Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (tiếp theo)

>> Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX

 

Trong vòng mấy năm, khi đã bước sang tuổi bốn mươi, nhà báo Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục (1878-1954) có liền bốn bài du ký viết về các chuyến du ngoạn đến các điểm di tích lịch sử và danh thắng vùng ngoại thành Hà Nội. Bài du ký thứ nhất nhan đề Du Ngọc tân ký (Nam Phong, số 57, tháng 3-1922) viết về bến Ngọc Tân (nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội). Ở đoạn mở đầu, ký giả ghi lại cảm xúc trên đường đi qua vùng Hồ Tây:

“Ba giờ chiều ngày 30 tháng Mạnh Xuân năm Nhâm Tuất (1922), Tùng Vân cùng với năm ba người bạn thân hữu, tự thành Thăng Long lên chơi bến Ngạc, sự gì đâu, là ngẫu nhiên vô sự mà xui nên một cuộc du xuân vậy…

Trông ra mảnh gương Tây Hồ, nước đầy vằng vặc, gió thổi hiu hiu, rõ một bức tranh sơn thủy lâu đài vẽ bằng thủy mặc, treo riêng ra ngoài cõi phồn hoa, ông tạo hóa cũng tình lắm nhỉ, cũng ý vị lắm nhỉ! Ngửa mặt trông lên, thấy một đàn hâu bay lượn, xem ra có ý thỏa thích nhẹ nhàng; sực nhớ đến thuở xưa bà nữ kiệt nước Nam ta khi đóng quân ở đây, dưới thì bùn lầy, trên thì sa mù, con hâu hết sức bay, chỉ là là trên mặt nước! Trong bụng tự nhiên thấy cồn cào đau, hai hàng lệ muốn tuôn đầy, song chửa có thể đối với ai mà tuôn đầy ra được, rõ thật cảm thương người mà ngậm ngùi muôn thu; cho mới biết những người không có cảm tình đến lịch sử cổ kim, tuy có rủ nhau đi chơi chăng nữa, chẳng qua uống cốc cà phê, ngậm điếu xì gà, nhẩy lên xe cao su, bấm đồng hồ xem mấy giờ, mau mau đi cho đến nhà hát mà thôi, không bao giờ có cảm tình với cỏ hoa, cảm tình với non nước”...

Trong chuyến du xuân lần này, ký giả dường như hứng thú hơn với mấy tiệc trà, cuộc hát ả đào và đi đến nhận xét về các biến thái của lối hát ả đào thanh lịch một thuở xa xưa:

Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (tiếp theo) - ảnh 1
Hát cô đầu
“Cô đào ở bến Ngạc này, xét ra mọi vẻ thanh tao, mọi bề diễm lệ, còn kém xa những nơi đại ấp danh đô, nhưng khen thay cũng có một vẻ đặc sắc!

Cô đào bến Ngạc, rặt những cô đào ở nhà quê gia thế trong giáo phường, người thì qua tỉnh Hà Đông, kẻ thì sang đò Nhị Thủy mà lại đây; còn có vẻ thật thà, có nền mộc mạc; chưa biết cái chi chi là cái chông chênh, cái ngoa ngoắt, cái suồng sã, cái éo le; mà nghề ca nghề vũ đều biết nghề cả, tuy chưa có chị nào hay lắm khéo lắm, nhưng cũng không có chị nào đến nỗi đớn lắm mà mang tiếng giả danh; xét kỹ ra cũng có phong cách, có chế độ, có tính tình…

Hiện nay mới có sáu trọ hát, cái hình thức ở bề ngoài, xem ra cũng chưa có gì; nhưng xét cái tinh thần ở bề trong, thời những cô đào ở bến Ngạc nay, chắc đã có kinh qua con đường giáo dục, con đường pháp độ của các nhà tư tưởng, các nhà chính trị trong quý hương rồi đây chăng? Thôi thôi, ta không phải nghi ngờ chi nữa”…

Bài du ký thứ hai có nhan đề Du Tử Trầm sơn ký (Nam Phong, số 59, tháng 5-1922), Nguyễn Đôn Phục viết về chuyến thăm chùa Trầm và núi Tử Trầm (nay thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, ngoại thành Hà Nội):

“Năm Khải Định thứ bảy, đầu năm Nhâm Tuất (1922), tháng mộ Xuân, sau tiết Thanh minh, được buổi êm trời, chợt có người thân hữu lại rủ đi chơi núi Tử Trầm. Chao ôi! Núi Tử Trầm kia có xa gì đâu, nhà ta ở đối với núi Tử Trầm chỉ cách một cánh bãi, một con sông, một phía đồng, khi sớm ngày trở dậy mở cửa, trông ra phía tây nam, đã thấy sơn sắc mông lung ở đó; mà hang Tử Trầm kia, cũng vưỡn là cái hang ta mấy năm về trước ra vào thăm chơi; song ta cũng nhân vui lòng với thân hữu, mà miễn cưỡng sắp cuốc sắp xe…

Mới cùng người thân hữu lên xe, xe tự La Đình tiến phát, qua đò Mai Lĩnh, vào dốc Chúc Sơn, vừa mới trong mấy giây phút đồng hồ, đã trông thấy đợt cỏ xanh xanh, làn dâu biêng biếc, đầu non nhấp nhô, sườn núi quanh co, chó cắn ở trong mây, gà kêu ở bên đỗng, cải quan ngay ra cái khí sắc thái cổ, mà cái tung tích hồng trần, nghe ra hình như đã ly cách xa xa.

Lần theo trái núi Linh Sơn đi vòng, xe vào thẳng đến cửa hang; hang rộng ước vừa bốn năm người đi, cao khỏi đầu người, trong hang ngoài cửa thăng bằng vừa làn người đi; mới vào còn thâm thấp hèm hẹp, đi độ mươi bước thì thấy cao rộng lạ lùng, nghiễm nhiên là một tòa nhà đá của trời vậy; ở trong lại ngóc ngách có bốn năm cái hang; một cái hang trông lên hơi sang sáng, người ở đó bảo cái hang này là cái hang lên trời; một cái hang trông xuống tối om om, người ở đó bảo cái hang này là cái hang xuống âm phủ; lại có đôi ba hòn đá hình như con quy con tượng, nằm chắn ngay trước cửa hang, như bức bình phong vậy; đứng dưới trông lên, chính giữa cái hang lại có một cái cửa sổ hình tròn như miệng cái giếng thơi; tự dưới đáy hang lên đến cửa sổ, ước cao hơn tầm ngọn tre; khiến cho trong hang thường thường có ánh mặt trời sáng sủa như ở ngoài vậy; tuy không khí gặp lạnh, thường có rỏ xuống thạnh nhũ ít nhiều; nhưng trong hang vưỡn thấy ráo rẻ ôn hòa, mà khói hương và hơi người ở trong hang lại có sẵn đường mà phát tiết; nếu không có cái cửa sổ ấy, thì chắc là trong hang này đời đời kiếp kiếp, chỉ có đêm mà không có ngày, u u minh minh như thể đường âm vậy; ý giả ông thợ tạo muốn hiển cái kỳ cái xảo cho người ta xem. Chao ôi! Kỳ đâu kỳ bằng đây, xảo đâu xảo bằng đây; chỉ vì cái hang này gần gõi ở chốn trung đô, lắm kẻ đã từng xem, lắm người đã từng biết, cho nên lấy làm thường vậy. Xét ra hang Tử Trầm này thực là một nơi thắng tích ở thượng đô, cùng với hang Sài Sơn, hang Hương Tích cùng làm cái phong cảnh hay hớm lạ lùng chỗ dải con sông Hát vậy”…

Sau khi giải nghĩa sự tích và thăm thú thổ đài trên đỉnh núi và hành cung chúa Trịnh cùng hòn đá hình ông thần y Trâu Canh (trong bài đều viết Châu), ký giả đi đến nhận xét: “Xem ra thì núi Tử Trầm này, rõ ràng có vương tích và có tiên tích hẳn hoi; cứ lấy cái lệ chung chơi núi mà bàn ra thì hai cái sự tích hách dịch và lạ lùng ấy, thực cũng đáng làm lịch sử cho núi này, đáng làm danh dự cho núi này lắm lắm mới là phải; thế mà người nước Nam ta khi đi chơi núi Tử Trầm, chỉ biết có núi Tử Trầm, hình như không biết có sự tích Trịnh chúa, sự tích Châu Tiên là chi cả, mà cái thổ đài nọ, cái thạch trụ kia cũng cùng với bóng tà dương mà chung phe tịch mịch, cùng với hồn thu thảo mà chung xóm thê lương đó thôi; Ô hay! Sao thế nhỉ? Ô hay! Sao thế nhỉ?”…

Tác phẩm du ký thứ ba có tên Bài ký chơi Cổ Loa (Nam Phong, số 87, tháng 9-1924), Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục viết về một điểm di tích tối cổ ở ngoại thành Hà Nội. Trong cảm hứng du ngoạn “cái mục đích chỉ ở yêu mến lịch sử đấy mà thôi”, “đại khái là vì đường lịch sử mà đi chơi” vào đúng ngày trung thu và thể hiện tình nghĩa giữa những người làm báo Hà Nội - Sài Gòn, ký giả nêu rõ nguồn cơn:

“Người đi chơi cũng có lắm hạng, mà cuộc đi chơi cũng lắm đường… Như ngày rằm tháng tám năm Khải Định thứ chín, lịch Tây năm 1924 vừa rồi, tôi với ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Hữu Tiến, ông Nguyễn Háo Vĩnh, ông Phạm Văn Duyệt, cùng nhau đi chơi Cổ Loa thành, há vị gì đâu, cũng là vì chút cảm tình với lịch sử mà đi chơi vậy.

Cuộc đi chơi này, đã là cuộc đi chơi về lịch sử, thì cái lịch sử Loa thành này thế nào, chắc là phải có một đoạn sử bút khá dài, khá kì dị, khá ai oán, khá lâm ly, kí giả cũng không dám ngại phiền, xin tả rõ ra đây, để những khách hữu tình trong bạn đồng bang ta, cùng xem mà cùng cảm”...

Sau khi lược thuật lại lịch sử Loa Thành và truyền thuyết tấn bi kịch Mị Châu - Trọng Thủy, ký giả kể lại sự kỳ công của một chuyến du hành cách nội đô chừng ba bốn chục cây số:

“Xét như một đoạn quốc sử tự ra như trên, thì cái sự đi chơi Cổ Loa thành, anh em ta đã từng hàng ngày phảng phất ở trong khi mộng tưởng, rạo rực ở trong cuộc tiếu đàm. Duy đến tiết Trung thu năm Giáp Tý vừa rồi, thừa cái hứng đi chơi trăng ở Tây Hồ, làm phương pháp giải nhiệt vừa xong, lại nhân có ông Nguyễn Háo Vĩnh ở Nam Kỳ mới ra, sáu giờ sáng hôm rằm, mới hội cả lại ở nhà ông Thượng Chi. Chợt có một trận hảo phong tự phía tây nam đưa một cơn khinh vũ lại, ngày hôm ấy cái không khí viêm nhiệt, tức khắc chuyển biến ra cái không khí thanh lương. Tính ra, tự Hà Nội lên Xuân Kiều chỉ cách có ba ga; khi ấy ngồi trên xe lửa trông ra, khỏi ga Yên Viên một chút, thì đã thấy một dãy cây ở đàng xa xa, tù mù sâm si ở trên cái mô đất đó, tức là Cổ Loa thành vậy. Đến ga Xuân Kiều thì xuống xe, đi bộ vài mươi bước, trèo lên một cái đống như hình trán con voi, cao độ ngót vài trượng. Thân đống chia ra hai ngả, như hình cái cánh cung, một ngả vòng lên phía đông bắc, một ngả chạy thẳng vào gần đến chỗ trung tâm, rồi lại chuyển sang phía đông nam. Nhận ra thì hai ngả tức là hai cái bờ thành, mà cái đống ấy tức là chỗ góc thành. Đứng trên đống mà trông ra bốn bên, đàng đông thì trực tiếp ngay con đường Điền Việt thiết lộ, còn tây nam bắc ba mặt, chỗ thì cánh đồng sâu, chỗ thì mô đất phẳng, chỗ thì dãy cây dài, chỗ thì thôn trúc biếc; sắc đất thì chỗ vàng chỗ đỏ; làn đất thì tầng tầng đợt đợt nổi lên, chỗ thì thẳng như cái chỉ đặt, chỗ thì đứt như người cắt ra. Xem ra, hình thế thì khuất khúc quanh co, còn ẩn có chiều vượng khí, cỏ hoa thì lăn tăn u uất, vẫn in có vẻ thương tâm. Ông Phạm Văn Duyệt sẵn có bộ máy chụp ảnh mang đi, mà khí trời bấy giờ lại vừa tốt, hẵng bắt đầu chụp lấy một bức ảnh, để ghi lấy cái quang cảnh thành cổ mà người kim”...

Trong một ngày dài, các bậc ký giả xuất sắc trong làng báo đương thời đã qua thăm chợ Sa, xóm Hương Nhai, đình “Ngự triều di qui” tương truyền là chỗ triều hội bách quan, miếu Bà Chúa thờ Mị Châu, rồi ra thăm khu đền chính thờ An Dương Vương, thăm giếng Ngọc Tỉnh, lầu Ngọc Đôi… Đặc biệt khi đến thăm khu chính điện, Nguyễn Đôn Phục vừa bộc lộ cảm xúc vừa bày tỏ thái độ mà đến hôm nay vẫn còn nguyên ý nghĩa khoa học và tính thời sự: “Điện thấy đề là Chính pháp điện, nét vàng còn sáng còn tươi, mà nét chữ với lối chữ thì thật cổ. Nào là tiền điện, nào là nội điện, nào là phương đình ở trung tâm, nào là dịch đình ở đôi bên tả hữu, nhưng rặt là qui chế mới sửa sang lại, khoảng ba bốn mươi năm nay, không thấy cái gì là qui chế cổ cả. Nghe những người kỳ lão ở đây nói qui chế cổ thì thấp hơn và rộng hơn, làm ra đủ có chín tầng, mà đường ngự đạo lát đá đi thẳng mãi vào tận chỗ trung tâm. Tiếc thay mình không được xem cái qui chế ấy. Mà cái văn minh thuộc về mỹ thuật ở cận đại, chửa tất đã hơn được cái văn minh đời cổ sơ. Tôi chỉ ước ao rằng, phàm những nơi đình chùa miếu vũ ở các làng, dù có lâu ngày mà phải tu tạo lại, thì cứ nên theo như qui chế cổ mà làm, dù có muốn trang sức thêm chăng nữa, thì làm riêng hẳn ra một tòa đình mói, cũng bất phương. Khiến cho người xem biết thế là cái văn minh thượng cổ, thế là cái văn minh cận đại, thế là cái văn minh hiện thời. Đó cũng là một sự quan hệ về đường văn hóa của nòi giống, quốc dân ta cũng nên lưu tâm”…

Nguyễn Đôn Phục kể rõ, vào buổi chiều, cả đoàn cùng nghe hát ả đào và tỏ ý khen vẻ chân phương của ả đào miền quê bình dị: “Nhân hỏi qua tục lệ đình này, rồi phiền với các ông viên chức cắt người cho triệu ra đây. Khi các ả ra, thì thấy đội nón thắt, lồng quai mây, áo nâu non, quần chồi, thắt lưng ra ngoài, nét mặt thì đầy đợm, da thì ngăm ngăm da nâu, tuyệt nhiên không có màu son phấn gì cả, mà lại rụt rè bẽn lẽn, coi ra khác với các ả ở Thái Hà, ở Hàng Giấy và ở Bạch Mai lắm lắm”…

Ngày vui ngắn chẳng tày gang… Nguyễn Đôn Phục đi đến đoạn kết cho một chuyến du ngoạn ngoại thành:

“Hát xong, trời đã xế chiều. Ông Phạm Văn Duyệt thì đi tiêu dao ngắm cảnh. Ông Nguyễn Hữu Tiến, ông Nguyễn Háo Vĩnh thì đi ra Ngọc Tỉnh tắm mát. Sự tắm mát ở cái Ngọc Tỉnh ấy, ông Nguyễn Háo Vĩnh vẫn có cái nhiệt thành ước ao; ông lại lấy hai chai nước Ngọc Tỉnh để đem về Nam Kỳ, cũng đủ hiểu ra cái lòng ông đối với lịch sử, đối với cổ tích nước nhà, có nhiệt độ khác thường. Ông Phạm Quỳnh thì ngồi lại chuyện trò với mấy ông viên chức trong làng cho tỏ lòng thân ái. Tôi thì dạo qua sang miếu bà Chúa, xét lại cái cổ tích cho rõ ràng. Bấy giờ, ở dưới gốc cây, sẵn có cái ghế, mà cùng hòa với không khí thì lại hinh hương thoảng mát khác thường. Tôi mới ngồi xuống, chỉ một mình với cái cây và khóm hoa, tự hồ trông nhau mà không chán. Chợt có chị ả đào chạy lại, khoản khúc cái lễ nhất kiến, ân cần câu chuyện cố bang, tôi nhân hỏi thử cái sự tích bà Chúa thế nào, thì ả ấy cũng mập mờ. Cho mới biết quốc văn mà không phát đạt, thì quốc sử cũng là tiêu trầm.

Khi sắp sửa về, lại cùng nhau chụp một bức ảnh tán đàn, vài ông viên chức trong làng với chị ả đào cũng có dự ảnh. Các ông viên chức lại tiễn tống ra khỏi cửa đình, anh em ta lại có lời cảm ơn mấy ông viên chức, rồi trở ra về. Khi về, lại do lối cũ, chị ả đào cũng đưa chân ra khỏi ngõ Hương Nhai. Bấy giờ, ngày thì chiều, bóng cây với bóng trúc thì mát, trông ra những thức hoa cỏ lăn tăn ở trên mặt thành, có ý gay gắt với bóng tà dương, lại khác với cái quang cảnh buổi sớm ngày lắm.

Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (tiếp theo) - ảnh 2
Cổng đền Cổ Loa
Mới ra thăm mả nàng Mị Châu. Mả thì ở giữa cánh đồng lúa, phải đi len lỏi vào những bờ lúa con con, mới ra được. Thấy một vùng vừa cỏ vừa đất, dài và vuông, phỏng độ bốn năm gian nhà, xung quanh xây gạch, cao độ một thước An Nam. Trên vùng đất có một cái bệ vuông bằng vôi, sắc vôi thì cũng đã cũ kỹ lâu ngày. Xét ra, nắm xương nàng Mị Châu đã gieo xuống sườn bể Mộ Dạ rồi, không phải là có gửi ở đây, khi cái hòn oan thạch theo cái ngọn nước triều ở Nam Hải trôi về, thì đậu lại ở đây, rồi dân đây mới đem hòn đá về miếu phụng thờ, mà ở đây thì xây đắp lên làm mả. Nhưng dù thế nào mặc lòng, người đã oan, thì cảnh nào mà cảnh chẳng oan. Đến bây giờ trông ra sè sè nấm đất bên thành, rầu rầu ngọn cỏ nửa xanh nửa vàng. Người trước đành đó, người sau thế nào? Anh em ta cũng chỉ xin khấn rằng quốc dân ta làm thế nào cho học vấn được bằng người, cho lễ nghĩa liêm sỉ được sáng sủa, cho quốc văn được phát đạt, cho quốc hồn được du dương, cho nòi giống Hồng Lạc được nảy nở, khiến cho mồ đây không đến nỗi là vô chủ, mà năm năm tháng tháng ngày ngày, còn có kẻ viếng thăm. Nhân chụp một bức ảnh làm kỷ niệm. Rồi lại quanh lên đường thành, nghỉ chỗ bóng mát một chốc, ông thì đi dạo trên mặt thành, ông thì ngồi lặng trên vùng cỏ, ông thì rủ nhau nhổ lấy một vài cụm hoa. Đúng giờ rồi ra ga.

Khi về đến Hà Nội, thì trời đã hoàng hôn, cùng nhau đàm đạo lại một chút, rồi rẽ lối lên xe. Khi đó, các ông có ủy cho tôi làm một bài ký. Tôi nhân ngồi trên xe, trầm ngâm chiển chuyển, cầu lấy một cái triết lý để giải oan cho người đời xưa, còn đương lúng túng, nhác trông ra, thì đã hóa ra phong cảnh Hồ Tây, đi một lúc nữa, lại hóa ra phong cảnh bến Mạc. Tối hôm ấy tôi chơi trăng ở bến Mạc, mà bóng trăng thì suốt đêm cứ chảng vảng mập mờ, thỉnh thoảng hơi hé ra được một tí, thì lại có một cái đám mây mong mỏng che phủ ngay đi. Khác nào như một người đàn bà trinh thục náu ở trong bức rèm thưa, có cái tình tự u uẩn gì, muốn nói mà lại không nói. Mới hay cái trận mưa sáng ngày, với cái bóng trăng tối hôm nay, thật là ngẫu nhiên, nhưng mà hình như không phải ngẫu nhiên vậy”...

Bài du ký thứ tư có tên Cuộc đi chơi Sài Sơn (Nam Phong, số 93, tháng 3-1925), Nguyễn Đôn Phục nối tiếp Lê Đình Thắng (người đã viết Bài ký chơi chùa Thầy) lại có thêm chuyến đi mới với những điểm quan sát mới, cách cảm nhận mới:

"Năm lịch năm Khải Định thứ mười (1925), ngày mồng sáu tháng Ba, ký giả với các ngài thân hữu tự Hà Nội qua cầu Hát Giang và huyện Thạch Thất, về phủ Quốc Uy, lên núi Sài Sơn; đó là một cuộc hào hứng đi chơi trong buổi nhàn hạ...

Núi Sài nguy nga khởi lên, ngọn cao cùng ngọn thấp, liên lạc với nhau, kể có sáu bảy ngọn. Đại khái chia ra có ba mặt. Một mặt giáp ngay ở phía chùa, thì có đường đi lên chợ trời và vào hang Thánh Hóa. Một mặt ở về cuối làng Đa Phúc, thì lưng chừng núi có hang Cắc Cớ. Một mặt ở về đầu làng Thụy Khuê, thì trên núi có chùa một mái, có hang bụt mọc, có đỗng gió lùa. Núi Sài có nhiều phong cảnh lạ, người thì thích chỗ nọ, người thì thích chỗ kia. Khi lên núi, anh em đều tùy ý tự do. Ký giả mới bắt đầu tìm đường đi lên chợ trời.

Chao ôi! Mình nguyên vẫn là một phái ít tiền mà nhiều sự muốn. Bấy lâu dìu dặt ở trong cuộc đời, muốn mua danh không đủ tiền mà mua, muốn chuộc lợi cũng không đủ tiền mà chuộc. Âu cũng muốn lên trời một chút, để ngó xem cái đường danh lợi ở trên đó ra làm sao. Cho nên bấy lâu nghe cái tiếng "chợ trời", chẳng biết có quả là trời, quả là chợ đấy hay không, nhưng lòng mình vẫn sẵn lòng hăm hở. Khi đó lóp ngóp mà trèo lên.

Đường đi lên chợ trời, nguyên vẫn không có bậc đá mà đi lên, lởm chởm quanh co, chẳng qua hòn đá nọ chuyền sang hòn đá kia, người lên như thể con vượn leo vậy. Hôm ấy chửa phải là ngày chính hội, cho nên đường đi lên chợ trời, hãy còn vắng teo. Mình khi ấy cũng không có người đưa lên, chỉ nhận hòn đá nào hơi có vệt nhẵn, thì cứ hòn đá ấy mà trèo lên. Trông sang hai bên vệ đường đá, thì phần nhiều có những thứ trúc lăn tăn ở khe đá mọc ra, trông cũng vui mắt. Kịp đi lên đến nơi, thì đã thấy một bọn năm bảy cô con gái, trạc độ mười tám đôi mươi, hoặc mười năm mười sáu; cô thì đứng, cô thì ngồi, đương cười nói, chỉ trỏ. Mình sực lên, hoảng nhiên là cái chợ tiên nữ vậy. Cô thì nói rằng: "Mình tự thủa bé đến giờ mới lên chợ trời". Cô thì nói rằng: "Ngỡ là chợ trời có những gì!". Cô thì nói rằng: "Chợ trời lại như chợ ta ấy ư!"... Nghe những lời ấy, chẳng khác gì một bài nghiên cứu về khoa học thiên nhân, mà giải thích cho chợ trời đó. Trông ra thì thuần là mầu con gái nhà quê, chất phát tự nhiên, lại chẳng khác gì cái hoa đào ở trong suối Vũ Lăng, chửa trải qua một hồi mưa Âu gió Mỹ vậy. Các cô ngồi đứng ở trên đó, độ một vài phút, rồi ù ù kéo xuống, thế là chợ tan; lại hoảng nhiên như người tiên nữ chợt biến đi vậy. Còn một mình đứng lại, ngắm nghía ít lâu, thì chợ trời quả nhiên là nhiều của lắm. Cỏ hoa bốn mùa, không bao giờ hết, gió mây bốn mặt, không cái gì ngăn. Duy cái danh với cái lợi, thì bới đâu cũng chẳng còn, dòm đâu cũng chẳng thấy. Sẽ biết cái lời: "Chợ trời lại như chợ ta ấy ư!" của người thiếu nữ vừa rồi, thật là một lời phán đoán được chân xác mà lại có thú vị vô cùng ...

Nhận ra thì chỗ chợ trời tức là chỗ tuyệt đỉnh núi Sài. Trên đỉnh núi đá, có một chỗ đất phẳng hình tròn, rộng vào độ năm bảy bước chân, có thể dung được độ chín mười người. Chung quanh lại có những hòn đá lởm chởm mọc lên, tựa như chỗ bán hàng. Ở chỗ đất bằng phẳng thì lún phún có những vầng cỏ nhỏ. Ở chung quanh thì thuần có một giống dứa (dứa ăn quả) ở kẽ đá mọc ra. Ở bên cạnh về mé tây, có một vài cây hoa đại, hình đã cổ, mà sinh khí vẫn thấy nảy ra, hoa thơm phưng phức. Cái quang cảnh chợ trời ngày nay, trông cũng có khác cái quang cảnh chợ trời ngày xưa. Vì ở giữa chợ, lại thấy có một cái mốc lù lù xây lên bằng gạch, xây vào độ mấy năm nay, cao độ ngót một thước tây. Cái mốc ở trên núi Sài ngày nay, chừng cũng như cái cột máy đèn ở trên Ngọc Sơn hồ Hoàn Kiếm năm nọ vậy. Duy cái đất ở trên tuyệt đỉnh núi đá, thì thuộc về thiên tạo, hay là thuộc về nhân tạo? Người để tâm về địa chất học cũng nên nghiên cứu.

Ký giả đến lúc xuống, anh em lại gặp nhau cả ở cửa chùa Đính Sơn, người thì ở trên trời mới về, người thì ở trong hang mới ra, khi đó hỏi nhau cũng là một cái thú trong cuộc đi chơi núi"...

Bên cạnh những chuyến viếng thăm các thắng cảnh và di tích lịch sử, nhiều bài du ký lại hướng về các kỳ lễ hội hay những cuộc vui do chính con người bày đặt ra. Một trong những thú vui đó là nghe ca hát trên sông, chơi trăng và ngắm trăng trên sông Nhuệ. Liên quan đến những cuộc vui trên sông này có đến ba bài du ký. Bài thứ nhất của Nguyễn Mạnh Hồng có tên Cuộc chơi trăng trên sông Nhuệ (Nam Phong, số 96, tháng 6-1925) nhấn mạnh tình bè bạn và vẻ đẹp đêm trăng bằng giọng văn tự thuật êm đềm:

“Đêm hôm rằm tháng Năm năm nay, tức là năm Khải Định thứ 10 (Ất Sửu) mà Tây lịch là năm 1925, ký giả đang ngồi trong thư phòng xem sách, chợt có hai ông bạn đến thăm, là Phạm quân mới đỗ Tú tài bản xứ kỳ năm nay và Trần quân làm thư ký tòa Công sứ bản tỉnh (Hà Đông). Tiết hạ nồng nàn, ngồi trong nhà mà nói chuyện vã, cũng không sao chịu được. Nhân cái cảnh trăng tỏ, mây quang, anh em mới rủ nhau ra chơi ngoài vườn hoa trên bờ sông Nhuệ.

Trong vườn này cây cối bum tùm, cỏ hoa mơn mởn, đèn điện sáng trưng, thành thử ra làm giảm mất cả cái nhan sắc của chị Hằng đi. Giá những đêm như đêm nay, họ tắt bớt những đèn trong vườn đi, để đêm nào tối trời hãy thắp, thì cái cảnh “bóng trăng vằng vặc đêm rằm” lẩn vào bóng cây thấp thoáng ẩn hiện, u minh, đáng nên thi vị biết dường nào! Cho hay cái khéo nhân công có bao giờ đẹp đẽ bằng cái tài thiên xảo được! Xế cửa cái nhà “xec” (cercle) trong vườn, ngay trên bờ sông, có một vùng cỏ, sửa sang rất sạch sẽ, trên bày mấy bộ bàn ghế bằng sắt sơn màu trắng là chỗ để về hạ thiên, người Tây họ ngồi chơi mát. Bọn chúng tôi mới ngồi xuống đấy, cùng nhau nói chuyện phiếm cho đỡ buồn. Ngồi ngắm nghía cái quang cảnh vườn hoa trăng chiếu, lại sực nhớ đến câu trong Truyện Kiều: “Nhặt thưa gương rọi đầu cành”, thật là tả được như hệt vậy. Một ông mới nói bỡn rằng: “Cảnh này giá lại có một người giai nhân thấp thoáng nữa thì còn gì đẹp bằng! Thật là tiên cảnh!”. Mà Lạ thay, những chốn thế này lại ít người lai vãng, ban đêm thường vắng ngắt như chùa Bà Đanh; nhưng nếu lại đông người huyên náo, thì lại không phải là chỗ chơi cao thượng của những khách phong lưu. Một chốc, thấy một người Tây dắt một lũ đầm vào uống rượu trong nhà “xéc”. Đến lúc trở ra, họ toan lại ngồi chỗ vùng cỏ, nhưng có chúng tôi ngồi đấy, lại bảo nhau đi ra, ý chừng họ cũng không muốn gần người mình chăng!

Đêm hôm ấy, trên thì con ngọc thỏ long lanh, dải Ngân hà trắng xóa; dưới thì mặt sông phẳng lặng, dòng nước trong veo, cành cây gió lướt, ngọn cỏ sương dầm. Mình ngồi chơi với nhau, ngắm cái phong cảnh hữu tình đó, tự nhiên sinh ra nhiều cảm tưởng.

Kìa cái mảnh gương trong ngọc trắng lơ lửng giữa trời kia, nhuần nhã, quang minh, đáng nên thơ, nên mộng biết dường nào, khiến cho khách trần gian những mơ tưởng, những chờ mong, những yêu đương, những trách oán!

Nào trai tài, gái sắc, thề thốt cùng nhau, cũng viện trăng ra làm chứng”…

Bài du ký thứ hai cũng của Nguyễn Mạnh Hồng có tên Cuộc thưởng ca ở làng Hữu Thanh Oai (Nam Phong, số 100, tháng 10+11-1925). Làng Hữu Thanh Oai, tục gọi làng Tó, nay thuộc xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Câu chuyện cuộc thưởng ca đầy cảm tính, tùy hứng và cũng đầy chất nghệ sĩ, lãng tử:

“Phàm những khách hàn mặc, xưa nay chỉ cặm cụi vào việc kê cứu trong chốn văn phòng, thư viện, ít khi được vận động đến thân thể, thư thái cho tinh thần; tuy về đường học vấn thì được bổ ích nhiều, nhưng về phép vệ sinh thì lại tổn hại lắm. Cho nên cũng có lúc phải rời bỏ vòng câu thúc mà ra tiêu dao phóng khoáng ở những chốn nước biếc, non xanh, trăng trong, gió mát; hoặc là đi quan phong các miền thôn dã; hoặc là đi ngoạn cảnh những chốn lâm toàn, cho khoan khoái tâm hồn và rộng thêm đường kiến văn, lịch lãm vậy.

Bạn đồng chí chúng tôi là ông Phạm Thượng Chi, ông Nguyễn Đông Châu, ông Nguyễn Tùng Vân và ký giả vốn là những người thích đi du lãm, nhân ông Mai Khê sẵn bụng ân cần trân trọng đón chúng tôi về chơi tận quý hương ông là làng Hữu Thanh Oai, giữa chiều hôm 14 tháng 8 ta, tức là ngày mùng 1 tháng 10 Tây mới rồi, để thưởng một cuộc dã ca tự ông tổ chức nên ở con sông ấy.

Khoảng 6 giờ chiều hôm ấy, ông Mai Khê đón chúng tôi ở tỉnh lỵ Hà Đông, rồi cùng lên xe tay đi thẳng về chợ Tó. Đến đó đỗ xe rồi xuống thuyền theo con sông Nhuệ, đổ xuôi xuống bến làng Hữu. Chiếc thuyền chở bọn chúng tôi, đó nguyên là tự ông Mai Khê đã dự bị sẵn sàng từ trước, đã giương mui, giải chiếu chỉnh tề, lại kết lá, treo đèn rực rỡ; trông cũng có cái vẻ tôn nghiêm và trang nhã lắm. Một lá thuyền lan, mấy con chèo quế, thuận buồm, xuôi gió, đủng đỉnh bơi giữa dòng sông…

Ông Mai Khê bèn cố hết sức đi tìm khắp trong hàng tổng lấy mấy người, vừa nam, vừa nữ có thể hát được, rồi ông thuê mấy chiếc thuyền tụ hội cả ở khúc sông ngay ngõ nhà ông ra, lấy đấy làm nơi ca tịch. Ông lại treo giải để thưởng khuyến bọn ca nhân.

Thế mới biết nghề chơi cũng lắm công phu thật! Rồi nào tân, nào chủ, nào gia quyến, nào hương nhân, ước tới trăm người, đứng quây quần cả ở trên bờ và dưới nước để nghe hát; trông rõ ra cái cảnh tượng thái bình, dân gian lạc thú! Bọn ca giả thì bên nam ngồi một thuyền, bên nữ ngồi một thuyền! Khi hát thì bên nam xướng lên trước, bên nữ họa lại sau, hai bên hát đối nhau chầm chập. Lối hát này, khi bắt đầu hát thì cất cao giọng lên, rồi dần dần hạ thấp xuống, giọng cũng đủ cả khi lên bổng, khi xuống trầm, khi ngân hơi, khi hãm giọng. Song, những câu hát thì phần nhiều là những câu giao tình du hý, như những câu hát đúm, hát trống quân vậy; lại thêm có những tiếng trợ ngữ ngô nghê chẳng ra ý nghĩa gì cả…

Bấy giờ trời đã gần trưa, đồng nhân chúng tôi bèn từ biệt ba ông, rồi xuống thuyền trở lên tỉnh. Lúc ngồi dưới thuyền trông lên, thấy các làng ở san sát hai dải duyên giang cũng có vẻ phồn thịnh lắm. Trên bến, dưới thuyền, thật là tiện đường giao thông vận tải cho những làng ở ven sông.

Khi lên đến bến Hà Đông, ông Thượng Chi và ông Đông Châu thì trở ra Hà Nội; còn ký giả và ông Tùng Vân thì cùng nhau tản bộ đồng hành về thăm nơi cố lý.

Thôi! Chả gì cũng là một cuộc phiếm du; dù xa, dù gần, dù lâu, dù chóng mặc lòng, trở về cũng tạm mượn ngòi bút quê kịch cóp nhặt dông dài lấy mấy trang đuểnh đoảng ra đây gọi là để làm một bài kỷ sự cỏn con, và để ghi tấm cảm tình cùng làng tri kỷ. Khéo, vụng, hay, hèn, duyệt giả cũng lượng cho”…

Bài du ký thứ ba là của Mai Khê (dịch giả tiểu thuyết Tuyết hồng lệ sử nổi tiếng của Từ Trẩm Á) có nhan đề Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Nam Phong, số 101, tháng 12-1925) dường như là một sự hô ứng với bài Cuộc thưởng ca ở làng Hữu Thanh Oai của Nguyễn Mạnh Hồng nêu trên và cũng là lời đáp lại những người bạn đã nhắc đến cuộc chơi trăng. Đáng chú ý là tác giả mô tả kỹ lưỡng dòng chảy sông Nhuệ mà ngày nay nhiều đoạn đã bị bồi lấp, ô nhiễm nặng nề:

“Xứ Hữu Thanh Oai này có con sông Nhuệ Giang là con sông nhỏ, ở về phận nội đê, cho nên cũng nhất danh là Nội Hà, kể là con sông cũng tầm thường, không có danh tiếng, phát nguyên ở giữa quãng bình nguyên từ làng Hạ Mỗ cho đến cống Tây Tựu thuộc Hoài Đức, thì hãy còn là một cái ngòi, từ Tây Tựu đến địa phận Đại Mỗ thì đã hơi to, Đại Mỗ xuôi xuống mới thành một con sông, trên nhỏ dưới to, hình nhọn như cái dùi cho nên gọi là sông Nhuệ, thật là con sông thiên tạo vậy. Cổ ngữ nói rằng: “Nhuệ Giang vô thủ” cũng là nghĩa ấy; xuôi xuống cầu Tổ Nhị (tục gọi là cầu Tó) thuộc về đầu tổng Tả Thanh Oai cho hết địa phận tổng Tả, đoạn ấy gọi tên riêng, là sông Tó, hết Thanh Oai rồi đến Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Duy Tiên, xuống tận cống Mang Giang rồi chẩy ra đại hà.

Trên không phát nguyên từ rừng, cho nên nước nguồn phù sa không có, dưới không thông đến bể, cho nên nước thủy triều không vào; cả xứ Bắc Kỳ này như sông Nhị Hà, sông Dâu, sông Luống, sông Hát, sông Cầu, sông Bạch Đằng, sông Kỳ Cùng, sông Hoàng Giang, các sông nào cũng trên từ rừng, dưới phóng ra bể cả, duy sông Nhuệ không như thế mà thôi”...

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

(Còn nữa)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác