĩa “tầm căn” như Giả Bình Ao, nhưng màu sắc hiện thực sâu đậm. Năm 2005, trường đại học Công Khai - một trường Đại học nổi tiếng ở Hồng Kông, tặng học vị Tiến sĩ cho Mạc Ngôn, ông phát biểu: “Nếu vì tôi nói thật mà tặng học vị Tiến sĩ thì tôi xin nhận”.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên BBC tiếng Trung, Mạc Ngôn hé lộ thủ pháp: Có thể tự do viết về đề tài lịch sử không? Không thể. Có thể tự do viết về cuộc chiến tranh giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc không? Không thể. Có thể tự do viết về cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc không? Cũng không thể. Vì sao? Vì những vấn đề lịch sử ấy đã được sách giáo khoa chốt lại rồi: Không là đỏ (tốt,cách mạng) thì là trắng(xấu, phản động). Vậy thôi. Vì vậy, tôi thấy viết về hiện thực trước mắt dễ hơn viết về lịch sử. Mà hiện thực trước mắt thì bao nhiêu là chuyện. Tôi viết những gì giữa đỏ và trắng, những gì mà cả hai bên đỏ và trắng đều không khó chịu.

Kinh nghiệm này đáng để chúng ta suy ngẫm.

+ Ông có ý định tiếp tục dịch Mạc Ngôn?

-Tôi theo đuổi Mạc Ngôn từ khi ông nổi tiếng với biệt danh “Mạc Ngôn tam hồng”:Củ cà rốt trong suốt, Cao lương đỏ, Rừng xanh lá đỏ) cho đến nay. Năm 1995, khi Báu vật của đời được giải thưởng lớn của Hội Nhà văn Trung Quốc, bùng nổ “cơn sốt Mạc Ngôn”  thì tôi dịch Báu vật của đời (2001), Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận (2003), Rừng xánh lá đỏ, Tửu quốc, 41 chuyện tầm phào (2004). Tất cả đều trước khi ta ký công ước Bern về bản quyền tác giả. Tôi cũng rất vui, vì trong 3 cuốn làm cơ sở trao giải thì tôi dịch 2 cuốn: Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận.

Khi tôi bắt đầu dịch, Mạc Ngôn đã có gần 200 tác phẩm rồi. Từ đó đến nay, có thêm gần 100 tác phẩm nữa, nhưng tôi không dịch tiếp, theo tôi, dịch sáu tác phẩm tiêu biểu là đủ.

Nếu cần nói thêm một chút thì tôi xin lưu ý độc giả Việt Nam về tình trạng 3 cuốn được làm cơ sở trao giải nobel như sau:

1) Bản tiếng Việt “Cao lương đỏ” hiện lưu hành ở Việt Nam là dịch từ truyện vừa “Cao lương đỏ”. Truyện vừa này sau phát triển thành truyện dài “Dòng họ cao lương đỏ”, là một trong ba cuốn được dùng làm cơ sở trao giải Nobel. Vì vậy nên tổ chức dịch và phát hành cuốn này mới trọn bộ sách được giải.

2) Về cuốn “Báu vật của đời” hiện  đang lưu hành ở Việt Nam cũng cần dịch lại, vì sau khi lưu hành sáu năm (1995 - 2001) Mạc Ngôn đã dành trọn một năm để sửa chữa theo tinh thần nâng cấp giá trị tác phẩm cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật, giản lược rất nhiều chi tiết thừa không phục vụ cho chủ đề, đưa vào sách 24 tranh minh họa đặc sắc... Tháng 9 năm 2003, cuốn “Báu vật của đời” đã sửa chữa đó, Mạc Ngôn gọi là bản thảo chính thức, in lần thứ nhất tại Nhà xuất bản Công nhân Trung Quốc. Mạc Ngôn tuyên bố: “Tôi đã viết nhiều tiểu thuyết, nhưng nếu ai muốn hiểu con người tôi, thì xin đọc ở “Báu vật của đời”.

3) Về cuốn “Đàn hương hình” cũng cần bổ sung phần hình phạt đã bị lược bớt ở Chương “Kiệt tác”, cũng nhằm hoàn chỉnh một kiệt tác văn chương của giải Nobel.

Ba cuốn sách trên hình thành bộ khung của giải Nobel văn học, nên về nội dung cũng như hình hài nên xứng với giá trị mà chúng được hưởng từ giải thưởng danh giá này.

+ Xin cám ơn ông về cuộc trò chuyện!

Dịch giả Trần Đình Hiến sinh năm 1933, từng dạy Trung văn ở trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, nghiên cứu sinh Hán ngữ cổ đại tại trường đại học tổng hợp Bắc Kinh, cán bộ nghiên cứu vụ Á châu 1- Bộ Ngoại giao, công tác tại Sứ Quán Việt Nam tại Bắc Kinh, Trung Quốc. “Báu vật của đời” do Trần Đình Hiến dịch được Nhà Xuất bản Công Nhân Trung Quốc in trên bìa 4, đánh giá là 1 trong ba bản dịch hay nhất thế giới cùng với bản dịch tiếng Nhật và tiếng Ý khi Nhà xuất bản này tái bản cuốn sách vào tháng 9 năm 2003.

 Hồng Hà (thực hiện)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác