GẶP GỠ THÁNG TƯ


(Toquoc)- "Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75" của nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh vừa được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật ấn hành và ra mắt bạn đọc đúng dịp 30 tháng 4. "Đường tới thành phố" của nhà thơ Hữu Thỉnh đã nổi tiếng từ năm 1979. Nhà văn Thái Bá Lợi trở nên tên tuổi với "Hai người trở lại trung đoàn". Tác phẩm của họ, dù xuất hiện khác nhau về thời điểm, thuộc về quá khứ nhưng không cũ với hiện tại và chắc rằng cũng sẽ còn mới mẻ với tương lai.

Xin trích đăng lại một phần Trường ca của nhà thơ Hữu Thỉnh, phỏng vấn nhà văn Thái Bá Lợi với "Hai người trở lại trung đoàn" và cảm nhận của nhà báo Đoàn Quang về "Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75" của nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh.

Báo điện tử Tổ Quốc

 

"BIÊN BẢN CHIẾN TRANH 1-2-3-4.75"

ĐOÀN QUANG
 

Đúng dịp kỷ niệm 39 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2014), Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Sự thật giới thiệu với bạn đọc cuốn “BIÊN BẢN CHIẾN TRANH 1-2-3-4.75”.

Cuốn sách như một biên niên sử sống động về những giờ phút sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa (Chính quyền Sài Gòn) do nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh ấp ủ thực hiện ra đời sau gần 40 năm, kể từ giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc Lập mà ông may mắn được chứng kiến và viết bài tường thuật đầu tiên của giới báo chí Việt Nam về những giờ phút lịch sử trọng đại của dân tộc.

Cuốn sách dầy gần 500 trang, gồm 19 chương: 1- Lễ giáng sinh cuối cùng. 2- Sài Gòn nơm nớp đón Tết Ất Mão. 3- Nước cờ định mệnh. 4- “Trên bốn phương trời đi tìm sự thật” . 5- “Chương bi thảm nhất của chiến tranh” . 6- “Người Mỹ nghĩ gì đây”. 7- Huế ngợp thở. 8- Thiệu lên gân trong cô độc sợ hãi. 9- Đà Nẵng điên loạn và sụp đổ. 10- Nha Trang tắt thở. Quân đoàn II bị xoá sổ. 11- Sài Gòn bên bờ sụp đổ. Cuộc đấu với Uây-en. 12- Cuộc phòng thủ sinh tử. 13- Chính quyền bán đấu giá. 14- Thiệu như ngọn đèn trước gió. 15- Giờ tận số đã điểm. 16- Thiệu cuốn gói. 17- Sức kháng cự cuối cùng bị nghiền nát. Sài Gòn trống rỗng về chính trị. 18- Chiếc trực thăng cuối cùng. 19- Phút tắt thở của Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và chính thể Việt Nam Cộng hòa. Cuối mỗi chương ghi chú rõ những tài liệu nguyên bản, bút tích và nguồn tài liệu đáng tin cậy giúp tác giả dựng nên chương sách đó.

Từng là phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã Việt Nam ở Chiến trường miền Nam, đầu năm 1975 tác giả được cử tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với nhiệm vụ là đặc phái viên Thông tấn xã Việt Nam đi trong đoàn do đích thân Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam khi đó dẫn đầu… Bám sát các binh đoàn chủ lực, tác giả đã theo các đoàn quân tiến vào giải phóng hầu hết các thành phố, thị xã suốt từ Huế tới Sài Gòn và may mắn có mặt, chứng kiến những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập. Những tài liệu nguyên bản thu được, những trang ghi chép tại trận trong quá trình tham gia chiến dịch và trong những ngày tháng đầu Sài Gòn giải phóng, những tư liệu quý giá từ phía chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn tác giả may mắn thu thập được, may mắn được các cơ quan có thẩm quyền trong và ngoài quân đội cho phép tiếp xúc, khai thác đã giúp tác giả trong nhiều năm lao động xây dựng nên cuốn sách.

Tiểu thuyết tư liệu lịch sử “BIÊN BẢN CHIẾN TRANH 1-2-3-4.75” được xây dựng trên những nguồn tài liệu sau:

- Lời khai cùng những bản tường trình về những diễn biến chi tiết trong qúa trình diễn ra sự sụp đổ tại các tuyến phòng thủ, tại các địa bàn chiến lược và những ngày cuối cùng tại Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn của nhiều tướng lĩnh quân đội Sài Gòn ở cả bốn vùng chiến thuật, thuộc các quân binh chủng bị bắt tại trận hoặc sau ngày giải phóng ra trình diện chính quyền Cách mạng.

- Những tài liệu nguyên bản của phía bên kia gồm: Các thư từ, điện văn của Tổng thống Mỹ Ních-xơn và G. Pho gửi Nguyễn Văn Thiệu và trả lời của Thiệu; biên bản một số cuộc họp "Hội đồng an ninh quốc gia" của Thiệu; văn bản đệ trình của Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, các báo cáo phân tích tình báo, điện chỉ huy tác chiến của Thiệu và Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn trong toàn bộ quá trình diễn ra sự sụp đổ; phúc trình của tướng lĩnh các quân đoàn, sư đoàn, các tướng lĩnh thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn nộp cho Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên, Đại tướng, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa trình bày về diễn biến sụp đổ và trách nhiệm cá nhân sau khi thất thủ tại các mặt trận và để mất các tỉnh thuộc Quân khu I, Quân khu II và Quân khu III.

- Lời tự thú qua hồi ký và trả lời phỏng vấn của nhiều nhân vật từng giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy quân sự và dân sự của chính quyền Sài Gòn cùng các cố vấn gần gũi, thân cận nhất với Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt NamCộng hoà, sau ngày giải phóng chạy ra sống ở nước ngoài.

- Cuộc phỏng vấn do Viện nghiên cứu chiến lược RAND (Hoa Kỳ) thực hiện đối với 27 nhân vật từng là lãnh đạo chủ chốt của giới quân sự và dân sự chính quyền Sài Gòn sau giải phóng chạy ra sống ở nước ngoài, trong đó có Nguyễn Cao Kỳ cùng 14 cấp tướng và các cố vấn của Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng về tình hình nội bộ và những diễn biến chi tiết trong quá trình sụp đổ. Những tài liệu do Trung tâm lịch sử quân sự lục quân Hoa Kỳ tổ chức tổng kết, biên soạn, xuất bản phân tích về nguyên nhân cũng như những diễn biến chi tiết sự sụp đổ của quân đội Sài Gòn tại các mặt trận, các tuyến phòng thủ, các quân đoàn, sư đoàn.

- Báo, tạp chí ở Mỹ, các nước phương tây, báo Sài Gòn, tin tức trên đài Sài Gòn ( được ghi âm) và các tài liệu tham khảo đặc biệt được lưu giữ tại Trung tâm Thông tin - Tư liệu Thông tấn xã Việt Nam về diễn biến trên chính trường Sài Gòn những ngày diễn ra sự sụp đổ, cùng tài liệu tác giả thu thập được trong qúa trình tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

 

 GẶP GỠ THÁNG TƯ - ảnh 1GẶP GỠ THÁNG TƯ - ảnh 2

Bìa cuốn sách

Trên cơ sở những tài liệu nguyên bản, những tư liệu, sự kiện, sự việc có tính xác thực từ phía bên kia được dựng lại xuyên suốt và hệ thống, với một cái nhìn điềm tĩnh, khách quan, không thiên kiến, không chen bất cứ bình luận, nhận xét cá nhân nào của tác giả, với độ lùi gần 40 năm sau khi chiến tranh kết thúc, có thể nói "BIÊN BẢN CHIẾN TRANH 1-2-3-4.75” là bức phác thảo toàn cục và chi tiết về toàn bộ quá trình diễn ra sự sụp đổ cùng chân dung của hầu hết tướng lĩnh quân đội Sài Gòn và số phận những người cầm đầu chính thể Sài Gòn trong bốn tháng cuối cùng của chiến tranh: Tháng 1, 2, 3 , 4/1975 (từ chiến thắng Phước Long - 1/1975 của Quân giải phóng tới những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập). Một cuốn sách được xây dựng kỳ công trên cơ sở chắt lọc từ khối luợng tài liệu đồ sộ quý giá, rất đáng tìm đọc, lưu giữ. Nó lộ sáng những sự thật lịch sử về một chính quyền bị xé rách cùng số phận bao gương mặt một thời trên sân khẩu chính trị Sài Gòn trong một tương phản đầy quy mô giữa thắng và bại. Mọi sự - cái đã xảy ra trong quá khứcủa phía bên kia - chính thể Việt Nam cộng hòa và quân đội Sài Gòn cùng phản ứng của Hoa Kỳ trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy như vũ bão của quân và dân ta trong Mùa Xuân lịch sử 1975 được phơi bày dồn nén trong hoàn cảnh và thời khắc điển hình mang tính quyết định của chiến tranh, với những chứng cứ không dễ bác bỏ. Nó làm nổi bật chiến thắng vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, mà nổi bật và có ý nghĩa quyết định nhất là sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng ta. Nó bác bỏ luận điệu sai trái của những kẻ muốn xuyên tạc lịch sử hòng bào chữa cho thất bại và mưu toan hạ thấp chiến thắng của dân tộc ta. Cuốn sách ra đời sau gần 40 năm chiến tranh kết thúc, Việt Nam và Hoa Kỳ đã vượt qua ranh giới cựu thù, đã bình thường hóa quan hệ, trở thành đối tác toàn diện của nhau.

Gần bốn thập kỷ trôi qua, nhưng những hồi ức về cuộc chiến tranh vẫn chưa phai nhạt trong lòng người dân Việt Nam cũng như người dân Mỹ. Thời gian ngày càng lùi xa thì diễn biến những sự kiện lịch sử ngày ấy càng được sàng lọc, kiểm nghiệm và thông điệp của nó gửi lại cho chúng ta hôm nay càng sâu sắc hơn. Trên tinh thần đó, có thể nói “BIÊN BẢN CHIẾN TRANH 1-2-3-4.75” là cuốn sách chờ đợi của những ai quan tâm tới cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đặc biệt những người từng sống ở Sài Gòn, từng sống dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa trước 30/4/1975 ./.

*

*           *

Cùng với Lời giới thiệu trân trọng của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, là lời bạt có tựa đề "Cảm nhận từ bản thảo" của nhà báo - nhà thơ Mai Linh với tư cách là độc giả đầu tiên tiếp xúc với tác phẩm khi còn là bản thảo.  


CẢM NHẬN TỪ BẢN THẢO

 

Cuốn sách này sẽ không có người đọc nếu không hiểu một câu bất hủ của một học giả người Italia - Benedetto Croce "Tất cả lịch sử là lịch sử đương đại".

Tức là lịch sử - cái đã đi qua - song hành với thời đại chúng ta. Là cơm ăn, nước uống tinh thần thời chúng ta đang sống. Lịch sử, theo định nghĩa của một triết gia "là một câu chuyện nói chúng ta là ai".

Vì thế, lịch sử không bao giờ cũ.

Nếu có giá trị để tìm về sự thật, lịch sử càng cũ càng mới.

Vô giá là đồ cổ...

*

*           *

Tác giả Trần Mai Hạnh viết về thân phận của một thể - chế - thất - thế, thân phận những cá nhân xếp hàng trong thể chế ấy và những giờ phút hấp hối của SỤP ĐỔ.

Ngay cả trong bi kịch của kẻ thua trận, sự hiếu thắng tột cùng vẫn trỗi dậy mới dựng nên một sân khấu chính trị đáng cười, đáng sợ lẫn đáng thương...

Sân khấu ấy, thực ra được dựng nên với những diễn viên đóng thế, đóng giả và được hóa trang bằng phấn son nhập ngoại mà chính họ cũng không nhận ra họ. Đó là những vai hề của trò thực dân kiểu cũ và những nghệ nhân khói lửa hạng tồi.

Những "diễn viên" bên kia chiến tuyến cách đây gần bốn thập kỷ hiện hồn trong "BIÊN BẢN CHIẾN TRANH 1-2-3-4.75”hầu hết đã lìa đời, lìa quê. Họ đã mất mạng hoặc tự tử tinh thần nơi đất khách quê người.

Xương máu đã chấm dứt một hình nộm thể chế. 

*

*           *

Lịch sử ghi lại quá khứ để đời sau phân giải và tìm phương thuốc cho tương lai. Hận thù thực ra là thuốc độc của cả người khoẻ và người yếu. Nó rất hữu hiệu để giết chết kẻ mạnh nếu kéo dài sự tung hô chiến thắng.

Gót giày viễn chinh và sự ngù ngờ của một nhóm tư duy nô lệ đã chia cắt đất đai thành giới tuyến. Một mất một còn vì Tổ quốc và Dân tộc cũng là lẽ đương nhiên của phe chính nghĩa.

Nhưng chiến tranh là nhất thời vì Nhân loại vẫn hàm nghĩa Nhân tính.

Bất luận chính thể nào khát khao đến hai chữ VỮNG BỀN cũng cần tìm ra nguyên nhân và vết thương hoại thư của kẻ thua trận. 

*

*           *

"BIÊN BẢN CHIẾN TRANH 1-2-3-4.75” là tập hợp các tư liệu sống của một người lâm trận yêu nước. Cuốn sách là tư liệu sử nhưng không chép lại với ý đồ giáo huấn. Nó cũng không hàm ý về sự đắc thắng của kẻ chiến thắng như sự báo thù chữ nghĩa thông qua các tư liệu rất khó lòng bác bỏ. Nó quý vì không chan các bình luận cá nhân. Nó phơi bày đương nhiên như lịch sử - cái đã xảy ra trong quá khứ.

Một cuốn sách dày về nội dung và số trang. Rất đáng đọc.

Vì…

Nó lộ sáng những câu chuyện gần như giai thoại về một chính quyền bị xé rách trong một tương phản đầy quy mô giữa thắng và bại.

Hà Nội, ngày 05/1/2014

 

PHỎNG VẤN NHÀ VĂN THÁI BÁ LỢI VỀ TÁC PHẨM

“HAI NGƯỜI TRỞ LẠI TRUNG ĐOÀN”

 

* Ông sáng tác truyn “Hai người tr li trung đoàn” trong hoàn cnh nào?

Nhà văn Thái Bá Lợi: ​Những ngày đầu sau khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, không khí phấn chấn hào hùng với chiến công toàn thắng đế quốc Mỹ trùm lên cả nước. Ở đâu cũng nghe nói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về những kỳ tích mà chỉ có con người Việt Nam mới có thành tựu đến vậy. Dân tộc đang trong cơn say chiến thắng đến cả những người bại trận cũng nhanh chóng hòa chung vào niềm vui non sông về một mối, tạm quên đi những thử thách phía trước đang chờ họ. Nhìn những đoàn người từ bắc vào nam, chứng kiến những cuộc đoàn tụ trong những gia đình có người cầm súng cả hai phía mà nụ cười chưa hẳn là niềm vui. Thấy cung cách ứng xử của người thắng trận với đồng đội đồng bào, tự nhiên tôi nghĩ hình như có điều gì đó cuộc chiến đấu này không hoàn toàn chỉ có chiến thắng, đạo đức, đoàn tụ, vẻ vang. Nhưng tôi không cắt nghĩa rõ ràng được. Tôi bắt đầu viết truyện vừa "Hai người trở lại trung đoàn" vào năm 1976 và được đăng trên "Văn nghệ quân đội" số tháng 4/1977. Khi truyện được in ra có hai luồng dư luận. Một số chia sẻ với những trăn trở của tác giả, số khác, không phải ít, cho rằng câu chuyện đã bôi xấu những người lính cách mạng, lại là người chỉ huy cấp trung đoàn, họ cho rằng những thói tật cơ hội, lừa dối đồng đội, vun vén cho mình không thể có trong quân đội ta, nhất là cấp chỉ huy. Những điều đó hôm nay không có gì mới mẻ, hàng ngày nhan nhản trên báo chí. Với tôi truyện vừa này cho tôi tự tin với công việc của mình vì dự báo là một trong những thiên chức của nhà văn.

 

* Những người lính trở về từ chiến trường và những người thuộc thế hệ chống Mỹ cứu nước khi đọc tác phẩm này của ông vẫn rất xúc động khi nhớ về những ngày tháng chiến đấu hào hùng. Theo ông, điều gì trong tác phẩm này khiến họ có cảm xúc như vậy? 

Nhà văn Thái Bá Lợi: Tôi cũng nghe nhiều đồng đội nói họ thích truyên này. Có lẽ tôi đã tái hiện được một phần hiện thực của chiến trường Khu 5 cực kỳ ác liệt trong chiến tranh chống Mỹ mà họ và tôi từng trải qua. May mắn của tác phẩm này là những trăn trở của tác giả được đời sống sinh động chứng minh cho. Người viết văn rất cần những may mắn như vậy.

 

* Hiện nay ông đang viết gì?

Nhà văn Thái Bá Lợi: Nhà văn thì phải viết rồi. Hiện nay tôi đang viết một cuốn tiểu thuyết. Ông bà ta dạy "nói trước bước không tới". Thôi phải chờ viết xong vậy./.

TRÍCH ĐOẠN TRƯỜNG CA “ĐƯỜNG TỚI THÀNH PHỐ” CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH

 

Chương bốn

Tờ lịch cuối cùng

 

Thành phố đã hiện ra trước mặt các quân đoàn

Treo rộn rực bao điều trong ánh điện

Nghe sột soạt chút gì như kỷ niệm

Qua khu vườn vừa giáp mặt đầu tiên

 

Xe đang qua những cây số cuối cùng

Nối thành phố và con đường mang tên Bác

Những nhịp cầu, bùng binh xoáy lốc

Cùng trận đánh hiện ra

 

- Ngã tư, đường Tự Do, rẽ trái
Chiến sĩ nhẩm trong đêm

Có lẽ sao rất dày và sáng

Có lẽ gió rất lộng và thơm

Ừ có thể

Và còn nhiều thứ nữa

Tất cả dễ thương và đáng quan tâm

Nhưng chúng tôi không hề có thời gian

 

Từng chuẩn bị chúng tôi biết thành phố mình lớn đẹp

Từng hy vọng chúng tôi biết thành phố mình chua xót

Và chúng tôi chào thành phố của mình

"Ngã tư

Đường Tự Do

Rẽ trái"

Chúng tôi nhận và chúng tôi truyền lại

Súc tích một đề thi

Câu trả lời buổi sáng

 

Câu trả lời chúng tôi mang sẵn

Qua rừng sâu ruộng nước trở về đây

Có thể đọc qua màu da bộc phá

Qua mùa đông men mét cổ tay gầy

 

Cũng có thể một tiếng Kinh đang vỡ

Tư đôi môi của đồng chí Tà Ôi

Anh tìm chữ khó khăn như người tiêu tiền mới

Bàn tay cầm rìu mộc mạc mở ra

 

Câu trả lời có thể là: thưa má

Cho con mượn nhà làm trạm cứu thương

Cho con lên tầng thượng đặt trung liên

Chỉ cho con ra ngã năm Phú Nhuận

Cũng có thể chỉ là im lặng

Im lặng không cùng, im lặng của mồ hôi

Câu trả lời có thể là cái chết

Ngay cả khi đang gõ cửa nhà mình

 

Gió cứ thổi phập phồng bao tâm sự

Đưa chúng tôi tới đích của mùa xuân

Nghe hơi nước những dòng sông gần gặn

Cứ mơn man trong suốt ríu ran hoài

 

Xin cám ơn nhạc sĩ

Nói giùm cho chúng tôi

Cái thao thức trước một tờ lịch cuối

Sài Gòn ơi, ta đã về đây!

Tôi đã nghe bài hát xốn xang lòng

Các cô gái làm đường đi đào củ chụp

Hố thì sâu mà tay em gầy guộc

Mưa miền Đông ướt áo các em rồi

 

Bữa ăn trông lên cây

Cây xác xơ thuốc độc

Bữa ăn đào từ đất

Đất lại bỏ hoang

Củ chụp thôi đâu phải là trầm

Đâu phải ngọc trai mà hiếm hoi lặn lội

Rừng cồn gió bụng người mang đói

Em vừa đào vừa hát Sài Gòn ơi!

 

Tôi muốn nhắc em còn xa lắm Sài Gòn

Còn xa lắm Củ Chi, Bà Điểm

Những miệt vườn ở tận cuối dòng sông

Nhưng tôi sẽ là người độc ác

Nếu nhắc em thì tiếng hát sẽ ngừng

Mưa to quá mà niềm vui dễ vỡ

Nếu em buồn rừng còn có gì che

Thôi cứ để cho em gái hát

Đỡ mủi lòng củ chụp nát trên tay

Sài Gòn ơi, ta đã về đây

Nghe người hát mà thương người quá thể

 

Mưa đã tạnh mấy năm rồi, nhanh nhỉ

Vẫn nghe hoài tiếng hát ấm rừng lên

Mưa tí tách ở trong tôi từ ấy

Cho hôm nay dào dạt với sông Tiền.

Bởi nơi ta về có mười tám thôn vườn trầu,

mỗi vườn trầu có bao nhiêu mùa hạ

Chị đợi chờ quay mặt vào đêm

Hai mươi năm mong trời chóng tối

Hai mươi năm cơm phần để nguội

Thôi Tết đừng về nữa chị tôi buồn

Thôi đừng ai mừng tuổi chị tôi

Chị tôi không trẻ nữa, xóm làng thương

ý tứ vẫn kêu cô

Xóm làng thương không khoe con trước mặt

Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy

Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc

 

Vẫn được tiếng là người đứng vậy

Nhưng anh tôi vẫn còn

Anh tôi che cho ngọn đèn khỏi tắt

Hai mươi năm áo gấm đi đêm

Chị màu mỡ mà anh tôi chẳng biết

 

Nhưng chị tôi không thể làm như con rắn que cời

Lột cái xác già nua dưới gốc cây cậm quẫy

Chị thiếu anh nên chị bị thừa ra

Trong giỗ Tết họ hàng nội ngoại

Bao nhiêu tiếng cười vẫn côi cút một mình

Những đêm trở trời trái gió

Tay nọ ấp tay kia

Súng thon thót ngoài đồn dân vệ

Một mình một mâm cơm

Ngồi bên nào cũng lệch

Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền

 

Chị nhớ anh và mong anh như thế

Và chị buồn như bông điệp xé đôi

Bằng tuổi trẻ không bao giờ trở lại

 

Anh đã nghe và cây cỏ cũng nghe

Cây thương anh làm vành lá ngụy trang

Dù vẫn biết không mát bằng bóng chị

Dù vẫn biết không ấm bằng tóc chị

Cỏ mùa khô một buổi vẫn tưng bừng

Chị thổi ù dằng dặc suốt đời anh

Chiếc khăn tay muốn làm buồm náo nức

Chiếc khăn tay của một thời nước mắt

Sẽ tung cờ hạnh phúc trước hàng hiên

 

Nhưng đêm nay chị vẫn còn buồn

Nhẫn vẫn lỏng ngón tay khô héo

Chị ơi

Bằng khắc khoải hai mươi năm đời chị

Chị hình dung những bước của anh về

 

Đêm dày thế chắc tiếng gà phải khỏe

Anh lẽ nào vẫn chiếc gậy tầm vông?

Em lẽ nào chỉ là một dòng sông

Phải cay đắng quay dòng trước chiếc cầu Bình Lợi?

Không thể rút về rừng đại đội một hàng ngang

Đứng lọt thỏm giữa bao nhiêu thương xót

Không thể nhìn đống súng thừa như nhìn

thừa đũa bát

Thừa đến nỗi những người còn lại

Không dám nhận mình là may

Hồi Mậu Thân toan tính biết bao điều

Chị vẫn tin chữ hợp cuối trang Kiều

Hoa mai nở hai lần hoa có hậu

Chị vẫn tin có mùa thu xanh đến cho cuốc kêu

tháng sáu

Vẫn tin có ngày hái quả cho anh

 

Bao giờ lúa trỗ đòng đòng

Lúa đang trỗ

Anh đang về đấy chị

Vuông vải đêm nay là tiếng chim khách đỏ

Anh sẽ nhận ra sao sáng của riêng mình

Anh ở đâu đêm chờ đợi cuối cùng?

Đêm quả thị

Và sáng mai cô Tấm

 

Chiến dịch này ăn cơm không phải độn

Mừng thì mừng mà thương mẹ bao nhiêu

Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng

 

Đêm còn lạnh ở ngoài ta đấy bạn

Ngoài ta độ này đang giáp hạt

Cây rơm gầy xay giã cũng thưa đi

 

Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng

Một nửa nhân dân ngày mai ta nhận mặt

Nhân dân trở về từ bên kia mặt trăng

Lại vằng vặc những bến bờ thương nhớ


Ngày mai chúng mình tiến vào thành phố

Đêm nay mẹ lại nhắc chúng mình đây

Mẹ cả nghĩ và bố thường ít nói

Lúa đồng mình mỏi mắt vẫn chưa hoe

Ngày mai bố dậy sớm ra tàu

Tàu vẫn chậm và đông người chạy bữa

Bóng bố khuất sau nhà ga Chí Chủ

Sắn độ này lên giá quẩy tòng teo

Năm thì ngắn mà tháng ba dài thế

Nhìn trong nhà rộng rãi đến là lo

 

Ngày mai chúng mình tiến vào thành phố

Chẳng có cách chi báo tin cho mẹ

Mẹ đỡ lo, đỡ thấp thỏm đôi bề

Ba đứa con có mặt trong này

Mấy cuộc chiến tranh mẹ gánh cùng một lúc

Chiến tranh bao giờ chấm dứt

Nếu một đứa con của mẹ không về

Mẹ ít ngủ mẹ thường thức khuya

Đêm nào cũng dài

Căn nhà có mười mấy mét vuông

Làm lụng đến già còn bao nhiêu tất bật

Sáng úp mặt ngoài đồng

Chiều còng lưng cuốc đất

Qua Tết lại bắt đầu cơm sắn cơm khoai

Từ chịu đựng và neo đơn của mẹ

Bao việc làng việc nước lớn dần ra.

 

Nếu mẹ biết chỉ còn đêm nay

Đêm nay nữa là con vào thành phố

Mẹ sẽ khóc

Rồi mẹ đi nhóm lửa

Tưởng sáng ra là con đã có nhà

 

Và em nữa, em chưa đi ngủ

Đom đóm bay ngoài ngõ vơi đầy

Tháng ba đi trong vườn quả dông dài

Bước thật chậm theo màu chì nắn nót

Em tô đỏ dần các tỉnh miền Nam

Những mắt na đang chín

Đường số Một chạy thi với biển

Biển mệt nhoài nằm thở ở Nha Trang

Núi chồn chân trên đỉnh Chứa Chan

Núi nhường bước cho đường vào thành phố

Anh đang ở bên này thành phố

 

Cách một mệnh lệnh

Cách một trận đánh

Cách một cây cầu, cách một đêm nay

Đèn thành phố hắt lên áo anh

Soi rất rõ từng chiếc khuy sứt mẻ

Thành phố càng gần

Càng không dám nghĩ nhiều đến mẹ

Phải cố quên mẹ ngồi đứng không yên

Dù chỉ có anh và ngọn cỏ lúc này.

 

Có run rẩy một lá buồm nhỏ xíu

Không chở che

Gió đẩy đến gần anh

Sau trận bom

Lại bắt gặp cái nhìn

Ngây dại thế

Và trong sạch thế

 

Của bình yên

Có thể quá đơn sơ

Như là cỏ

Cuối cùng không bị nát

Ấy là chỗ mà đất còn giữ được

Cho mọi tiếng ồn trận đánh khỏi bay đi

Ấy là điều mà anh cố nói ra

Không nói được

Bỗng nhìn lên thấy cỏ

Cỏ thật gần

Chiến tranh đang chấm dứt

Qua đêm nay

Cỏ thành chiếc kèn môi

 

Những ô cửa đầu tiên của thành phố kia rồi

Nếu sáng ra mà anh nhìn thấy cỏ

Tức là anh được thấy mẹ và em

Tức là anh đến được với người yêu

Anh chỉ thở mà không cần phải nói

 

Em cứ tô đậm nữa đi em

Tô thật đậm để hiện ra đất nước

Sớm mai em bổ con lợn đất

Bao niềm vui sẽ tóa dưới chân

Em sẽ hiểu đất nước mình dành dụm

Hiểu vì sao ta bớt giấy in thơ

Để in phiếu đường, phiếu thịt

Hiểu vì sao những thợ cày giỏi nhất

Đang khoét chiến hào bằng một chiếc xẻng con

 

Chiếc xẻng đã mòn

Vẫn đắp cao đôi bờ công sự

Đắp hối hả trong đêm châu thổ

Đã là con đường đất nước đi qua

Để trở về cây lúa

 

Sớm mai đất nước vào thành phố

Đêm nay xe pháo vẫn sang phà

Với đôi dép tân binh

Đất nước sẵn sàng giẫm lên nhiều thử thách

Các chiến sĩ lái xe dốc bi-đông chè đặc

Đất nước sẵn sàng thức trắng nhiều đêm

Dù kẻ thù từng đàn đang tháo chạy

 

Chúng gọi nhau táo tác trên trời

13 nóc nhà cao 13 bến tát

Nước Mỹ tát hoài ô nhục vẫn không vơi

Em cứ tô đậm nữa đi em

Tô thật đậm để hiện ra đất nước

Hiện ra ngày chúng ta hằng mong

Đất nước theo em ra ngõ một mình

Cau vườn rụng một tầu đã cũ

Đất nước đêm nay

50 triệu người không ngủ

Đang bóc đi tờ lịch cuối cùng.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác