Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (kỳ cuối)

 

>> Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX

>> Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (tiếp theo)

 

Vào chặng cuối nửa đầu thế kỷ XX, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng (1899-1974) với bài Hà Nội ngày nay không như Hà Nội dưới mắt nhà học giả Trương Vĩnh Ký (Tri tân, số 4, tháng 6-1941) đã đi sâu tìm hiểu, nhận xét, đối chiếu cảnh quan Hà Nội đương thời so với những ghi chép của học giả Trương Vĩnh Ký khoảng bảy mươi năm về trước. Sau đoạn trích dẫn, Nguyễn Tường Phượng nhấn mạnh những sự còn mất, đổi thay qua hai phần ba thế kỷ:

“Thì ra trong khi ông Trương Vĩnh Ký ở Hà Nội đã đi xem khắp cả kinh thành. Theo đoạn trên, ông đã xem chùa Quan Thượng, Thành cũ, Cột Cờ, đền Trấn Vũ và chùa Một Cột.

Từ năm 1876 đến nay, nghĩa là trong khoảng gần 70 năm, Hà Nội đã thay đổi những gì?

Ta thử nghĩ xem có đúng như câu chuyện của Trương Vĩnh Ký đã kể?

Chùa Quan Thượng? Nay là Phòng Thương mại, nhà Địa ốc! Di tích của chùa còn trơ một cái Hòa Phong tháp sừng sững ở ven hồ. Mà xung quanh chùa khi xưa là nước, thì nay lại đường phố, sạch sẽ, giải dựa, lại thêm tàu điện, xe cộ đi lại như mắc cửi, có chăng còn lại câu truyền miệng: Trước đền Quan Thượng, sau hồ Hoàn Gươm”...

Nhưng chùa Quan Thượng là gì? Đó là cách gọi theo tên ông Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai (?-1854), người đã có công xây dựng chùa Báo Ân, còn gọi chùa Liên Trì. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi rõ: “Chùa Liên Trì ở thôn Cựu Lâu là chỗ cũ của lầu Ngũ Long đời Lê. Đầu đời Thiệu Trị, Hà Ninh Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai dựng chùa”. Chùa hình bát giác, có đến mấy chục nếp nhà với 180 gian, nhiều lầu chuông, lầu trống, ao sen. Nơi cụ Nguyễn Tường Phượng gọi là Phòng Thương mại nay đổi làm nhà Bưu điện quốc tế, nhà Địa ốc nay là cửa hàng vàng bạc. Tất cả đều do người Pháp thiết kế và xây dựng, vẫn giữ được vẻ hiện đại, sang trọng và bền vững, hầu như không thay đổi gì so với sáu bảy chục năm trước. Riêng tháp Hòa Phong vẫn còn nguyên, xế trước cửa nhà Bưu điện, sát bên đường bờ hồ Hoàn Kiếm. Nhiều người đi qua vẫn không để ý mà ngơ ngác hỏi: Tháp Hòa Phong ở đâu nhỉ?

Từ đây, Nguyễn Tường Phượng tiếp tục quan sát và so sánh, bình luận:

“Đến như thành cũ thì phá bỏ gần hết! Việc phá bỏ những thành cũ làm vào năm 1897. Công việc này cần phải làm vì cứ theo như trong bài của Trương Vĩnh Ký, thì còn “một hai cung điện cũ chỗ vua Lê ở thuở xưa, bây giờ hư tệ còn tích lại đó mà thôi”, nên cần phải phá đi cho sạch sẽ, quang đãng.

Tuy thế, cũng có nhà hiếu cổ tỏ lòng mến tiếc. Chính quan cố Toàn quyền Doumer đã viết: “Tôi sang khí chậm, không giữ kịp những chỗ cần thiết, nhất là những cổng thành càng nên giữ lại. Những cổng ấy có một ý nghĩa lớn, có quan hệ mật thiết đến lịch sử, đáng cho ta phải kính nể. Để những cửa ấy sẽ làm cho các phố sau này đẹp thêm mà cũng không sợ ngăn trở sự xe cộ đi lại và sự mở mang đường xá, cũng tỉ như cổng Khải hoàn môn Eoile ở Paris”.

Những cổng thì không còn mấy nhưng Cột Cờ cao “chót vót” vẫn y nguyên, chỉ khác khi xưa thì treo cờ vàng mà nay làm đài vô tuyến điện. Ông Trương Vĩnh Ký chỉ đứng ngoài xem, nên chỉ kể lược qua về cột cờ ấy.

Cột cờ này từ niên hiệu Gia Long thứ 11 (1812) có ba tầng: tầng dưới nhớn nhất đo được 42 thước một góc, tầng thứ ba bé nhất 15 thước.

Ở tầng thứ hai, trừ một cửa trên biển ngạch còn ghi chữ tên ba cửa kia:

Cửa phía đông là Nghênh húc (đón vầng mặt giời buổi sớm).

Cửa phía nam là Hướng minh (hướng về sáng sủa).

Cửa phía tây là Hồi quang (quay về ánh sáng).

Trên tầng thứ ba có một cái cột cao xây lục lăng, có hai thang xoáy ốc đi riêng lên từng thượng, nhưng nay chỉ còn dùng được một thang, trên biển ngạch có đề hai chữ “Kỳ đài” (Cột cờ).

Nhà Kính Thiên có “cột lớn trót ôm”, dỡ đi năm 1886. Nay cũng không còn gì. Trên nền nhà ấy hiện giờ là Sở Pháo thủ (Direction de l’artillerie) nhưng còn lại các bực đá thanh có bao lơn rồng đá chạy mà theo nhà khảo cổ, thì đó là từ đời nhà Lý và nghe đâu trường Viễn Đông Bác cổ có ghi vào sổ bảo tồn.

Đến như chùa Một Cột và đền Trấn Võ, quang cảnh ấy khác xưa nhiều lắm! Vì hiện nay hai nơi ấy đã được tu sửa lại và trông nom đến luôn.

Khách du quan ngày nay, nếu lại đóng vai như nhà học giả họ Trương ra Bắc, rồi chiếu bản đồ Hà Nội cũ mà thăm lại các nơi ấy, sẽ phải ngạc nhiên vì thấy một quang cảnh đẹp đẽ, mới lạ, không còn như lúc cách đây 60, 70 năm, chắc cũng ngậm ngùi như cụ Nguyễn Du mà hoài cổ bằng câu: Thiên niên cựu quách thành quan đạo/ Nhất phiến tân thành một cố cung(Tuyển in trong sách Tạp chí Tri tân - Truyện và ký. Lại Nguyên Ân và Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm. NXB Hội Nhà văn, H., 2000)…

Tiếp nối dòng cảm hứng so sánh sự mới - cũ chốn kinh kỳ, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng có thêm bài du ký Hà Nội xưa và… nay (Tri tân, số 8, tháng 7-1941) thực sự giàu chất khảo cứu và bộc lộ niềm vui về một Hà Nội đang đổi thay, phát triển:

Hà Nội ba mươi sáu phố phường/ Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh... Câu hát ấy chỉ cho ta biết Hà Nội là một tỉnh nhiều phố, nhiều phường và trong những phường, phố ấy đều có một thứ buôn riêng, đến nay vẫn còn tên cũ mặc dầu trong phố không còn hoặc ít thứ hàng ấy. Thì như: Hàng Vải Thâm nay buôn giấy bản, v.v...

Nếu ta sống lùi lại năm, sáu mươi năm trước và hỏi lại các bậc cố lão, thì cố đô Thăng Long (các nhà truyền giáo gọi là Kẻ Chợ) của các triều trước khác hẳn với thành phố Hà Nội ngày nay.

Tỉnh chia làm hai phần: Thành các quan ở và ở phía đông thành là những phường phố.

Phường phố, vị trí ở trong khoảng từ hồ Hoàn Kiếm đến bờ sông Nhị Hà.

Tiếng gọi là phố, giá gọi từng "khu" một thì đúng hơn, nhưng ít nhà ngói, còn thì nhà lá làm lộn xộn, quang cảnh giống như một cái làng to. Có nhà làm quay hướng ra các hồ, ao.

Thành các quan ở có tường cao, hào sâu. Các phố có hàng rào và cửa chắn.

Một di tích còn lại ngày nay, cổng ô ở Phố Mới, thường được gọi là ô Quan Chưởng và tên chữ là Đông Hà môn (Cổng này xây năm 1749 (niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê) để phòng giữ kinh thành về mặt sông Nhị Hà. Theo Maspero, Bulletin EFEO 1910, p.562. Cổng có tường bao lớn, có vòm canh và ngay lối đi còn một tấm bia, khắc năm Tự Đức thứ 34 (1882) cấm người canh cổng không được vòi tiền của người qua cổng).

Ngoài cái cổng này, các phố trông ra sông Nhị Hà cũng có cổng như ô Hàng Đậu, ô Hàng Mã, ô Hàng Mắm (còn gọi là ô Ưu Nghĩa), ô Hàng Sũ; nhưng các cổng này đều phá đi cả.

Đêm đến, các phố đều không thông với nhau nữa, vì các cổng đóng. Cổng ấy xây chắn ngang phố, hai bên cổng có dán yết thị của quan Tổng đốc và quan Phòng thành cấm dân sự về việc đi đêm. Những cổng trên có cánh rất to, có toang vuông hoặc tròn, nặng tới ba người khiêng; tối đóng rồi thì ít khi mở, chỉ trừ lúc có lệnh trên.

Hồi ấy khu các Hoa kiều ở là phố Hàng Ngang đẹp hơn cả, vì cổng xây gạch, có bao lơn, rất chắc chắn, lại có vòm canh để phu điếm đứng, cho nên muốn vào khu ấy rất khó khăn.

Cổng ở Hàng Gai thật sơ sài, chỉ là một bức tường xây có khoét cửa vuông chữ nhật như các nhà thường. Còn các phố nhỏ không có cổng gạch, chỉ có hàng rào gỗ hay tre, chòi canh lợp gianh hay lá, để phu điếm đứng tránh gió mưa.

Phố xá hồi ấy thế nào?

Trừ phố khách có lát đá tảng ở giữa lối đi, còn các phố khác đều là đường đất bùn ngập đến mắt cá chân; lại thêm rác bẩn của các nhà và khách bộ hành vứt ra đường, không ai quét dọn! Mùa mưa, thật là lầy lội. Một vài phố có lối lát gạch ở giữa, nhưng chỉ có một hàng để đủ đi lúc giời mưa cho khỏi lấm chân thôi.

Hai bên vệ đường không có rãnh cống chi cả. Nước mưa ứ đọng lại, đến mùa viêm nhiệt, uế khí xông lên rất bẩn thỉu. Cho nên trong phố thường có bệnh thời khí!

Còn nhà hàng phố thì ai làm nhà đều theo ý mình, không có phép tắc kiểu mẫu: cái nhô ra, cái thụt vào! Mỗi nhà đằng trước lại có mái hiên bằng lá hay phiên liếp, dưới dọn hàng, thành ra phố đã chật lại hẹp thêm. Một đôi khi có hoả hoạn cháy từ ngoài cửa vào, chủ nhà chỉ còn cách chạy ra lối sau hoặc nhảy xuống ao, xuống hồ (vì trong phố có nhiều ao, hồ, như hồ Hàng Đào, hồ Hàng Bè...) để tránh nạn. Ở một vài nhà cổ ngoài bục hàng ngày nay, ta hãy còn thấy, xây cái bể chứa nước để chữa cháy, vì mỗi gia chủ phải tự vệ lấy, chứ còn gì có sở cứu hoả của nhà nước như bây giờ!

Sự đi lại trong phố thật là phiền phức, nhất là mỗi khi có quan quân chảy qua, thì hai bên phố phải tránh qua hết, có nhà phải đóng cửa lại. Nếu phải gặp buổi phiên chợ, thì thật là bí tắc; người chạy nhốn nháo, giày xéo lên nhau, không còn trật tự gì cả, chỉ lợi cho kẻ ăn cắp thừa lúc ấy mà hoành hành.

Ở Hà Nội có phiên chợ, thường họp vào ngày rằm và mùng một. Gặp những hôm ấy, các dân miền quê phụ cận đều kéo vào tỉnh mua bán. Họ họp ngay giữa giời, ngoài hiên các phố. Những hàng cửi họp ở Hàng Đào, hàng nồi ở Hàng Đồng, hàng nón ở Hàng Nón. Toàn tỉnh là một cái chợ to, quang cảnh ồn ào, sự đi lại bị ngừng trệ! Sáng từ 7 giờ đến mãi quá trưa, từ hè phố đến ngoài đường, các hàng ngồi san sát dài đến hơn hai cây số.

Ban ngày càng ồn ào bao nhiêu, quang cảnh ban đêm lại càng bình tĩnh bấy nhiêu: Cứ lặn mặt giời, các nhà đã đóng cửa im ỉm. Ngoài phố, không có đèn. Những đêm không giăng, cư dân phải sống trong cảnh tối tăm rùng rợn. Ai đi đêm, phải mang đèn. Hồi ấy phải đi đêm là một sự bất đắc dĩ.

Tuy các cổng ô đã đóng chặt, nhưng các dân phố vẫn còn nơm nớp sợ.

Một bà cụ kể rằng: "Chập tối, dọn hàng song là đi ngủ, nhà nào có tiền, phải giấu kín hoặc chôn, hoặc đem gửi. Khi ngủ, thì lên gác lò (tức như gác sép), rút thang lên, cửa đóng thật chặt, ai gọi cũng không dám mở. Trong một gia đình, kẻ ngủ, phải có người thức, cốt để phòng thủ trong những đêm trường hồi hộp. Ngoài đường vắng tanh, không ai đi lại, trừ ra mấy bác phu điếm cầm canh rời rạc đập gậy chan chát, đến độ ba, bốn giờ sáng, các bác phu đã đập cửa từng nhà gọi: "Hai bên hàng phố dậy mà trông mấy nhà!". Vì giờ ấy, họ bắt đầu đi ngủ cho đến sáng. Mà cũng giờ ấy các chú chích (kẻ trộm) bắt đầu hoành hành.

Nhà nước tuy có đặt quan Phòng thành, nhưng việc trị an không có phương pháp, chỉ trông vào mấy anh phu điếm canh gác vì được dân phố đãi tiền.

Sự sống "khủng bố" ấy làm cho dân Hà Nội, nhất là mấy năm về cuối đời Tự Đức (1881, 1882, 1883), ai ai cũng phải lo sợ. Thêm vào, lại có những tin ngoài phao đồn: nào Cờ đen, nào Cờ vàng, nào Tàu ô... Nhiều nhà giàu phải bỏ thành thị mà về quê ẩn náu.

Nếu nhìn lại bức tranh trên, chúng ta sẽ lấy làm lạ lùng mà thấy quang cảnh Hà Nội ngày nay: Hồ Gươm trong vắt, bóng liễu thướt tha, đèn điện sáng, đường phố rộng rãi, sạch sẽ, đi lại được dễ dàng, buôn bán tiện lợi... Ta sẽ mừng rằng đã may mắn qua được những đêm rùng rợn mà nhiều cụ đến nay mỗi khi nhắc lại vẫn còn ghê sợ tưởng như mình từ thế giới nọ bước sang thế giới bên kia vậy”

Đọc lại các trang viết trên tạp chí Tri tân (1941-1945) như Hà Nội ngày nay không như Hà Nội dưới mắt nhà học giả Trương Vĩnh Ký, Hà Nội xưa và... nay của Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, chúng ta gặp lại một Hà Nội cách nay chừng bảy chục năm (đúng bằng khoảng thời gian Nguyễn Tường Phượng nhìn ngược về những trang viết của Trương Vĩnh Ký), đặc biệt thấy thú vị khi người xưa lại so sánh ngược lại với một thuở xa xưa hơn. Cụ Tiên Đàm cảm thấy hãnh diện với sự hiện đại của phố phường hồi gần giữa thế kỷ XX và mỉm cười về sự lạc hậu của Hà thành qua cách mô tả của Trương Vĩnh Ký trong bài Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) thì bây giờ chúng ta lại mỉm cười về cái gọi là “hiện đại” qua các trang văn của chính cụ Tiên Đàm. Dù sao cũng phải thấy chính nhờ những trang du ký ấy mà chúng ta hình dung được Hà Nội một thuở và cảm thấy gần hơn với ông cha...

Trên thực tế, ngay dưới thời thực dân cũng có những phong trào cải cách hương thôn, mở mang dân trí. Nhà báo Minh Tuyền (quê Sài Gòn) đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong bài Thăm trại thanh niên Tương Mai (Tri tân, số 57, tháng 8-1942), có ý nghĩa như một cuộc du ngoạn thâm nhập cuộc sống:

“5 giờ rưỡi sáng. Hoa Bằng và tôi vui vẻ lên đường, đi thăm trại Thanh niên Tương Mai. Trời mát mẻ, chúng tôi ra sức đạp xe. Ánh bình minh le lói, báo trước một ngày nóng gay gắt, mạ vàng những chòm lá xanh tươi của hai dãy cây chạy theo dọc đường từ chùa Láng qua Ngã Tư Sở, Cống Vọng, đến Ngã tư Trung Hiền, chỗ rẽ vào làng Tương Mai.

Gần đến đình làng, chúng tôi thấy dán ở tường gạch, trước mắt khách qua lại, một mảnh giấy có chữ viết bằng bút chì xanh đỏ của nhân viên trại Thanh niên mời các anh em trong làng đến 2 giờ chiều ra đình nghe nói chuyện về việc canh nông.

“Đình trong” là chỗ các sinh viên tụ tập, ăn nằm và khám bệnh, cho thuốc. Chưa vào đấy vội, chúng tôi đi thẳng ra “đình ngoài ”, chỗ các bạn thanh niên đang làm việc.

Một tòa đình cổ hiện ra trước mặt chúng tôi với những cây cổ thụ, cành lá rườm rà. Vào sân đình, chúng tôi rẽ sang tay phải, đi bên cạnh tường đình và những thân cây muỗm to bằng hai vừng người ôm. Tôi tưởng gặp ít ra là hơn một trăm người đang làm việc bật rễ cây, nẩy rễ cỏ, nhưng thực chỉ có hơn hai chục trai tráng, thân trần, quần đùi xanh, kẻ xẻng, người cuốc, kẻ thúng, người mai, đang cặm cụi làm việc trong một bầu không khí yên tĩnh, dưới đám ruộng trũng rộng hơn một sào, cách tường sau đình ngót ba thước”...

Hướng tới những cuộc thăm viếng các di tích lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa trong quá khứ, tác giả Vô Ngã trong bài Cuộc hành hương đền thờ cụ Nguyễn Trãi - một vị anh hùng có công lớn giúp vua Lê trong cuộc bình Ngô (Tri tân, số 65, tháng 9-1942) đã kể lại mục đích và cách thức tổ chức chuyến đi xe đạp về thăm quê Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín):

“Chủ nhật, 16 tháng tám 1942, nhân trời tạnh ráo, mấy anh em trong hội Truyền bá Quốc ngữ Hà Nội, do ông Nguyễn Duy Tinh hướng dẫn, về làng Nhị Khê, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, một là để chiêm bái đền thờ cụ Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai, Tể tướng triều Lê; hai là hỏi ý kiến các bậc kỳ lão trong làng về việc dự định xin phép mở lớp học Truyền bá Quốc ngữ.

Cho hay trời cũng chiều người, tấm lòng chân thành của các bạn đối với tiền nhân đã thấu đến Hoàng thiên: hôm trước mưa ngâu xậm xụt, suốt đêm mây ám, nhưng sáng chủ nhật hiện ra một bầu trời tươi sáng. Đúng sáu giờ, anh em tề tựu trước bến xe lửa chính phố Hàng Lọng: Công chức có, hướng đạo có, võ sĩ có, học sinh có, một đoàn ngựa sắt tiến thẳng về phía nam, trên đường thiên lý số một. Đi một mạch 14 cây số, đến ga Quán Gánh thì dừng chân. Các bạn xuống xe; vào hàng uống nước và điểm tâm qua loa. Nghỉ ngơi một lúc, đoàn du lịch bắt đầu tiếp xúc với vùng không khí bao bọc chốn danh hương đã cống hiến cho giang sơn một nhân vật tên tuổi còn chói lọi trên Quốc sử.

Bạn Nguyễn Thịnh, duệ tôn cụ Ức Trai, đi chuyến xe lửa sớm nhất về trước, sửa soạn cuộc đón tiếp đoàn đi thăm các di tích cụ Tế Văn hầu, và trình báo chức dịch hàng xã về việc nhân viên Hội Truyền bá Quốc ngữ đi xem xét tình thế trong làng để sau này sẽ trù liệu xin mở lớp học Quốc ngữ”...

Đây là một phần cảnh làng và đền thờ Nguyễn Trãi:

“Tới quán ngói đầu làng, chúng tôi vào để xe và tạm nghỉ một lát. Quán này rộng rãi mát mẻ, trước sân có cây lộc vừng bà xòa xuống ao, vừa là chỗ trú chân cho các bạn điền khi mưa nắng, vừa là trụ sở tạm thời của mấy nhân viên coi việc dẫn thủy nhập điền. Từ quán ngói vào làng, đường đi còn ướt bùn. Từ cổng làng trở đi đường ngõ đều lát gạch cả.

Thoạt tiên tôi vào chiêm bái đền thờ cụ Ức Trai ở ngay bên đường (Tiểu sử và sự nghiệp tiên sinh đã nói rõ ràng trong cuốn Nguyễn Trãi của Trúc Khê). Sau vài câu chào hỏi, viên trưởng tự mở cửa và mời chúng tôi vào đền.

Cũng như các đền đài khác của ta, đền thờ cụ Nguyễn Trãi có một cái nhà đại bái và hậu cung làm kiểu chuôi vồ. Ngoài các hoành phi, câu đối ca tụng công đức bậc nguyên huân, tự khí rất sơ sài, có lẽ thích hợp với tính bình dị của vị đại công thần lúc sinh thời ít ưa phù phiếm xa hoa chăng? Hai bên có bục cao lát gạch hoa. Ở giữa, ngoài cùng là cái hương án, trên có cái lư hương bằng đồng đen. Sau án chừa ra một khoảng không rộng rãi để chỗ làm lễ: Hai bên cắm bộ bát bửu. Trong đến cái án con trên để mấy thanh bảo kiếm, tả hữu là hai pho tượng ông phỗng bán thân, mặc áo đỏ, hai tay khoanh lại và giơ lên ngang đầu. Sau lưng hai pho tượng ấy cắm hai cái biển có khắc những chữ “Ân tứ vinh quy” và “Khai quốc nguyên huân, Nhị Khê Nguyễn tướng công”...

Đây là câu chuyện về bức họa chân dung cụ Ức Trai:

“Tuần trà vừa xong, bạn Nguyễn Thịnh cùng ông Lý trưởng dẫn chúng tôi vào cung xem tranh cụ Khai quốc. Đó là một bức tranh cổ do họa sĩ Tàu vẽ lúc sinh thời cụ. Tranh tuy cũ, đã bồi lại một lần, song nét vẽ vẫn tinh vi và màu thuốc, trải mấy tang thương vẫn còn tươi thắm! Bức tranh to lắm, vì di tượng đây vẽ lớn bằng người thật. Hằng năm chỉ có mấy kỳ xuân tế, thu tế và kỵ nhật thì thiên hạ mới được xem tranh. Theo lời ông Lý trưởng thì, trước kia trên bức tranh này, còn có cả hình tượng bốn vị gia tướng, song lúc bồi lại thì phủ lấp đi, nay chỉ còn nguyên có di tượng cụ thôi.

Năm 1918, họa sĩ Chi, một tay chuyên vẽ “phông” nhà hát ở Hà Nội, có tự nguyện xin truyền lại một bức khác theo như tranh cũ, nên đã được các chi phái Nguyễn tướng công giao cho việc đó. Cứ lời ông Lý nói với chúng tôi, thì bức tranh mới này tuy bút pháp đã tinh, nhưng không được linh hoạt bằng bức tranh cổ mà chúng tôi được hân hạnh chiêm ngưỡng hôm nay ”...

Trước khi ra về, đoàn đã qua thăm khu văn chỉ và đình làng:

“Văn chỉ cách trường học độ hai trăm bước. Ba bệ gạch chơ vơ trên khoảng đất vuông cỏ mọc xanh rì, trước mặt là ao, xung quanh là các thửa ruộng cao, hiện đã cấy mùa. Theo lời các cố lão và Nguyễn tộc, thì chỗ văn chỉ ấy là nơi Ức Trai tiên sinh dạy học thuở xưa, sau khi tiên sinh mất đi, văn thân hàng xã mới lập văn chỉ để kỷ công.

Chúng tôi lại rẽ vào thăm qua đình làng. Trong đình có một cái trống rất lớn, bề mặt gần 2 thước tây, lớn gần bằng cái trống ở chùa Tiên Lữ, thuộc hạt Tử Trầm.

Khi ra về, ông Nguyễn Thịnh và một bạn trẻ trong làng không quên dẫn chúng tôi đi xem ngôi mộ phát tích của họ Nguyễn. Đường bờ ruộng tuy lội, song chúng tôi cũng cố công dò dẫm đến tận tôn lăng. Lăng đây là một thửa đất rộng chừng nửa sào (xưa kia rộng hơn 1 sào, vì các người có ruộng chung quanh đã bạt đi mất một nửa), cuối làng là ngôi mộ phát tích. Trước mặt có một mô đất hình con quy, hai chân rùa đạp vào lăng, một cái giá bút lồng nghiên. Còn xung quanh, từ phía xa xa chầu về, nào voi, ngựa, nào cờ, trống, nào cung, kiếm, đủ cả lệ bộ của một vị khai quốc công thần. Ở làng ra về trời vẫn nắng chang chang, bạn Trác phải lấy khăn mặt che đầu. Chúng tôi vào quán ngói lấy xe đạp rồi từ giã bạn Nguyễn Thịnh mà thong thả lên đường. Ai nấy từ từ tiến bước nhường như còn mến tiếc bầu không khí trong trẻo bao bọc chốn danh hương.

Ra tới ga Quán Gánh thì đã hơn một giờ chiều, anh em nghỉ ngơi giải khát một lát, lại nhảy lên xe đạp thẳng tới thành.

Dưới trời nắng gắt buổi thu sơ các bạn vẫn tươi cười giong ruổi trên đường thiên lý, hơn mười con ngựa sắt tha hồ mà phóng nước đại”…

Ở chặng cuối quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XX, du ký Hà Nội - Vientiane trong hai giờ (Tri tân, số 77+78, tháng 12-1942) của Vũ Nhật được in hai kỳ, chủ yếu nhấn mạnh tâm trạng, cảm giác và những điều vui thú mà tác giả quan sát trên chuyến bay. Ngay từ những dòng mở đầu, Vũ Nhật xác định hứng thú, ý nguyện và kế hoạch cho một chuyến bay: “Từ khi có đường hàng không Hà Nội - Vientiane, tôi vẫn nuôi cái ước vọng là trong đời sẽ có một lần được hưởng cái thú “đi mây về gió”. Thỉnh thoảng có dịp lên trường bay, trông thấy chiếc Dewoitine ba máy khổng lồ, ngắm những chỗ ngồi sang trọng của nó, thì lòng ham muốn lại càng mạnh”… Đến đây xin dẫn đoạn mở đầu khi tác giả đang trên đường đến sân bay Bạch Mai (nay ở bên đường Trường Chinh, quận Đống Đa):

“Tháng Juin vừa rồi, tôi có dịp về Bắc chơi, lúc sang Vientiane, tôi định sang bằng tầu bay. Ông thân sinh ra tôi biết tin ấy, tỏ ý lo sợ và can tôi rằng: "Người ta khi muốn đi mau quá lại hóa ra chậm, mà đi thong thả lại hóa ra đến mau hơn. Con nên đi đường bộ cho chắc chắn".

Nhưng tôi không vâng lời cha. Giá chuyến đi ấy có xảy ra sự rủi ro thì chắc các bạn có thể cười tôi mà bảo: “Đáng đời cho đứa con bất hiếu!”.

Hôm ấy vào ngày thứ tư. Tối hôm trước, chúng tôi bận xếp hành lý và tiếp các bạn đến tiễn chân, mãi khuya mới đi ngủ. Vừa chợp mắt được một lúc thì tôi đã nghe chuông đồng hồ đánh thức. Chúng tôi đều dậy, còn vừa đủ thì giờ để mặc quần áo và đi xe tay ra phòng giấy của hãng “Air France” ở phố Tràng Tiền. Theo lời hẹn, tôi phải có mặt tại đấy trước 5 giờ rưỡi. Xe đỗ, tôi lấy làm ngạc nhiên và lo vì không thấy một ai, cửa phòng giấy còn đóng. Có lẽ chúng tôi đã đến chậm. Giơ tay nhìn đồng hồ thấy 4 giờ 35; lúc ấy mới yên dạ. Thì ra tối hôm trước, tôi đã để đồng hồ đánh thức sớm đi 1 giờ, lúc thức dậy ai cũng yên trí nên không nhìn lại đồng hồ. Tôi sợ các anh em cùng ở chung một nhà đều đi tiễn chân lúc ấy cười tôi có cái tính như anh chàng đi ăn tiệc đến sớm quá vì háu ăn, nên không dám nói.

Chúng tôi đứng đợi, em tôi đi mua được mẩu bánh mì nhét vào túi tôi vì sợ tôi sẽ đói. Độ nửa giờ sau, dần dần những người giúp việc hãng đến mở cửa và làm việc; các hành khách lần lượt đến. Chiếc ô tô ca đồ sộ đến đậu ở cửa phòng giấy hãng thì đồng hồ chỉ đúng 5 giờ 20. Một lát, chúng tôi lên chiếc xe ấy để xuống trường bay Bạch Mai. Những người đi tiễn chân đều ở lại đấy; duy có em tôi một mình đi xe tay xuống tận trường bay.

Độ 6 giờ, ô tô đến trường bay Bạch Mai, chúng tôi vào trong một cái nhà làm theo kiểu hangar nhưng có ngăn ra làm nhiều buồng. Chỗ để hành khách ngồi đợi, chỗ làm buồng giấy của hãng, chỗ để cân, chỗ làm buồng giấy của các nhân viên sở Liêm Phóng và Thương Chánh.

Chúng tôi tôi ngồi đợi độ mươi phút, cu li đã mang hết các hành lý của các hành khách, phần nhiều đựng trong valises da, xếp thành một hàng trên một chiếc ghế dài. Người ta lần lượt gọi cân hành lý và cân cả hành khách nữa. Cần phải cân cả hành khách để biết số cân mà tàu bay hôm ấy phải chở và xếp cho thăng bằng. Người ta không thể kể từng đầu người vì có người cân chưa đến 40 cân mà cũng có người cân ngót 100kg. Cân xong, tôi đưa trình giấy căn cước cho một nhân viên sở Liêm Phóng, rồi ra đứng ngoài hiên nói chuyện với em tôi cũng vừa đi xe tay xuống. Anh em chúng tôi cùng ngồi trên chiếc ghế dài trông ra sân bay. Sân rộng mênh mông, thỉnh thoảng một hào gió lướt qua làm rung động “tấm thảm cỏ” trông như một cái mặt hồ hơi gợn sóng. Chúng tôi ngồi im nhìn những chiếc tầu bay nhà binh đua nhau bay lên hay hạ xuống, hoặc nói với nhau những câu chuyện rời rạc. Thì ra tôi cũng như em tôi, lúc ấy có thì giờ nhàn rỗi mới nghĩ đến sự biệt ly. Riêng tôi chỉ trong vài giờ nữa sẽ được vui vẻ sum vầy trong cảnh tiểu gia đình, nhưng lòng vẫn nao nao và cảm thấy một nỗi buồn man mác, vì đàn nhạn sắp tạm phải chia hàng. Nhìn sang bên cạnh các bạn đồng hành người Pháp, đương cùng nhau đi đi lại lại cười nói vui vẻ”...

Mở rộng tầm nhìn bằng những chuyến dã ngoại, trong bài du ký Một vài kiến văn trong dịp đi thăm làng Bối Khê (Tri tân, số 103-105, tháng 7-1943), tác giả Vu Ngã thuật lại cuộc du ngoạn của đoàn Hướng đạo sinh Hà Nội do Đoàn trưởng bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (1910-1972) dẫn đầu đi xe đạp về thăm làng Bối Khê (nay thuộc xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, ngoại thành Hà Nội):

“Theo chương trình Ban trị sự Hội Thân hữu thể thao, cuộc đi chơi bằng xe đạp Hà Nội - Bối Khê ấn định vào ngày chủ nhật 20 Juin 1943.

Đoàn thanh niên, với xe đạp, sắp hàng ba, khăn gói gọn gàng. Đúng 6 giờ rưỡi, theo hiệu còi, lên đường, bắt đầu từ trước cửa Hội Quán, số 65 phố Tràng Thi, Hà Nội…

Chùa Bối Khê tên là “Đại Bi tự” - ba chữ này rõ ràng trên nóc chùa - qui mô rộng rãi. Trên tam quan, phía ngoài có bốn chữ “Bối Khê hiển tích”, phía trong có bốn chữ “Thanh đỗng trùng quan”. Hai bên chùa, tay phải có nhà thờ Tuứ Dân, tay trái có nhà bia. Nhà bia có bia đá to cao gần hai thước tây, khắc sự tích đức Chân Nhân Bồ Tát thờ ở chùa trong. Chùa ngoài cao rộng, làm kiểu chuôi vồ như mọi chùa, thêm hai bên hành lang có tượng các đệ tử Phật tổ bằng gỗ. Hôm nay là ngày tiếp rước đoàn du lịch nên nhà chùa tấp nập đông như ngày hội, đèn nến sáng trưng, hương trầm thơm nức, chiếu giải la liệt. Sau chùa là nếp nhà năm gian rộng, thờ đức Chân Nhân Bồ Tát, nghi trượng rực rỡ vô cùng. “Linh thông hưởng ứng”, bốn chữ vàng chói lọi ở gian giữa. Dưới là cái ngai sơn son thiếp vàng. Ngoài hiên có đôi câu đối…

Đoàn xe đạp qua cổng phủ, rẽ về tay trái, qua con đường đất lớn, leo lên đê sông Đáy. Mặt đê, ở đầu con đường này là một cái cổng chào mới dựng, có đề lên cót quét vôi trắng mấy chữ đen nhánh: “Camp Haelewyn”. Vệ đê phía ven sông là trại Thanh niên Hà Đông. Đi trên hè đã thấy thấp thoáng dưới bóng các cây cổ thụ, anh em Hướng đạo đi đi lại lại từ lều nọ sang lều kia…

Đứng đây, phóng tầm con mắt trông xa, thấy làng Cao Mật phong cảnh thanh u. Làng yên tĩnh trong rặng vải xanh om, đông đặc, chạy dài theo ven sông Đáy nước chảy trong veo, hiền từ quyến rũ. Vệ đê bên sông là một dải bãi cao rộng, có cây cối um tùm. Trên bãi này là trại Thanh niên Cao Mật vậy” (Tuyển in trong Tạp chí Tri tân - Truyện và ký. Sđd)…

Cũng vào khoảng thời gian trên, Đinh Gia thuyết (1893-1953) đã cùng bạn du ngoạn ra ngoại thành thăm làng Dừa, tên chữ là Yên Sở (nay thuộc xã Yên Sở, huyện Hoài Đức) và kể lại khá chân thực chuyến du trong du ký Một buổi đi thăm làng Dừa (Tri tân, số 116-117, tháng 10-1943):

“Hôm nghỉ lễ rằm tháng Bảy vừa rồi, tôi đã có dịp đi thăm làng Dừa với cả tấm lòng ao ước…

Làng Dừa tức làng Yên Sở, tục gọi là làng Giá, người Tây gọi là Village Cocotier, vì làng này khác hẳn các làng trung châu xứ Bắc Kỳ, không phải một làng trong lũy tre xanh mà là một làng trong những rặng dừa.

Muốn biết qua nội dung làng Dừa, chúng tôi xuống đê qua một cái cổng gạch, mặt đường rộng độ hai mét, hai bên đường mọc thăng giăng những cây dừa cao vót và thẳng tắp, trông như những cây đèn bóng, người ta dựng ở hai bên đường lối vào một nơi nhà thờ trong ngày lễ trọng. Chúng tôi đi quanh xóm nọ qua xóm kia, vừa đi vừa ngắm, thì chẳng những dừa mọc ở hai bên đường, mà bờ ao cũng có dừa, trong vườn cũng có dừa, sau nhà trước cổng cũng có dừa, những dừa là dừa. Vào làng dừa, chúng tôi có cảm tưởng như ngư phủ lạc vào Đào nguyên, thấy những đào là đào vậy…

Xem xong làng Dừa, chúng tôi sang thăm đình Yên Sở, tục gọi “đình Giá” là một ngôi đình tối cổ, do trường Viễn Đông Bác cổ trông coi theo Nghị định quan Toàn quyền Đông Dương ngày 16 Mai 1932.

Đình ở phía ngoại đê, dựng trên một khu đất có mưỡu cây rậm rạp như một cái rừng con bao bọc xung quanh, rộng ước năm mươi mẫu ruộng. Đình làm lối “nội công ngoại quốc”, có ba tòa: đình trong, đình giữa và đình ngoài, liền theo thứ tự. Tòa trong ba gian, còn hai tòa đều năm gian. Chỗ mái ngói tòa giữa và tòa ngoài giáp nhau, có một cái máng hứng nước bằng đồng đen, dài hai mươi mét, chạy suốt năm gian đình. Hai bên lại có hai cái tiểu đình, bên tả là nhà bia, có sáu tấm bia, cái lâu nhất từ đời Cảnh Trị nhà Lê (1663-1674); bên hữu là nhà ngựa, một con ngựa thờ sơn phấn trắng, chân cao một mét rưỡi, cổ cao tám mươi phân, thân dài hai mét. Cứ nhời ông thủ từ nói với chúng tôi, thì ngựa ấy cũng bằng đồng đen, có đồng thời với cái máng, là hai thứ bảo vật quý nhất, chưa đình chùa nào có. Chúng tôi ngắm kỹ chỗ lỗ thủng ở khấu đuôi con ngựa là chỗ không quang phấn, thấy đen đen và dầy dặn, rõ là một thứ kim khí cùng một sức với cái máng, có thể tin là đồng đen được. Chỉ tiếc rằng ông thủ từ cũng không rõ hai thứ bảo vật ấy có từ đâu, từ bao giờ.

Từ hai cái nhà bia và nhà ngựa chạy thẳng ra đằng trước, hai bên có hai dãy hành lang, mỗi dãy mười một gian. Ông thủ từ cho chúng tôi biết đó là nơi ăn họp của dân làng trong những ngày đại lễ: một bên của quan viên làng, còn một bên để tiếp quan viên làng Đắc Sở, một làng bên cạnh, cùng thờ chung Thành hoàng và giao hiếu với làng này…

Sau khi chiêm bái đình Yên Sở, bóng chiều đã xế, chúng tôi ra về với tâm hồn khoan khoái như người nóng khát vừa được uống cốc nước dừa giải nhiệt, lúc lên xe quay trở lại coi đê sông Đáy, bỗng mấy câu véo von của cô ả hái dâu dưới bãi, như nhắc chúng tôi nhớ đến những phong tục ngày xưa của vùng Yên Sở”

Thuộc nhóm thể tài du ký công vụ, Cách Chi Nguyễn Phường (1914-1987) và Phạm Mạnh Phan (1914-?) đã viết Đi thăm Đông Dương Học xá (Tri tân, số 119, tháng 11-1943). Mở đầu, các tác giả cho biết: “Bữa đó, một sớm thu tươi đẹp, dưới ánh nắng thu dịu dàng tưng bừng đùa dỡn trên ngọn cây nhành cỏ, chúng tôi ba người, ông chủ nhiệm Tri tân (Tiên Đàm Nguyễn tường Phượng - NHS chú) và hai chúng tôi xuống thăm Đông Dương Học xá”… Ba ông ký giả đã được ông Tổng thư ký Lafon đón tiếp “với nụ cười nhã nhặn”, “chúng tôi ai cũng nhớ hình ảnh nhã nhặn của ông Tổng thư ký với mái tóc đã điểm màu sương và với bộ mặt mà gió bụi của đời đã ghi vết trên đôi gò má”, rồi ông đưa đi thăm khắp khu Học xá và đến chỗ nào cũng “giảng giải cặn kẽ bằng giọng niềm nở”. Ở đây chỉ trích đoạn những ghi chép về địa thế khu Học xá (nay ở trong khuôn viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội):

“Học xá làm trên thửa đất ở giữa cánh đồng phía hữu làng Bạch Mai. Phía trước Học xá đối diện với nhà thương René Robin. Phía sau là phố Bạch Mai và xóm yên hoa Vạn Thái.

Sườn bên hữu đối diện với con đường 202, tức phố Nguyễn Du. Sườn bên tả giáp sở Vô tuyến điện và con đường Cống Vọng. Tất cả các tòa nhà đều gần thu gọn trong một cái hình năm góc (pentagone).

Mười tòa nhà ba tầng dành riêng các sinh viên. Những nhà ấy đều ở giữa khu Học xá và bao bọc một cái “Vườn tượng trưng” (Lé jardin symbolique) theo sáng kiến của các ông Chauchon, Masson và Gilles, ba kiến trúc sư ở Sài Gòn.

Phía trước mặt Học xá, bên tả là một phạn điếm (restaurant) dành cho các sinh viên. Đối diện phạn điếm ấy là tòa nhà của ông giám đốc (logement du directeur).

Ở chính giữa phía trước là một tòa nhà công cộng (bâtiment général) sẽ có các buồng giấy của các ban coi về Học xá, thư viện và buồng hội họp của các sinh viên, vân vân...

Ở gần hai bên tòa nhà chung ấy có hai căn nhà khác, một dành cho ông quản lý (logement du l’econome), một cho ông Tổng thư ký của Học xá (logement du secrétaire général).

Sau tòa nhà ông quản lý là một bệnh thất (une infirmerie) để phòng khi các sinh viên đau yếu.

Phía sau Học xá là một bãi thể thao lớn (stade) dành cho các cuộc đá bóng chân, có xây một khán đài (tribune). Bên hữu bãi đó có 2 sân chơi quần vợt, 2 sân chơi bóng chuyền tay (volley ball) và hai sân chơi bóng rổ (basket ball). Bên tả là một bãi để tập thể dục (gymnase) hằng ngày với một bể bơi ở giữa.

Ngoài ra ở ba góc khu Học xá có một nhà thờ đạo, một chùa xây theo lối Cao Miên và một chùa xây theo lối Bắc kỳ...

Mỗi sinh viên ở một căn buồng có màn, đệm, tủ áo, bàn học và đèn riêng. Chỗ rửa mặt, nơi tiếp khách đều xếp đặt theo cách sống của người Âu” (Tuyển in trong Tạp chí Tri tân - Truyện và ký. Sđd)…

Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, đọc lại những trang du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, dường như ta bắt gặp đâu đây bóng dáng con người và cảnh vật một thời còn chưa xa ấy. Năm tháng rồi sẽ qua đi. Những gì còn lại, những gì đã mất và dần phôi pha theo qui luật thời gian? Tôi nghĩ rằng một bộ sưu tập thể tài du ký về Hà Nội không chỉ riêng nửa đầu thế kỷ XX mà mở rộng ra cả lịch sử ngàn năm dựng nước chắc chắn sẽ là món quà tinh thần có ý nghĩa cho người Hà Nội và bạn bè du khách bốn phương, cho cả hôm nay và mai sau./.

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác