Du ký Quảng Nam nửa đầu thế kỷ XX

(Toquoc)- Quảng Nam hiện nay là một tỉnh lớn với hai thành phố (Hội An và Tam Kỳ) và 16 huyện, có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng cả nước và thế giới như cố đô Trà Kiệu, kinh đô Indrapura - Đồng Dương, thánh địa Mỹ Sơn, đô thị cổ Hội An và các tháp Chiên Đàn, Bằng An, Khương Mỹ…

Du ký Quảng Nam nửa đầu thế kỷ XX - ảnh 1

Trong quá trình truy tìm lại các trang du ký về miền đất Quảng Nam viết vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, hiện chúng tôi mới sưu tầm được tác phẩm Indrapura Đồng Dương của Mãn Khánh Dương Kỵ, tên thật là Tôn Thất Dương Kỵ (1914-1987), quê ở Thừa thiên - Huế, đăng bốn kỳ trên Tạp chí Tri tân, số 107-110 (tháng 8+9 - 1943), tuyển in trong Tạp chí Tri tân (1941-1945) - Truyện và ký (Lại Nguyên Ân và Nguyễn Hữu Sơn sưu tập, giới thiệu). Nxb Hội Nhà văn, H., 2000, tr.494-523.

Bài du ký Indrapura Đồng Dương của Mãn Khánh Dương Kỵ có thêm phụ đề “Tặng bạn Võ Mai”, chia thành 6 phần. Phần I- Trên đường vào Đồng Dương - “Gặp du côn” kể lại niềm hứng khởi trong ngày du ngoạn đến làng Đồng Dương, việc gặp các bạn hướng đạo sinh cùng đến thăm nơi đây:

“Lễ Pâques! Một cơ hội cho tôi được nghỉ để đi ngược lại giòng thời gian trở lui về thế kỷ thứ IX, vào làng Đồng Dương (Quảng Nam) mà thăm kinh đô Indrapura xưa của nước Chiêm Thành.

Hàn (Tourane) uể oải trong nắng gay gắt, cơn nắng đầy màu sắc của miền trung xứ Trung Kỳ... Vĩnh Điện bồn chồn trong ánh chiều vàng, gợn sóng nhẹ nhàng huyền ảo như tà áo lả của nàng thiếu nữ đang mơ trong gió...

Vĩnh Điện là nơi dừng chân rất tiện cho khách du lịch muốn dùng xe đạp đi thăm các vết tích Chàm ở Quảng Nam; tháp Bằng An cô đơn bên vệ đường Vĩnh Điện, Kỳ Lam; Trà Kiệu (Sinhapura) chìm ngập trong lớp nhà cửa, đền chùa của người Việt; Mỹ Sơn (đền Bhadrecvara) lở lói trong thung lũng hoang vu và Đồng Dương là kinh đô Indrapura của nước Chiêm Thành về thế kỷ thứ IX.

Nghỉ một đêm, sáng sớm tinh sương, bạn tôi, anh Võ Mai cùng tôi, cỡi hai cái xe đạp, lướt ánh nắng mai thơm tho trên quan lộ để đi vào Đồng Dương.

- Nào, hăng hái lên, để vào lấy kinh đô của “Chiêm tặc”!

Chết nỗi! Vào chốn thôn dã này, đi lùi lại hơn 10 thế kỷ tưởng là tránh được ám ảnh của không khí ở Huế đầy tin tức về chiến tranh, thế mà vẫn không thoát khỏi! Té ra nhân loại từ xưa đến nay, quây quần mà sống, nô nức mà sống là chỉ vì mỗi một mục đích: chém giết lẫn nhau (!).

Nhưng, những thửa ruộng lúa già hạt vàng nặng trĩu, những đám khoai sắp từng rãnh cát trắng phau đang tắm trong nắng bây giờ tưng bừng của sớm mai hè đẹp đẽ ấy, đã làm cho chúng tôi quên bớt những ý nghĩ hắc ám trên kia. Phía bên phải tận đàng xa, là dãy núi Tràng Sơn chen chúc nhau, phô bày những màu rất ăn nhịp: tím lạt lướt trên sườn, xanh đạm âm u trong bóng... Tựu trung có một hòn núi rất dễ nhận vì chóp nhọn và hơi nghiêng, tựa hồ một chéo khăn, dưới chân núi ấy là Mỹ Sơn.

- Kìa, núi dùng khăn ngoắt chúng ta đến thăm đền của thần Bhadrecvara. Núi gì mà đẹp thế?

- Phải chăng là hòn Kucaka hay Sulaha đã chép trong một cái bia ở Mỹ Sơn?

Bên trái chúng tôi, các rừng phi lao xanh, nối tiếp nhau, chận những đám cát trắng, theo chiều gió từ ngoài biển chạy vào chực lấp nương dâu ruộng lúa.

Vượt sông Thu Bồn, nước trong lăn tăn gợn sóng như ở Hương Giang...

Qua sông Ba Rén, uốn mình trong nhà cửa cây cối...

Vượt sông Ly Ly, đang phơi dưới nắng những cồn cát phẳng phiu...

Đến phủ lỵ Thăng Bình, chúng tôi bỏ quan lộ, giong ruổi trên con đường nhỏ xinh xinh, uốn mình qua những trái đồi tròn trĩnh, đầy hoa sim tím. Trên hoa nổi những hòn đá to lớn giống lưng voi kỳ dị đã bị giết, bốn chân chen trong cát từ thuở nào. Trên đá, những lát sắn trắng phau, dân vùng lân cận đã rải từ khi mai, đang phơi dưới ánh nắng mỗi lúc mỗi gay gắt rực rỡ.

Sắn trắng, cát trắng. Trông qua những sóng hơi nóng, thấy nhà cửa cây cối như chập chờn rung động. Hai con ngựa sắt khô dầu hý lên ken két.

Ngựa đã đánh hơi được quân Chàm đấy. Coi chừng tên thuốc độc ở trên đồn, trước Tinh Xá, bắn xuống!

Đồn lính? Chiêm binh huy động trong tiếng tù và chiêng trống baranon, dưới sự chỉ huy của mấy ông Senapti hung tợn?

Nào đâu thấy? Chỉ một khoảnh đất: Trong cây cỏ lúp xúp lô nhô mấy đống gạch nát; ở giữa, trên mặt nước đục ngầu của một hồ cạn, bầy vịt đang lội và rỉa lông. Người chăn vịt lơ đễnh hoa qua hoa lại một lá cờ rách rưới buộc trên cán dài.

Đạp luôn một mạch hơn 30 cây số, dưới trời nắng chang chang chúng tôi thấy hơi mệt bàn rủ nhau vào nghỉ dưới bóng những cây “cốc” to lớn.

Một người nông phu đi ngang đấy. Bạn tôi vẫy đến trò chuyện, rồi hỏi:

- Anh tên gì?

- Tôi tên là Trà Y.

- Nhà ông tộc trưởng của anh ở đâu đấy?

- Trên xóm kia.

- Trên Tháp mấy lúc nầy có gì lạ không?

- Hiện có bọn du côn ở trên ấy.

Tôi ngạc nhiên. Bạn tôi ý chừng ở Quảng Nam lâu nên hiểu được ít nhiều ngôn ngữ và cử chỉ của dân miền này, ngó tôi rồi mỉm cười nói tiếp:

- Tụi du côn ấy thế nào? Chúng nó đã giết mấy người rồi?

- Họ nắm gậy, đội mũ, mặc quần áo cụt. Họ tử tế, có giết ai đâu. Kia kìa, hai thằng đương đi đâu xa…

Chúng tôi trông theo ngón tay của anh chàng họ Trà ấy, thì thấy hai anh hướng đạo đang đi khiêng nước dưới khe! Xin lỗi các anh hướng đạo hôm đấy đã niềm nở tiếp chúng tôi tại Đồng Dương, chắc hẳn các anh đã không ngờ rằng đã được dân gian vùng nầy gọi bằng một danh hiệu lạ lùng như thế"…

Trong phần II- Tinh xá Indrapura - Theo một người mộ đạo tưởng tượng, người viết giả định như những chủ nhân khu đền tháp còn hiện hữu đâu đây và mô tả chi tiết quang cảnh khu đền:

"Nắng giội trên cát, trên ruộng, trên cây cối. Đất vàng nầy xem chừng không tốt lắm; nhà cửa thưa thớt, nước thì có ít, sông Ly Ly ẩn mình tận đằng xa. Nếu không có những đống gạch dưới chân chúng tôi, và trong vòm cây gần đấy, thấp thoáng nét đỏ chói của tháp, đền đương đọ với màn xanh lục của vòm cây lả ngọn, thì cũng khó tưởng tượng được rằng, hồi trước tại đây là một đô thành phồn thịnh, nhà cửa chi chít đông đúc. Các nhà ở Chiêm Thành phần nhiều làm bằng gạch không được chắc chắn như tháp; tựu trung lại có có nhà làm bằng gỗ cất trên nền gạch, nên khi trải qua bao nhiêu cuộc chiến bại, mấy lần bị thiêu đốt, nay không còn một cái nào cả. Chỉ duy tinh xá để thờ Phật Lakamindra, Lokecvara, quy mô to lớn đồ sộ thì còn chịu được với thời gian, hiện đang giấu quang cảnh điêu tàn thê lương trong các vòm cây um tùm trước mắt chúng tôi.

Tuy mải theo đuổi các ý nghĩ ấy, chúng tôi vẫn thấy ngường ngượng sau gáy, và có cảm giác rằng gần đâu đây, gần lắm có người đang rình chúng tôi. Thì kia, trong bụi rậm, một ông Hộ pháp (Dvarapala) bằng đá to gấp hai chúng tôi, bị trôn nửa người đang vùng vẩy, trợn mắt, hênh mũi, cố rút mình ra khỏi gạch và dây có vấn vít chung quanh để tiến đánh chúng tôi. Trong lúc dùng sức quá mạnh, hàm răng lớn lòi ra; miệng hả toát thấu mép tai hình như đương hét với chúng tôi.

- Bọn mầy còn đến đây để làm gì nữa, bớ quân Yavana ác nghiệt kia ?

Chúng tôi vừa quay đầu, tránh cặp mắt giận dữ ấy, thì trong lá phía bên phải, lại bị cặp mắt khác với dáng điệu hung hăng ấy vồ lấy chúng tôi. Ông Hộ pháp này cũng to lớn như ông kia, khỏi bị chôn nửa người dưới đất.

Thực không gì não lòng bằng điệu bộ hai ông Hộ pháp to lớn dữ tợn ấy đang đứng giữ một đống gạch nát, đất tàn, rêu phong, cỏ phủ. Bất giác chúng tôi nhớ đến bài thơ cổ:

Ông đứng làm chi đấy hỡi ông?

Trơ trơ như đá vững như đồng.

Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?

Non nước vơi đầy có biết không?

Kể ra non nước vơi đầy đã nhiều lần mà tang thương biến đổi cũng lắm bận. Lối mòn cỏ mọc trước mắt chúng tôi khi xưa là con đường lát gạch rộng rãi. Hai bên, trong những quán xá tấp nập, các cô Chiêm nữ tuyệt mỹ thân hình thơm những long não và xạ hương, uyển chuyển trong những cái kama ngũ sắc, đang vui vẻ tươi cười bán cho kẻ mộ đạo đi dâng hương, những cái tượng thần nho nhỏ. Hết con đường ấy, chầu hai bên cửa chính đồ sộ của tinh xá là hai tháp trụ cao chót vót có những đường ngấn tròn. Nom qua tháp trụ và cửa chính ấy, thì kẻ mộ đạo bất giác cúi đầu vì đã thấy được không biết bao nhiêu đền tháp nguy nga tráng lệ. Kẻ mộ đạo khép nép dưới bốn tia mắt của hai ông Hộ pháp khổng lồ mà lách mình qua cửa chính để đi trên một con đường gạch ép giữa hai hàng vách cao của tu đạo viện…

Chúng tôi cũng đứng dậy đi theo anh chàng mộ đạo Chiêm tưởng tượng ấy.

Tu đạo viện? Với những phòng rộng rãi, đầy tăng và ni ngày đêm nghiên cứu đạo lý uyên thâm, và chép những bài kinh trên da, trên lá?

Nào đâu thấy? Nay chỉ là một đám cây cỏ hoang vu nhưng yểu điệu, mà ngọn gió thổi qua đánh tạt về một bên, để lòi ra những mảnh gạch đỏ, nát. Thưa thớt, vài cây "cốc" to lớn vươn mình trong ánh nắng tưng bừng. Thỉnh thoảng đôi con chim bay đi tìm bóng im, gieo giữa khoảng không từng hơi thê thảm…

Đi hết con đường gạch, kẻ mộ đạo vừa đến một cái cửa cũng có hai ông Hộ pháp canh giữ, một ông đứng trên con sư tử đang trợn mắt, lè lưỡi, một ông đứng trên con makara đang uốn vòi, xù vẩy. Một cái gì huyền bí đã thấm vào tâm hồn kẻ mộ đạo. Chàng cúi đầu đi một quãng thì bước chân vào trong một phòng ba gian rộng rãi có rất nhiều cột. Hãy quỳ xuống và cúi đầu sát gạch! Kìa trong khói trầm ngào ngạt, tượng Phật Laksmindra Lokecvara, to bằng bốn người thường, đang trầm tư mặc tưởng trên một bệ đá đồ sộ; chung quanh xúm xít những tượng bụt khác và tượng thầy tu hai tay bằng đá kính cẩn nâng những lư trầm đang nhả khói.

Trong phòng yên lặng, một yên lặng huyền bí; kẻ mộ đạo chỉ nghe nhịp đập bồn chồn, cảm động của trái tim mình. Bỗng, một hồi tù và rúc lên, từ bên tu đạo viện vọng qua. Rồi văng vẳng đưa đến một điệu kinh đều đều, vô cùng tận. Kẻ đạo dập đầu xuống gạch đem tất cả lòng thành tụng:

"Nômôh Laksmindra Lokecvara!...".

Tụng xong, chàng đứng dậy lui vài bước, lách mình qua cửa bên hữu đi vào những cái sân bốn bên có tường cao bao bọc.

Những cái tháp nho nhỏ rải rác gần tường. Chàng kính cẩn đến cúi trước các tháp ấy là nơi để mun của cao tăng nổi tiếng…

Tôi chỉ cho bạn tôi những hàng cột chạm rất công phu tỉ mỉ, cái thì đã gãy nát, cái thì đương bị những cây leo to lớn trói lại hoặc làm nứt ra, hay những cây đại thụ lấn làm cho nghiêng gần ngã. Đó là phòng rộng lớn có tượng Phật nói trên kia. Tượng Phật ấy, bệ đá cùng các tượng khác, đã đem về để tại nhà Tàng cổ Parmentier ở Hàn. Chỉ còn lại tượng hai ông Hộ pháp nhưng đã gãy chân lìa khỏi con thú mình cỡi, mỗi ông gục đầu mỗi góc, vào khúc tường gần sập, trong bụi cỏ khô.

Chính giữa đám cột, như muốn tỏ cho khách du lịch rõ cái hèn kém của nghề kiến trúc Việt Nam, người mình có xây lên một cái miễu tồi tàn, nặng nề, xiêu vẹo. Nghĩ cũng hoài quá! Những viên gạch to, cứng, đỏ, đẹp như thế, khi xưa đã sắp thành từng đường song hàng tuyệt mỹ ở góc tháp, thân cột, chân tường, nay lại bị người mình gỡ ra xây một cái miễu không có tí nào là mỹ thuật cả. Tuy vậy, họ còn chưa bằng lòng và đã lấy gạch ấy xây thêm một con đường vụng về quanh quẹo, ý hẳn là để đến cúng tại miễu trong những lúc mưa dầm, không thể đi lại dễ dàng trên các con đường đất đầy bùn lầy lội. Chúng tôi cũng không buồn đến gần xem thử người mình đã viết trên mảnh giấy điều gián trong miễu tên Thần gì, vì còn mải ngắm những đường cong, thuận tròn, xoáy vô cùng đẹp và những kiểu trang sức bằng nụ, lát, hoa chạm trên gạch, đang ẩn hiện dưới lớp cây cỏ nửa vàng nửa xanh.

Khách mộ đạo bây giờ đã đi ra sau phòng ba gian, và qua một cửa khác hai bên cũng có tháp trụ bằng gạch và Hộ pháp bằng đá, một ông cỡi bò, một ông cỡi gấu, thì vừa đến tòa nhà dành riêng cho người đi lễ. Kẻ mộ đạo đến ngồi nghỉ trong chốc lát trên chiếu trải giữa nền, rồi đứng dậy đi giữa hai hàng trụ thì đến trước một cửa to lớn hơn các cửa đã đi qua: hai bên, hai tháp trụ đồ sộ xoắn thẳng lên trên không những đường vòng mà bây giờ mặt trời đã lên cao đang mạ đỏ chói lọi. Kẻ mộ đạo giật mình: Hai ông Hộ pháp to lớn, chống tay trên bắp vế, đè bẹp dưới chân hai con người ta, chứ không phải thú vật như mấy ông gác cửa kia nữa. Hai con người khốn nạn này quằn quại trên gạch, tai chẳng đeo hoa, đầu không đội mũ, bộ râu mép nhọn vắt, uốn cong như hai cái nanh.

Kẻ mộ đạo run run bước lên mấy bậc cấp ngoài, qua khỏi cửa, trèo xuống các bậc cấp ở trong, thì đã đi vào được khoảng cuối cùng và linh nhất của Tinh xá. Chàng không để ý đến các tháp đền phụ chi chít chung quanh, như có một định kiến thôi miên cúi đầu đi thẳng.

Mấy bực cấp đưa chàng vào trong lòng một cái tháp lớn có bốn cửa. Ánh sáng mặt trời từ ngoài lùa vào, đem theo hơi trầm ngào ngạt. Trông qua các cửa kẻ mộ đạo thoáng thấy không biết cơ man nào là nhà, cửa, trụ, tháp đang tắm gạch đỏ chói trong ánh nắng tưng bừng. Nhưng chàng đã lặng lẽ ra khỏi tháp, trèo xuống mấy bực tam cấp. Thì kia! đồ sộ nguy nga trước mắt chàng cái tháp Chính xây trên một nền cao hai tầng, chung quanh có bốn tháp khác đứng chầu, quy mô nhỏ hơn và cũng xây trên nền ấy.

Kính cẩn, kẻ mộ đạo chắp tay, se sẽ để chân trên bực thứ nhất hình quả tim của tam cấp tháp Chính, rồi, khúm núm trèo qua mấy bực khác mà vào trong một phòng vuông rộng và cao. Trong ánh nến khi mờ khi tỏ, trên bệ đá cao mấy tầng chạm từng cảnh hoạt động, khám đựng Phật tích sơn vàng, phủ khăn thêu đang chói lọi, thôi miên lấy kẻ mộ đạo. Tâm trí chàng tê mê theo các bực cấp nho nhỏ đục bốn bệ mà đi lên quây quần chung quanh khám. Ngoài ra chàng không thấy gì nữa. Trước mắt chàng, trong trí chàng, trong lòng chàng, cái khám đang sán lạn với muôn mầu sắc của hào quang rực rỡ. Chàng đã quỳ xuống khi nào, cất giọng say sưa khấn:

"Nômôh, Laksmindra Lokêcvara!"...

Tôi dắt bạn tôi trèo trên bức tường con cao nhất của tháp Chính, mà dân vùng chung quanh gọi là tháp Tối vì, cũng như đa số các tháp Chàm khác, tháp này khi xưa chỉ có một cửa hẹp để ra vào, nên tại trong lòng tháp khi nào cũng lờ mờ tối. Nay thì sập nát gần hết, chỉ còn lại mấy bực tam cấp cao, sún nhiều chỗ, và ba bức tường lở lói lôi thôi.

Trước mắt chúng tôi là tháp Sáng, người mình gọi như thế vì trái với tháp trên kia, tháp này có bốn cửa rộng, ánh sáng ở ngoài tha hồ lùa vào.

Tại Đồng Dương, hiện nay chỉ có tháp Sáng này là đứng vững. Kỳ dư đều sập nát tan tành, gạch đá sứt mẻ lăn lóc trong bụi rậm um tùm, trên bức tường tan rã. Tuy vậy, chỉ trong một khoảnh này mà ngoài hai tháp Tối - Sáng nói trên kia người ta còn nhận được dấu tích của mười một tháp nữa: bốn cái chầu chung quanh tháp Tối, và bẩy cái sắp theo dấu tính bức tường hình chữ nhật bao bọc khoảng ấy. Nhan nhản tại những chỗ trống ở giữa hai tháp, mấy cái trụ gẫy ngang lưng, phơi những thớ thịt gạch chơi hới. Tại đây cũng như trong phòng có tượng Phật, bệ đá cùng tượng thì người ta đã lấy đi từ khi nào. Trong tháp sáng chỉ còn có tượng một thân cụt tay, lẹm đầu (civa?), nằm gục giữa nền, giơ một cái vai sả, hình như đang đợi một vị cứu tinh không khi nào đến”...

Trong phần III- Bia lời nguyền của vua Hời, tác giả trích dịch mấy đoạn văn trong các bia đá (đã được các nhà khảo cổ đương thời dịch ra chữ Pháp) với nội dung niệm Phật và khởi nghiệp, lời nguyện cầu cho vương triều vững bền, trăm dân no đủ và khẳng định các giá trị đạo đức:

“Phía sau tháp Tối, gần bức tường đổ, một cái bia còn đứng vững. Đó là một phiến đá to, chóp giống hình quả tim. Đồng Dương có nhiều bia khắc chữ Phạn. Các nhà khảo cổ đã dịch ra chữ Pháp; đó là những tài liệu rất quý để đem đối chiếu với sử chữ Hán của ta và của Tàu cùng các bi văn của người Khmer mà viết lịch sử nước Chiêm Thành.

Nay tôi xin trích dịch vài đoạn trong một cái bia Đồng Dương để hiến bạn đọc. Bia thứ nhất, dựng năm 797, Caks (875).

(Kính lạy) Laksmindra Lokecvara!... Chỉ có ngài Cri Cambhubhadrecvara là xứng đáng để muôn nghìn Thần khác thờ phụng. Là bản thể sán lạn của lửa, ngài bảo hộ xã hội Campa, nơi mà các luật pháp tốt đều lưu hành…

- Vua Uroja là dòng dõi của Paramecvara. Uroja sinh ra Dharmaraja, là đấng tốt phúc và thông minh.

- Dharmaraja sinh Rudravarman thông minh dĩnh ngộ; con Rudravarman là đức vua tốt nhất và nổi danh bhadravarman.

- Cri Indravarman, con của Cri Bhadravarman, nhờ oai linh của Mahecvara được làm vua nước Campa.

- Vậy thì đế nghiệp đã hoàn toàn truyền đến vua này; chứ không phải nhờ hoàng tổ và hoàng khảo mà ngài được lên ngôi tôn.

- Cũng nhờ sức tu hành, nhờ trí thông minh tươi sáng của ngài mà ngài lên ngôi vua, chứ không phải nhờ ông, cha.

- Thần Bhadrecvara đã cho ngài lên làm vua…

Xem đoạn bi văn trên này, ta nhận xét hai điểm:

1- Tuy bi văn khởi đầu bằng một câu niệm Phật Lokecvara, nhưng trong mấy hàng dưới lại nhắc đến Thần Bhadrecvara (Civa). Xem như thế thì ta thấy, dù ở thế kỷ thứ IX, tại nước Chiêm Thành, người ta cũng không phân biệt hẳn hai tôn giáo Bà la môn và Phật. Chẳng những thế mà thôi, người Chàm lại còn không phân biệt các thần với những vị Chiêm vương đã lập nên đền thờ thần ấy. Vì thế ta thấy họ thờ thần và vua chung lộn trong một tháp, trong một tượng. Tượng ấy là cái bọc bằng vàng có đính ngọc gọi là Koca.

2- Vua Indravarman này là một ông vua sáng nghiệp, khởi đầu một họ vua ở Chiêm Thành. Nhưng Indravarman đã được ngôi bằng cách nào? Hòa bình hay hung bạo? Phải chăng Indravarman đã cướp mất ngôi của dòng Vikrantavarman, làm vua vào khoảng năm 854 (776 Cakas).

Điều ấy cũng có thể được, vì những sự thay chiều đổi họ ở Chiêm Thành thường đắm những máu. Nhưng dù cho có cướp ngôi thật, Indravarman lẽ tất nhiên là phải giấu giếm; nên Chiêm vương ấy bảo rằng đã được Vikrantavarman truyền ngôi cho, như ta sẽ thấy sau này.

Làm thế Indravarman cho là chưa đủ vì biết rằng muốn làm vua tại một xã hội có giai cấp phân biệt như xã hội Chàm, thì cần tìm cho ra tổ tiên mình là hàng vua chúa; có thế dân tình của bốn giai cấp mới phục. Vì thế nên Indravarman mới nhận vua Uroja làm tổ. Uroja là một ông vua huyền hoặc, thuộc về thần đại của nước Chiêm Thành. Con dòng cháu dõi như thế thì thần Bhadrecvara mới cho lên làm vua chứ! Vua Chiêm trị dân do mệnh của thần Bhadrecvara cũng giống như vua ta ỷ vào trời (Thừa thiên hưng vận), vua Pháp ỷ vào Chúa (par la grâce de Dieu).

Bây giờ ta hãy xem vua Indravarman đã tỏ ra khôn khéo như vậy là người thế nào:

Bia ấy viết:

- Vua, tinh thần siêu việt, đã tu hành từ kiếp nọ đến kiếp kia, những dân đàn anh bèn tìm vua để nhờ bảo hộ tổ quốc yêu quý Campa. Cầu nguyền vua trị vì lâu dài và mãi mãi ở đây.

- Cầu nguyện vua lâu dài bền vững trong đế nghiệp để dắt díu (thiên hạ) đến cõi Nát bàn, lâu dài như vua các thần theo Dharma (Pháp) và nhờ sức của sự cúng tế mà trị vì trên trời; lâu dài như nước sông chảy vào biển sâu, lâu dài như gió, như đất, như trăng, như mặt trời, như tinh tú…

- Vua là người hay nhổ mốc giới các nước, đối với địch cũng hiền hậu. Quân địch nào mà không mù quáng trong lúc hỗn chiến đều đến hiến thân cho ngài…

 - Ngài (Indravarman) hiệu là Laksmindra Bhuncvara… có sức mạnh của mười ba ông thần, đã được vua (Vikrantavarman) truyền ngôi, sau lại được các thi sĩ và đế vương ca tụng.

Còn Phật Lokecvara là thế nào, xin nghe bia Chiêm ấy kể:

- Trẫm mong rằng đã giúp vào việc cứu vớt chúng sinh, khi trẫm đã làm ra được đấng tối caoLokecvara là hiện thân của các kiếp Phật (nghĩa là khi Trẫm đã lập được tinh xá để thờ Lokecvara?).

- Những thần nào nhân từ, lòng rộng rãi với chúng sinh đáng cứu vớt? Lokecvara khi nào cũng tràn trề lòng thương và có chí nhẫn nại tuyệt đối.

- Thiên hạ suy nhược vì khổ não, nhiều người đang bị đày dưới địa ngục ngày đêm luôn luôn được ước mơ thấy ngài. Thiên hạ lâm vào nỗi khổ vô cùng tận trên đời mong mỏi thấy ngài cũng như về mùa hè, những người đang bị nắng và khát đốt thiêu gặp được nước mát dịu.

Lập xong tinh xá và muốn để bảo vệ đời đời kiếp kiếp tinh xá ấy, Chiêm vương Indravarman cho khắc vào bia ấy những câu như thế này:

- Theo Dharma, (Trẫm) đã lập nên một tinh xá, tha khỏi thuế, để cho quần tăng hưởng lợi.

- Trẫm đã trí tại đó tất cả các cách mưu sinh cho quần tăng, ngõ hầu ích lợi cho chúng sinh.

- Không phải để thu lợi cho vua, không phải để thêm thuế mà chính là để quần tăng hưởng nền tinh xá này đã lập ra cho vạn thế.

- Những ai giữ của này cho quần tăng, như các nhà thông thái Bà la môn, các ẩn sĩ, các bà con của via, vân vân… đều được cùng gia quyến đến cực lạc quốc của Phật; còn người nào lấy hoặc phá phách của cải ấy đều phải sa xuống địa ngục rùng rợn.

- Kẻ nào thấy tận mắt hoặc nghe nói ai đánh cắp của cải ấy mà không tố giác với vua, đều xuống địa ngục.

- Ai tố giác thì bản thân, cha, mẹ, bà con không khi nào xuống địa ngục.

- Ai lấy của cải ấy, Ksatriyas hay Bà la môn, đều kiếp kiếp cùng cha mẹ rơi vào khổ não của địa ngục.

- Kẻ nào, tuân theo lời Trẫm mà giữ gìn của cải ấy (ruộng nương, vàng, bạc, thau) để cho quần tăng dùng, đều cùng đầy tớ của họ, vân vân… được đến chỗ ở của Phật.

- Ai không tuân theo lời Trẫm, vua, Bà la môn, phú giả, đều cùng cha, mẹ, bà con bị đày xuống địa ngục.

Kìa, bạn đọc đã giựt mình! Chúng ta ai lại chưa nghe người mình kể với một vẻ mặt sợ sệt cái tài thư hoặc nguyền rủa của người Hời. Huống chi lời nguyền này lại do một ông vua Hời thốt ra! Ông cha ta đã bao phen hạ kinh đô nước Chiêm Thành, phá phách tinh xá này, đem về nước nào “vàng, bạc, thau”, nào gái đẹp. Nếu lời nguyền của Chiêm vương có hiệu nghiệm thì…

Nam mô cứu khổ cứu nạn…

Nômôh Lokecvara!”…

Đến phần IV- Tháp Sáng - Một vài ý nghĩ về nghề kiến trúc của người Chàm, tác giả đi sâu phân tích nghệ thuật kiến trúc, kỹ thuật và các giả thiết về cách thức xây dựng Tháp Sáng:

“Tháp Sáng cũng tương tự các tháp Chàm khác: tầng sát nền của tháp nào cũng là một hình khối vuông, phía trên chồng những tầng khác giống như tầng ấy, nhưng quy mô nhỏ dần thấu trên chóp thì chỉ còn một khối đá hoặc gạch. Các tầng trên có cửa hình tiêm cung, nhưng đều bít gạch, tại các góc lại cheo leo những mảnh chạm (pièces d’accent), bằng đá có, bằng gạch có, làm cho toàn tháp có một quang cảnh lởm chởm như quả dứa non, tia cạnh còn dài, nhọn. Tháp xây toàn bằng một thứ gạch đỏ rất cứng, chồng lên trên nhau không có dấu vôi; cũng có dùng đá, nhưng chỉ để các chỗ cần thôi, như ở khung cửa ra vào chẳng hạn.

Một đặc sắc của nền kiến trúc Chàm là, ở trên cửa, hoặc trong lòng tháp, trên phòng, họ không xây cuốn tò vò như ta hoặc Tàu bao giờ. Tại các chỗ đó đều xây theo cách mà các kiến trúc sư pháp gọi là “encorbellments successifs”; hàng gạch trên quá hàng gạch dưới một tí, cứ như thế cho thấu trên chóp. Trên các cửa thì ta thấy bình một cái tam giác và trong lòng hổng ta lại thấy hình một Kim Tự tháp, mà các bậc cứ nhỏ dần nhỏ dần, để khuất trong tối. Cách xây như thế được chắc chắn, nhưng phải cái làm cho cửa thành hẹp, lòng tháp thành chật. Vì thế nên tháp nào của Chàm quy mô cũng không được to lớn.

Tại sao chung đụng với ta, với Tàu, hơn mười mấy thế kỷ mà không khi nào được thấy họ bắt chước cách xây tò vò của ta? Phải chăng là vì thể lệ về kiến trúc cổ ở Ấn Độ, nhất là kiến trúc các đền đài để cúng tế, cấm không cho người Chàm, cũng như không cho người Khmer, xây cuốn tò vò.

Xem một tháp Chàm, ta có cảm giác đang ngắm một chiếc nhẫn: chỗ nào cũng chạm trổ rất tỉ mỉ, từ dưới chân cho thấu chóp. Ít có viên gạch nào thoát khỏi lưỡi đục. Tuy chạm bộn bề nhưng xem trong toàn thể thì rất cân đối, “rộng rãi” và nhịp nhàng.

Một đặc sắc nữa của nền kiến trúc Chàm là, như tôi đã nói trên kia, các viên gạch sát nhau, không có một tí vôi, hồ nào. Thực là một điều lạ.

Có người bảo rằng muốn xây những cái tháp nguy nga tráng lệ như thế, trước hết người Chàm sắp những viên gạch còn ỉu thành tháp, rồi lấy đục chạm trổ đâu đấy xong xuôi, mới chất lửa đốt. Có thế những viên gạch mới hoàn toàn sít nhau, và những nét chạm đi từ viên gạch này qua viên gạch khác mới liến lắng tự nhiên như thế được. Vả chăng xem kỹ trong các bức tường đổ, ta thấy gạch ở ngoài cứng, chắc, hơn gạch ở trong. Phải chăng là vì gạch ấy bị đốt sau khi xây, nên ở ngoài gần lửa chín hơn ở trong?

Nhưng làm thế nào mà đốt những cái tháp cao hơn 20, 30 thước tây như thế được? Vả chăng, để đỡ những chóp cửa xây theo kiểu “encorbellments successifs” thì bắt buộc phải để những cái xà ngang bằng đá trước khi đốt. Vậy thì sao trên các xà ấy lại không thấy dấu vết của lửa? Ta nên nhớ rằng, muốn đốt những cái tháp cao như thế phải lập những dàn lửa khổng lồ, và gây nên nhiệt độ rất cao, đá cũng phải bị ảnh hưởng. Đó cũng là ý kiến của ông Tham Đ. hiện nay đang coi nhà tàng cổ Parmentier Tourance”…

Đến đây tác giả có thêm phụ bản sơ đồ toàn cảnh khu Tinh xá Đồng Dương, chú thích rõ bốn hướng đông - tây - nam - bắc, cửa vào có tam cấp, tháp, tháp trụ, tháp tối, tháp bóng, đường đi, thành, bia, hồ…

 Du ký Quảng Nam nửa đầu thế kỷ XX - ảnh 2

Ngay sau đó tác giả đặt ra các giả thiết, phán đoán các khả năng, lý giải các cách thức người xưa xây tháp:

“Có người bảo rằng người Chàm nung gạch thật cứng rồi mới xây. Họ không dùng vôi, nhưng đã dùng một thứ hồ ý hẳn đã bằng nhựa cây để gắn gạch lại với nhau. Đến nay, trải qua lâu đời, thứ hồ ấy lẽ tất nhiên là không còn nữa, nên tuy người ta đã cạo trên gạch Chàm đem ra thí nghiệm phân chất, để tìm cho ra thứ nhựa ấy là gì, nhưng vẫn không biết. Khi tháp đã xây xong, người Chàm mới chạm. Thuyết thứ hai này xem chừng có lí hơn. Nhưng nếu đã nung cứng gạch rồi, thì đường chạm đi xuyên hai viên gạch làm sao mà lại được liền lắng như thế? Còn những viên gạch đã khô cứng thì làm sao mà khít sát nhau như thế được? Ông Tham Đ. bảo với chúng tôi rằng, người ta đã sai mài cho mòn hai viên gạch, mà không thế nào được khít sát nhau như các gạch Chàm đang nằm trong tháp.

Thế thì người Chàm đã dùng cách gì mà xây lên được những tháp, đền, đẹp đẽ, kỳ dị như thế?

Họ chú trọng vào bề đẹp nhiều quá, mà sao lãng bề bền vững, bề chuyên môn. Vì thế nên dưới con mắt của một kiến trúc sư thời nay, tháp Chàm vẫn có nhiều chỗ hở. Gạch to và cứng chồng nhau thành từng lớp ngang; những lớp ấy nhờ sức nặng của các lớp trên, của toàn thể tháp, nên được vững và ăn nhau lắm. Nhưng đó là chỉ nói chiều ngang, chứ chiều cao thì không được hưởng cái lợi ấy, nên vách phần nhiều dễ nứt, dễ ngã. Vả chăng xây tường, họ thường xây hai lớp ngoài bằng gạch rất kiên cố chứ ở trong lại độn những gạch không cứng bằng gạch ở ngoài. Rồi thì trong lúc toàn thịnh dân Chàm luôn luôn canh giữ săn sóc chẳng nói gì, chứ từ khi họ bỏ, nước mưa gặp những chỗ nứt thấm dần vào làm mục gạch ở trong. Theo chiều gió hoặc do chim đem đến, những hạt của muôn nghìn thứ cây ấy đã gặp trong gạch thối nói trên kia, những chỗ rất thuận tiện để nảy mộng, đâm chồi bén rễ. Thế rồi ngày đêm các cây ấy sinh trưởng đục khoét lấy tháp, khoét từ trong tim khoét ra, còn dây leo lại chằng chịt trói buộc lấy tháp trong một thứ lưới vô cùng tai hại nhưng chắc chắn.

Vì thế nên, thấy những cây ấy ra sức phá hoại các tháp Chàm tuyệt mĩ, ta dẫu bồi hồi sợ rằng một ngày kia chắc các tháp ấy không chịu nổi mà phải đổ, nhưng cũng không dám nghĩ đến việc chặt các cây kia. Vì chặt chúng đi thì các tháp sẽ lập tức đổ tan tành, như biết bao nhiêu tháp ở Đồng Dương này mà gạch đá đang chồng chất ngổn ngang dưới chân chúng tôi”...

Tiếp đến phần V- Đến thăm ông Tộc trưởng họ Trà, tác giả thuật lại câu chuyện gặp ông già Trà Tiếp và thử nêu giả thiết, phân tích, xác định những hiểu biết mơ hồ, xa xôi còn truyền lại đến ông già:

“Ông này tên là Trà Tiếp, tuổi gần bảy mươi, nhưung xem còn tráng kiện. Ông niềm nở tiếp chúng tôi.

- Thưa ông, nhân đến xem tháp Chàm, chúng tôi có mấy điều xin hỏi ông, mong ông sẵn lòng chỉ giáo.

Ông Trà Tiếp nghiêm nghị gài nút áo.

- Ông họ Trà, thế là dòng dõi người Chàm. Vậy ông có biết gì về các cụ xưa họ Trà, về gốc tích các cụ chăng? Nếu ông có thể cho chúng tôi xem gia phả của họ ông, may tìm được điều gì thì quý hóa lắm…

- Gốc tích của họ Trà chúng tôi ở “Nghệ An Thừa tuyên, Minh Linh phủ, Bảo Đơn xã”. Đến Trần triều có hai ông tên là Chóng và Đụn di cư vào đây, canh khẩn núi non rồi lập thành xã hiệu.

Nói xong, ông đi tìm bản gia phả đưa cho chúng tôi xem. Tôi khắp khởi mừng thầm chắc sẽ vớ được của quý; nhưng giở ra thì thất vọng ngay vì dáng chữ viết, nhất là giấy thì xem không xưa lắm. Chữ hình vuông, viết nghiêng nghiêng, bên trái hơi cao hơn bên mặt, giống như chữ tôi đã thấy trên công văn đời Gia Long tại cuộc trưng bày những tài liệu về lịch sử ở nhà Di luân (Huế) năm ngoái.

Trong gia phả chỉ là một dãy tên, ngoài ra không có điều gì cho ta biết rõ ràng hơn về tổ tiên ông Trà Tiếp. Đại để cũng giống như các điều ông Tiếp vừa mới thuật lại cho chúng tôi ở trên.

 - Thưa ông, họ ông di cư vào đây từ đời Trần, nhưng gia phả này xem chừng như mới viết đây, ước hơn trăm năm. Vậy ông còn có tập nào nữa không?

- Theo lời cha tôi dạy lại thì hồi trước gia phả của họ chúng tôi dầy lắm, và có kèm thêm nhiều giấy má rất quan hệ. Nhưng đời trước có một ông tộc trưởng điên, đem đốt hết. Bản này là do cố tôi nhớ được điều gì thì sao lại đó thôi.

Tôi mân mê tập gia phả họ Trà trong tay.

Một ông tộc trưởng điên?

Phải chăng là vì trong gia phả và giấy má ấy có nhiều điều rất quan hệ về người Chàm. Ông tộc trưởng hồi ấy còn Chàm nhiều hơn ông này, không muốn lưu cho hậu thế, nhất là cho người An Nam, những điều bí mật của nước Chàm, nên đã đem đốt hết? Rồi sau này con cháu không hiểu lại bảo là ông điên.

Họ Trà gốc tích ở Nghệ An?

Ông Chóng và ông Đụn phải chăng là người Việt từ Nghệ An vào đây thực. Dưới triều Trần, Chiêm - Việt giao hảo với nhau: Chiêm vương Simhavarman cưới Huyền Trân công chúa, thì người Việt như ông Chóng và ông Đụn, vào đây, lấy một Chiêm nữ họ Trà là việc có thể được. Rồi người Chiêm thành theo chế độ mẫu hệ nên con cháu lấy họ mẹ là họ Trà, còn họ Việt (Nguyễn, Trần, Hồ, gì đó) thì bỏ đi, vì vậy nên nay tuy không mang họ An Nam, mà các ông họ Trà ấy lại tin rằng mình vẫn người An Nam từ Nghệ An di cư vào…

Tôi mãi triền miên suy nghĩ thì ông Trà Tiếp hỏi:

- Ông bảo tôi người Chàm. Theo ông thì tổ tôi tên là gì?

- Cách đây 970 năm có dòng họ Trà làm vua ở nước Chiêm Thành, Chiêm vương ấy người mình gọi là Trà Toàn, em là Thị Nại. Vậy có lẽ ông là giòng dõi họ Trà ấy. Tuy vậy cách đặt tên họ của Chiêm Thành rất khác ta, và khi ta viết sang chữ Hán tên Chiêm thì cũng viết sai đi nhiều lắm. Vả lại, người Chàm tuy thường kết hôn với bà con cùng một họ nhưng cũng có thể lấy người họ khác. Rồi do đó ta có thể nói rằng họ của con cháu ông Chóng ông Đụn cũng đổi nhiều lần. Vì vậy, vấn đề này khó giải quyết lắm chứ không dung dị như tôi mới thưa cùng ông.

Ông Trà Tiếp vuốt râu, cặp mắt mơ mộng.

- Thưa ông, ông ở đây đã lâu có biết điều gì ở các tháp tại làng Đồng Dương này không?

- Đời trước đó là một đống gạch to lớn, do các tháp đổ gây nên, dân gian thường đến tìm vàng và bảo vật. Chính tôi có tìm được một cái tượng Phật bằng đồng to và cao như cháu này (ông vừa nói vừa chỉ cho chúng tôi một cậu bé ước 9, 10 tuổi đang trố mắt đứng nhìn). Nhưng sau có ông “bác vật” về lấy đi. Về chuyện các tháp đổ cha tôi có thuật lại rằng, khi tháp Tối sập thì nghe ù một cái thật to, chính dưới phủ cách đây 10 cây số người ta cũng nghe được tiếng ù ấy. Việc ấy xẩy ra năm Tỵ, cách đây ước chừng trăm năm.

- Gì Tỵ?

- Tôi không rõ, chỉ nghe nói lại năm Tỵ thôi. Hồi năm trước có ông “bác vật” về ở đây, đào gạch và tìm được rất nhiều tượng Phật.

Chẳng có điều gì hỏi thêm nữa, chúng tôi cảm ơn và cáo từ ông Trà Tiếp. Ông tiễn chúng tôi một đoạn xa, trước khi chia tay, không quên hỏi:

- Thế thì tôi là dòng dõi hoàng phái nước Chiêm Thành?

- Nói theo người Việt Nam ta thì có lẽ ông là con cháu ngoại của họ Trà, làm vua ở nước Chiêm Thành đời trước.

Trong cặp mắt mơ màng suy nghĩ của ông Tộc trưởng họ Trà, hình như đã thoáng qua trong giây lát, những thời kỳ oanh liệt, bi đát của giống dân Hời”...

Còn lại ở phần VI- Đồng Dương tại Nhà bảo tàng Parmentier, Mãn Khánh Dương Kỵ đã đến thăm nhà bảo tàng Chàm đặt ở Đà Nẵng và giới thiệu chi tiết các hiện vật, tượng thần, tượng Phật, tượng người:

“Như trên kia tôi đã nói, phần nhiều những tượng thần, tượng Phật, cái gì có thể đem đi được thì người ta có đem trưng bày tại nhà bảo tàng Parmentier ở Hàn, trong một căn phòng dành riêng cho Đồng Dương.

Bước qua khỏi cửa, một bệ đá đồ sộ làm cho ta phải chú ý đến ngay. Chung quanh bệ đều chạm tỉ mỉ; góc phía trước và hai bên tả hữu có chạm bậc cấp và những tấm bảng, bảng nào cũng ấn vào giữa những kiểu trang sức tuyệt mỹ. Nhưng đẹp hơn nữa là các cảnh chạm trên những bảng ấy.

Đây: một bà hoàng nhàn du, nghiêm chỉnh trên cái kiệu…; đây, một vị vua ngồi xếp bàn tròn trên lưng ngựa, đem theo ít người tùy tùng đi nhàn lãm…; đây, những đạo quân ồ ạt, có voi đi kèm, ngất nghểu trên bành voi là những chiến sĩ vạm vỡ giương những cây cung to hơn người…, đây, những thiếu nữ mơ màng dưới bóng cổ thụ…, đây, những nhạc sĩ, say sưa, nghiêng ngửa trong khúc điệu của mấy cây đàn to lớn…; đây, trong cung điện huy hoàng, vua đang thủ thỉ cùng cung nga mỹ nữ…; đây, hai đoàn thiếu nữ thân hình mảnh dẻ, lưng ong, ngực nở, vú tròn, đang gặp nhau và trò chuyện, v.v…

Trên bệ đá ấy, một tượng thần Criva đang mỉm cười, nhếch hàng râu mép thanh thanh, và nở ba con mắt: một con ở giữa trán. Civa này ngồi kiểu Chà Và: tay phải ôm đầu gối của chân phải dựng cao, tay trái nắm thanh gươm rất ngắn, kê trên đầu gối của chân để nằm. Mình đánh trần, hai chân quấn một cái chăn, đầu đội mũ “mukata” hai tầng, có đính vào ba hình lá mít chạm rất tỉ mỉ, phía sau đầu nở một đóa cúc to, hai tai cũng đeo tai hoa cúc. Đỡ Civa là một bệ đá nhỏ (kê trên bệ đá lớn nói trên kia hình khối vuông, bốn phía có chạm đầu sư tử nhe răng trợn mắt.

Khít tường, sau lưng Civa ấy, đứng một thần Civa khác tay trái nắm thanh gươm gẫy chỉ còn chuôi, hình tuy cũng để trần, nhưng có mang thêm một cái nịt giữa bụng, một miếng hộ tâm hình quả tim và hai cái lon hai bên vai; lon, nịt, hộ tâm đều chạm theo kiểu trang sức Chàm, nghĩa là những nụ nho nhỏ trộn lẫn trong những đường dây xoắn xít.

Hai bên kệ khít tường, mỗi bên một ông Hộ pháp (Dvarapala) bằng đá, to hơn hai người thường, đang đè bẹp một con bò dưới chân và đang đánh nhau với một chiến sĩ nho nhỏ từ trong miệng bò hùng hổ chui ra… Hộ pháp, tay phải sử dụng một thứ binh khí khó nhận rõ, tay trái giữ lấy ngực, trợn hai con mắt tròn xoe để đôi lông mày rậm giao nhau trên mũi hếch, há miệng, nghiến răng làm lòi hai nanh lớn của hàm trên, và uốn cong bộ râu mép. Vì dùng sức quá hăng nên mình hơi lao về trước và dưới cằm, bốn sợi gân cổ kéo da, nổi cao trên thịt.

Có lẽ để cho tiện việc chiến đấu, nên Hộ pháp đánh trần trùng trục, chỉ mang có mỗi một cái chăn ngắn có sọc, phía dưới lại thêu những đường sọc nhỏ hơn. Một cái mũ “mukata” giống như mũ của Civa, đựng không hết tóc nên một tí lọn vùng vằng trên hai vai. Đồ trang sức thì có: vòng cổ tay, vòng cổ chân, và nịt cùng giây choàng chạm thành rắn ba đầu ngóc thẳng.

Trước bệ thần Civa kê sát vào hai tường, tả hữu hai bên có hai bệ cũng bằng đá, cũng chạm trổ rất tỉ mỉ, công phu.

Một tượng Phật khổng lồ ngồi trên kệ bên phải: Tôi chưa thấy một tượng nào “sống” như tượng này, mặc dầu đã mất đầu, chỉ còn cái cổ gãy lởm chởm. Trước nó, ta thấy bồi hồi cảm động. Mấy lớp nhăn của áo cà sa khỏa từ trên vai trái (vai mặt để trần) hình như khe khẽ động trên ngực, theo nhịp đập của quả tim đại từ đại bi, rồi phủ hai đầu gối, rũ xuống thấu cổ chân; đến đây, hình như theo chiều một cơn gió phiêu diểu, mảnh cà sa hơi tạt về một bên. Hai bàn tay ôm hai đầu gối, mấy ngón móng cắt cụt đương mân mê và se sẽ ấn xuống vải của cà sa. Đầu gãy, thực là một điều đáng tiếc vì nhà nghệ sĩ đã làm cho ta bồi hồi trước mười ngón tay ấy, trước những đường xếp của mảnh áo cà sa linh động trên ngực, thoi thóp trước bụng, uyển chuyển dưới chân như thế, thì chắc cũng đã gởi lại được trong đá một gương mặt đầy vẻ “tươi sống”, nhân từ của Phật.

Bệ của tượng Phật cũng chạm tinh tường và đẹp đẽ như bệ của tượng Civa; có một điều khác nhau đáng chú ý là dưới chân Phật, có những bức chạm hai người chắp tay cầu nguyện trên đầu những con sư tử.

Đối diện với tượng Phật, phía trái, là một cái kệ khác, cách chạm trổ cũng giống hai kệ trên; nhưng tại kệ thứ ba này, xen lộn vào các bảng chạm sư tử. Trong các bảng chạm cảnh người, ta cũng nhận thấy vua đi chơi ngồi xếp bàn tròn trên lưng ngựa, vua ở trong điện với cung nga mỹ nữ. Tựu trung có bảng chạm đông người ngồi trên những cái đôn thấp, ý hẳn là đang bàn bạc một điều gì quan trọng.

Trên kệ thứ ba này, bốn người bằng đá, tóc xõa trên vai sắp hàng ngang nhau, đang vừa chạy thực nhanh vừa đội một cái khay nay đã sứt mẻ. Người chạy ở ngoài hết, thì ta mới thấy được toàn thân thể chứ người thứ hai và thứ ba chỉ thấy gương mặt thôi; sống mũi cao, vành trán thông minh; còn người thứ tư thì lút đầu trong đá, nghệ sĩ không chạm đến, chỉ để cho ta ý hội thôi. Sở dĩ tôi biết bốn người là vì cách chạm ba gương mặt chồng nhau nhỏ lẩn và lút lẩn trong đá. Làm cho tôi tưởng tượng sau ba người nầy còn có thêm người nữa; rồi đến gần đếm thì thấy tám cánh tay đang cố sức bơi trong không khí, như muốn bay, bốn tay chuồi về đàng trước, bốn tay chuồi về đàng sau”...

Cuối cùng, tác giả đi đến đoạn kết:

“Trước khi ra đi, theo lời mời của người canh nhà Bảo tàng, đến ký trên cuốn sổ để tại phòng Đồng Dương ấy, tôi không khỏi tấm tắc khen thầm các nghệ sĩ Hời.

Trước cảnh thiên nhiên, trước kiểu mẫu là các Chiêm nữ vô cùng kiều diễm, nghệ sĩ ấy đã rung động một cách sâu xa; họ đã để lại trên đá những tác phẩm bất hủ.

Đến nay, tuy trải qua bao nhiêu lớp bể dâu, những tượng bức chạm đã bị phá, đẽo, gãy, mẻ nhiều nơi, nhưng cũng không phải vì thế mà bớt đẹp. Trái lại từ tượng Phật to lớn cho đến các con người bằng đá nho nhỏ, có kẻ không to quá ngón tay cái người lớn, vẫn “sống”, vẫn hoạt động, vẫn làm cho người xem cảm động bồi hồi, đi không muốn dứt.

Mai sau, dù cho đến lúc người Chàm cuối cùng đã thở hơi cuối cùng trong túp nhà sàn quạnh hiu sập nát, thì dân tộc Chiêm Thành vẫn sẽ còn sống, còn mãi mãi sống trong những tác phẩm mà tại đó họ đã gởi lại bao nhiêu nhịp rung động của quả tim, bao nhiêu tinh thần nghệ thuật”...

Qua bài du ký, Mãn Khánh Dương Kỵ không chỉ bày tỏ niềm khâm phục trước các giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật khu Tinh xá Indrapura - Đồng Dương mà còn chú trọng miêu tả cụ thể, chi tiết (cẩn thận thêm cả phụ bản sơ đồ), ngõ hầu giúp khách du đương thời và hậu thế nhận thức rõ nét hơn hình thể khu di tích kiến trúc độc đáo này. Chính bởi trong thời chiến tranh chống Mỹ, khu di tích bị tàn phá nặng nề nên bài viết càng tăng thêm giá trị tư liệu, giúp các nhà chuyên môn hiểu biết đầy đủ, chính xác hơn về khu di tích… Thiết nghĩ, với sự đóng góp công sức của nhiều người trong việc sưu tập các tác phẩm du ký viết về các điểm di tích lịch sử và danh thắng xứ Quảng, hy vọng rồi đây chúng ta sẽ có được bộ “Du ký Quảng Nam nửa đầu thế kỷ XX” phong phú và đầy đủ hơn, góp phần nâng cao sự hiểu biết và phát triển ngành du lịch trên quê hương ngàn năm văn vật.

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác