Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (*)

Ở đây có một Hà Nội trong mắt người Hà Nội, có một Hà Nội trong tâm tưởng người xa Hà Nội và lại có một Hà Nội của người phương xa về thăm Hà Nội ngàn năm văn hiến. Bấy nhiêu tâm trạng, sự trạng, di tích, danh lam, cảnh vật và đời sống Hà Nội chính nhờ những trang du ký ấy mà còn lại tới ngày nay.

 

Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (*) - ảnh 1

Hồ Hoàn Kiếm trong dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội


Từ xưa đến nay, Hà Nội vẫn luôn giữ vai trò trung tâm văn học của cả nước. Hà Nội là nơi thu hút tinh hoa văn nhân bốn phương. Quá trình “Hà Nội hóa” thể hiện sâu sắc ngay cả ở đội ngũ những cây bút viết du ký và chính các trang du ký viết về Hà Nội từ nhiều điểm nhìn khác biệt nhau. Ở đây có một Hà Nội trong mắt người Hà Nội, có một Hà Nội trong tâm tưởng người xa Hà Nội và lại có một Hà Nội của người phương xa về thăm Hà Nội ngàn năm văn hiến. Bấy nhiêu tâm trạng, sự trạng, di tích, danh lam, cảnh vật và đời sống Hà Nội chính nhờ những trang du ký ấy mà còn lại tới ngày nay. Thể tài du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX thực sự đã đóng vai trò một bảo tàng ngôn từ về lịch sử và thắng tích, về những cuộc du hành của người Hà Nội hồi đầu thế kỷ - cái mầm mống mà ngày nay ta gọi là du lịch.

Khơi nguồn cho thể tài du ký Hà Nội, xin đặc biệt “cung chiêu anh hồn” học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898) lên bàn nhất, người đi trước thiên hạ cả một thời đại và hơn cả một thế hệ. Khác biệt với nhiều tác phẩm, học giả Trương Vĩnh Ký, nguyên quán ở Bến Tre, có đóng góp với mảng sáng tác về đề tài Hà Nội bằng tập du ký chữ Quốc ngữ Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) - Nhà hàng Ghilăng và Mactinông (Guiland et Martinon) xuất bản (Sài Gòn, 1881, 32 trang). Đây cũng là tác phẩm hiếm hoi viết bằng chữ Quốc ngữ ngay từ giai đoạn cuối thế kỷ XIX, trong đó còn bảo lưu nhiều từ ngữ cổ và cách diễn đạt thô ráp, bước đầu ghi nhận khả năng viết văn xuôi tiếng Việt của Trương Vĩnh Ký và cũng là hiện tượng “chín sớm”, báo hiệu cho sự phát triển một kiểu loại ngôn ngữ văn học mới. Điều đáng chú ý là tập ký ghi chép lại khá nhiều những tư liệu về Hà Nội một thuở với những cảnh hồ Hoàn Gươm - Hoàn Kiếm, điện Kính Thiên, Văn Miếu, Hồ Tây, chùa Một Cột, Trấn Võ; những đặc điểm về văn hoá như phong tục ngày tết, lễ hội, nghệ thuật ẩm thực; những đặc điểm về kinh tế - điều kiện tự nhiên như chế độ hộ khẩu, ruộng đất, đền miếu, quán chợ, thành trì, cầu cống, thổ sản… Bài du ký mở đầu với việc nêu rõ nguyên cớ “ra Bắc chơi một chuyến cho biết” vào dịp cuối năm âm lịch, khởi hành từ Sài Gòn nhằm ngày 18 tháng Chạp năm Ất Hợi (14-1-1876):

“Năm Ất Hợi (1876), bãi trường Tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đã lâu; nên xin với quan trên, nhơn dịp chiếc tàu Duchaffaud đi mà đi. Về sắm hòm rương áo quần. Rủ thầy ba Hớn với ông sáu Thìn, nguyên một người ở tỉnh Bắc Ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam Kỳ đã lâu, đi theo trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán.

Qua ngày 18 tháng Chạp đề huề xuống tàu. Sớm mai giờ thứ 9 rưỡi nhổ neo. Vợ con đưa đi, ngồi xe đi rảo trên bờ cho đến tàu quày trở rồi riu ríu chạy xuống đồn Cá Trê, mới về. Xế giờ thứ hai ra cửa Cần Giờ, chỉ mũi chạy ra Mũi Né”…

Học giả Trương Vĩnh Ký kể, sau khi qua Cửa Hàn (Đà Nẵng), đến đảo Cát Bà chuyển tàu về Hải Phòng, đi thuyền lên Hải Dương vui vầy mấy ngày rồi mới võng cáng đường bộ về Hà Nội:

“Giờ thứ tư rưỡi chiều ra tới bờ đê, đi trên đường quai xuống mé sông Bồ Đề, mướn đò đưa qua cửa Phố Mới.

Giờ thứ 8 tôi tới nhà Hương công là khách thương Gia Định ra mua hoa chi nha phiến đó”...

Tiếp theo là những ngày du ngoạn:

“Đi coi cảnh chùa ông Nguyễn Đăng Giai lập một bên mép hồ Hoàn Gươm…

Cảnh chùa ấy thật đã nên là tốt: vô cửa hai bên có tháp cao. Vào trong có hồ đi quanh co vòng theo chùa, lại ăn lọt dưới chùa nữa, hai bên mép xây gạch xây đá cả. Cầu bắc tứ phía qua chùa đều cũng xây đá gạch hết hẳn hoi. Xung quanh bốn phía có nhà hành lang chạy dài ra sau giáp nhau… Trong chùa đàng trước để tượng Phật đứng bàn cả đám, hình lớn to, quang thếp cả. Hai bên sau có làm động và tháp điện, đều bong hình nổi ra hết. Đàng sau có đền, có tạc hình cốt ông Nguyễn Đăng Giai.

Phải chi nhà nước lo tu bổ giữ gìn thì ra một cái kiểng rất xinh rất đẹp. Mà nay thầy chùa thầy sãi ở đó, dở ngói, cạy gạch bán lần đi mà ăn, nên hư tệ đi uổng quá…

Ngoài cửa có cái hồ Hoàn Gươm rộng lớn; bên hồ lại có cái cù lao nhỏ nhỏ có cất cái miễu Ngọc Sơn, cây cối im rợp huyền vũ coi tươi tốt. Nhà thiên hạ, phố xá ở bao lấy miệng hồ”...

Khi đi thăm cảnh Hồ Gươm, đền Công, đền Trấn Vũ, chùa Một Cột, Hồ Tây, Văn Miếu… Trương Vĩnh Ký thường chú ý kể thêm các truyền thuyết, sự kiện lịch sử. Ông nhấn mạnh vẻ đẹp đền Kính Thiên và Cột Cờ:

“Trước hết vô hoàng thành cũ. Lọt khỏi Ngũ môn lâu, lên đến Kính Thiên. Đền ấy nền cao lắm, có 9 bậc xây đá Thanh, hai bên có hai con rồng cũng đá lộn đầu xuống. Cột đền lớn trót ôm, tinh những là gỗ lim cả. Ngó ra đàng sau còn thấy một hai cung điện cũ chỗ vua Lê ở thuở xưa, bây giờ hư tệ còn tích lại đó mà thôi.

Ra ngoài cửa Ngũ môn lâu, thẳng ra cửa Nam, có cột cờ cao quá xây bằng gạch, có thang khu ốc trong ruột nó mà lên cho tới trên chót vót. Leo lên thôi đã mỏi chơn mỏi cẳng. Ra tại chuồng cu đứng ngó mông, thấy núi non xa gần, ngắm nhìn chót núi Tản Viên. Không dám ngó xuống, vì ngợp lắm. Một bận đi xuống cũng hết hơi”...

Sau khi mô tả khái lược địa giới tỉnh Hà Nội với 4 phủ, 15 huyện (rộng hơn Hà Nội ngày nay, nối dài đến mấy huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Nam Xang, Bình Lục thuộc tỉnh Hà Nam), học giả học Trương Vĩnh Ký nhận xét: “Hình thế tỉnh Hà Nội tốt lắm. Nó ở chính giữa các tỉnh Bắc Kỳ. Phía Tây, phía Nam có núi non che án; đất bằng đai rộng; bên tả có sông Nhĩ Hà đoanh quanh; bên hữu có sông Hạc Giang chảy. Tỉnh ấy đã hơn tám trăm là đất cựu đế đô”...

Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (*) - ảnh 2
Cột cờ Hà Nội (ảnh triển lãm tại Thư viện Hà Nội vào ngày 07/10/2010)


Bên cạnh việc quan sát, giới thiệu sự khác lạ về khí hậu, phong tục, lễ hội, quang cảnh nhà trò, hát đúm… nhà dân tộc học họ Trương kể thêm về nghệ thuật ẩm thực, cách làm cỗ nhắm và mấy trò vui:

“Tiết tháng 8 tục có làm cỗ nhắm tại đình, cúng tế thần kì yên. Đua nhau dọn cỗ, một cỗ tế rồi ngồi ăn cùng nhau, còn một cỗ mâm án thư chồng đơm lên nhiều từng, lấy mía róc giấy đỏ làm đồ kê mà chưng có từng, trên có làm con phụng, con long, con lân, con qui đứng đầu mâm, để tối chia nhau, bíu xén nhau. Dịp ấy thường coi hát nhà trò, đánh gậy (đánh quờn, nghề võ), vật, múa rối cạn (hát hình), múa rối nước, leo dây, bài điếm, cờ người, nấu cơm thi, dệt cửi thi, bắt chạch, tạc tượng (đục (giục) tượng), thảy đều có ăn cuộc ăn giải cả.

Nấu cơm thi là phải nấu thi coi thử ai chín trước, và khéo khỏi cháy khỏi khê khỏi khét. Người ta đưa cho ít cái đóm với bã mía hay là rơm, thắp cầm hơ đít nồi mà nấu.

Còn dệt cửi thì làm sàn ra ngoài ao vừa để cái khung cửi, ả chức ra đó lên ngồi dệt, đâm thoi bắt thoi cho liền cho lẹ, nếu trật thoi văng rớt xuống ao thì thua.

Bắt chạch là một trai một gái tay choàng cổ ôm nhau, tay kia thò vô chum sâu có thả con trạch, ai bắt được thì ăn giải.

Tạc tượng là bắt một cô đào nhan sắc có duyên đẹp đẽ mặc áo lượt thưa rểu, quần lãnh bưởi có ngời ngồi tại giữa gian làm trên ao hồ. Trai lãnh chàng đục, đóng khố giấy ra đó làm bộ đẽo chạm, hễ giữ không được thì tâm khỏa động, dương vật dậy rách khố mất ăn; khi ấy đâm đầu xuống ao lặn đi đỡ xấu. Ấy ít lời về phong tục sơ lược cho biết qua vậy”...

Đến đây xin xem những ghi chép, kê cứu cụ thể, chi tiết của học giả họ Trương về khu phố cổ:

“Thuở xưa còn đô thành thì có 36 cửa ô phường phố, đời nay ra tỉnh thành, phía Đông Nam có 21 đường phố tinh nhà ngói cả.

10 Hàng Buồm, Ngô khách bán sách vở, đồ tàu, thuốc bắc.

20  Quảng Đông, Minh hương Khách hộ ở.

30  Hàng Mã, bán minh y minh khí.

40  Hàng Mâm.

50  Báo Thiên phố, bán vải đen, vải xanh.

60  Phố Nam hay Hàng Bè, gần đó có chợ Hôm, hai bên dân làm thùng cây, thùng tre.

70  Phố Hàng Bồ.

80  Hàng Bạc.

90  Hàng Giày, hia.

100  Hàng Mây, choại

110  Đồng Lạc phố.

120  Thái Cực phố (Phố Hàng Đào).

130  Đông Hà phố (Hàng Hát).

140  Phước Kiến phố, bán đồ đồng, đồ thiếc.

150  Phố Hàng Muối.

160  Đồng Xuân phố.

170  Thanh Hà phố.

180  Hàng Gai.

190  Hàng Bao phố.

200  Hàng Trà.

210  Quảng Minh Đình phố”...

Sau ba tháng thăm thú Hà Nội và mấy tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Trương Vĩnh Ký dời khỏi xứ Bắc ngày 21 tháng Ba năm Bính  Ngọ (tức 15-4-1876) và về đến Sài Gòn nhằm ngày 26 tháng Ba (tức 20-4-1876).

Đặt trong tương quan với thể tài du ký, tập ghi chép Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của học giả Trương Vĩnh Ký thực sự là một đóng góp quan trọng trong việc phản ánh cảnh quan và lối sống con người Hà Nội một thời cũng như với cả tiến trình phát triển nền văn học chữ Quốc ngữ nói chung.

Từ khoảng thời gian đầu thế kỷ XX đến năm 1945 đã có thêm nhiều trang du ký trực tiếp diễn tả những nét đặc sắc của nền văn hóa cổ Hà Nội, bao gồm những khảo sát, so sánh Hà Nội xưa và nay, những di tích lịch sử và thắng tích ở nội thành và ngoại thành Hà Nội với nhiều vẻ phong phú. Mở đầu, nhà Hán học Phan Kế Bính (1875-1921) viết bài Đêm trăng chơi Hồ Tây (Đông Dương tạp chí, 1913-1918; Tuyển in trong Hồ Tây, Phủ Tây Hồ. Ngô Văn Phú biên soạn. Nxb Hội Nhà văn, H., 1994). Bài ghi chép ngắn gọn và giàu chất văn chương về chuyến du ngoạn cũng rất ngắn ngủi này đã được đăng trên tờ tạp chí chữ quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc:

“Trời tháng tám, nhân buổi đêm trăng, dắt một vài anh em, bơi một chiếc thuyền nhỏ dong chơi trong hồ.

Hồ về thu, nước trong vắt, bốn mặt mênh mông. Trăng tỏa ánh sáng, rọi vào các gợn sóng lăn tăn, tựa hồ hàng muôn hàng ngàn con rắn vàng bò trên mặt nước. Thuyền ra khỏi bờ độ vài ba con sào thì có hây hẩy gió động sóng vỗ rập rình.

Một lát, thuyền đẩy về phía tây bắc, vào gần một đám sen, bấy giờ sen tuy đã hồ tàn, nhưng vẫn còn lơ thơ mấy đóa hoa nở muộn, mà lá vẫn còn tươi tốt. Mùi hương đưa theo chiều gió ngào ngạt trong thuyền khiến cho lòng người càng thêm bát ngát. Trong khi thừa hứng mà lại thêm có mùi hương thì cảnh khoái lạc biết là dường nào!

Đêm gần khuya, trăng đã xế ngang đầu, anh em cũng đã cạn hứng, muốn về nghỉ. Tôi tiếc cái thú đêm trăng đó, bảo buông lái cho thuyền tự ý đi vung một lúc rồi hãy về.

Thuyền theo gió, từ từ mà đi, ra tới giữa khoảng mênh mông, tôi đứng trên đầu thuyền, ngó quanh tả hữu. Đêm thanh cảnh vắng, bốn bề lặng ngắt như tờ. Chỉ còn nghe mấy tiếng cá “tắc tắc” ở dưới đám rong, mấy tiếng chim nước kêu “oác oác” ở trong bụi niễng, cùng là văng vẳng tiếng chó sủa, tiếng gà gáy ở mấy nơi chòm xóm quanh hồ mà thôi. Trông về đông nam, kìa đền Quan Thánh, đó chùa Trấn Quốc; trông về tây bắc, đây đình Võng Thị, nọ văn chỉ Tây Hồ, cây cối vài đám um thùm, lâu dài mấy tòa ẩn hiện, mặt nước phẳng lỳ tứ phía, da trời xanh ngắt một màu, xem phong cảnh đó, có khác gì bức tranh sơn thủy của Tạo hóa treo ở trước mắt ta không? Tôi ngắm đi ngắm lại, lấy làm thích chí, song cũng vì cảnh tĩnh mịch mà lại sinh ra ý ngại ngùng, lòng ngao ngán, và nỗi buồn tanh.

Hỡi ơi! Cái hồ này tương truyền ngày xưa là một trái núi đá nhỏ, về sau nước xoáy thành hồ, chuyện đó đã bao lâu, hư hay là thực? Nào thuyền rồng vua Lê, nào hành cung chúa Trịnh, cảnh thế nào, mà nay chỉ thấy một dòng nước biếc, mấy đám cỏ xanh? Lại nhớ đến đời thượng cổ: có phải chỗ sương mù nghi ngút kia là chỗ Trưng Vương đóng quân để chống nhau với Mã Viện đó chăng? Lại nghĩ đến câu tục truyền: có phải chỗ nước sâu thăm thẳm kia là chỗ trâu vàng ẩn tích đó không? Dù có dù không, dù còn dù hết, chẳng lấy gì làm quan tâm cho lắm, song nghĩ đến các cảnh tượng đó thì không sao mà nguôi được tấm lòng thổn thức về cuộc tang thương!

Đang khi bồi hồi ngơ ngẩn thì trời ào ào như sắp đổ cơn mưa, vội vàng đẩy thuyền về nghỉ. Về tới nhà, cởi áo đi ngủ, suốt đêm mơ mơ màng màng, như vẫn còn linh đinh trên mặt hồ!”…

Theo cùng một dạng đề tài, mấy năm sau Đàm Xuyên Nguyễn Phan Lãng (?-1948) sớm viết tiếp bài Thưởng sen Hồ Tây (Nam Phong, số 12, tháng 6-1918) theo phong cách du ký mà câu văn ở đây còn in đậm chất biền ngẫu:

“Hồ Tây sản sen, năm năm cứ đến đầu hè, thời lá mới mọc đầy, nghìn vạn lọng xanh phấp phới, hoa vừa nở chiếng, năm ba bông trắng nhấp nhô. Mặt nước phô màu, rực rỡ cảnh hồ thêm vẻ, gió nồm đưa mát, dập dìu gót khách tìm hương.

Trung tuần tháng tư năm Mậu Ngọ (1918), giời mới sang hè, khí còn hòa, mưa mới tạnh, mành tương phần phật, gió huân thổi lại như đàn, án tuyết thảnh thơi, áo lụa bay lên tựa múa, thích ý quá, muốn đi chơi, đang ngồi nghĩ kiếm chỗ chơi, chưa được. Chợt có một ông khách lại, rủ đi chơi! Hỏi: Đi chơi chỗ nào cho thú? Ông khách rằng: Thú nhất Hồ Tây. Hỏi: Chơi Hồ Tây có cái gì thú? Ông khách rằng: Có sen thú! Thưa rằng: Ờ, ờ! Phải! Phải! Thú thật! Giời gió mát như vậy, đứng trên bờ hồ, mà hóng hơi sen đưa lên như thế thời thú thật! Nhưng mà muốn chơi sen, thời hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm chẳng được ư? Can gì mà phải đến tận Hồ Tây? Ông khách cười rằng: Thế thời anh còn quê thật, biết chơi hoa mà chưa sành! Hồ Bảy Mẫu không phải là chỗ đất danh thắng, hồ Hoàn Kiếm là một nơi huyên náo. Nơi huyên náo quá, thời dẫu có hoa thơm cũng mất vị; không phải danh thắng, thời những người du lãm chửa từng qua, lấy gì làm thú? Huống là ở hồ Hoàn Kiếm, nó gọi là quỳ, tuy cũng là loài sen, mà không phải thật là sen, hồ Bảy Mẫu tuy cũng có sen, nhưng lẫn giống tất mùi hương phải tục, chơi có thú gì? Vả tính sen không ưa nước đục, ở chỗ nước đục thời còn quý gì sen? Anh chừng chưa đến Hồ Tây bao giờ? Vậy thì thấy hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm, cũng đã lấy làm thích đó sao?... Này! Hồ Tây mới thiệt là một nơi danh thắng đệ nhất ở trong đất Thăng Long này; bốn bề bát ngát, bờ rộng thênh thang, làn sóng êm đềm, nước trong leo lẻo, sen sinh ở đó, quý đã có tiếng, tới đó mà đón lấy hương vị ấy, thú tuyệt! Chứ anh tưởng hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm đã thấm vào đâu.

Nghe nói, phong cảnh như vẽ, hứng thú như bay, liền theo khách đi. Tới bờ hồ, ngẩng mặt lên nhìn, trông quanh bốn phía, quả nhiên: mắt ngoài mười dặm, ngó chẳng thấy bờ, nước phẳng một làn, hơi thành gợn sóng, trắng xóa một màu, thấp thoáng lụa phơi mặt nước, xanh rì mấy đám, nhấp nhô lọng đứng trong dòng; lá đón mặt giời, chiếc nghiêng chiếc ngửa, hoa chào trước gió; chiếc mỉm chiếc cười, mũi sực mùi hương, càng lâu càng thích; mắt nhìn sắc đẹp, mọi vẻ mọi xinh, thích tính thích tình, mát lòng mát dạ, nhơn nhơn coi chẳng khác gì như mình tới cảnh Dao Trì vậy”…

Một năm sau, Hội Nhân kể chuyện Đêm tháng sáu chơi hồ Hoàn Kiếm (Nam Phong, số 28, tháng 10-1919). Trên thực tế, đây là cuộc du chơi, đi dạo, thư giãn trong chốt lát giữa đêm hè của một người có điều kiện sống ngay bên hồ với những quan sát cụ thể và những nhận xét, liên hệ, suy tưởng miên man:

“Ngày là hăm bảy, tháng cuối mùa hè, vừa xong mấy trận mưa to, mát được vài hôm mà khí nóng nực vẫn còn như đốt. Khiến cho người mồ hôi tầm tã thấm áo lót mình như là bị nước dội vào; tay không thể rời được bác bạn vô tình là chàng quạt cây, phải mong ỷ lại mà nhờ chút mát “làm ra” không phải “trời cho”. Cũng muốn ngồi đốt cụ thần đăng tỏ rạng để hầu chuyện các bậc hiền triết cổ kim trong thế gian này, mà không sao như ý được! Nằm trên chiếu trúc không yên, lại trở dậy ra bao lơn gác đứng, nhìn hai rặng sấu đôi bên đường cây nào cây ấy chẳng thấy chiếc lá lung lay; thấy vô số những người hoặc đem chõng, hoặc đem ghế mây, hoặc đem chiếu mà nằm ngổn ngang ở sân gác hoặc hè gạch lát, cùng nhau chờ đợi chú phong nhỉ! Chao ôi là bức! Chợt đã thấy chuông nhà thờ chánh Hà Nội đổ dồn một lúc thật mau, vội bước vào nhìn lên chiếc đồng hồ vách thấy kim đã chỉ mười hai điểm. Toan đi ngủ, ông bạn láng giềng lại gọi rủ đi tìm mát ở hồ Hoàn Gươm, vội vàng theo mạnh.

Để mắt về phía núi Bút Tháp, cửa Nghiễn Đài thời chỉ thấy lù lù đèn trông như cái  đống, mà cầu Thê Húc cũng không tỏ chút nào; cố nhận ra mới biết chốn đền Ngọc Sơn thời mường tượng như một cái đình của dân nào ngày lụt ở ruộng đầu làng; mà cái tháp Báo Thiên ở giữa hồ thời chẳng khác cái miếu trên nấm đất cao giữa cánh đồng chiêm. Mặt nước thời long lanh sóng gợn coi như những cái vẩy con rồng ngày hội Chánh trung, thỉnh thoảng có con cá quẫy cùng lớp cồn to; sen thì ở bên kia, phía này không có, muốn ngửi hương mà chẳng được vừa lòng! Quanh bờ thời bóng cây in xuống nước, đen như người vẽ mực trên tờ giấy xanh, hãy còn chấm phá chưa rõ cành lá chi chi, xen những ánh đèn điện gieo xuống hình như là người vẽ rắc kim nhũ lên bức tranh, càng nhìn ra lại càng thấy đẹp; cũng có góc xa nhìn như là những ánh lửa trong bếp thuyền chài ngày nước lên ở xứ đồng chiêm, họ thổi cơm nấu nước trên nhà bè mà sáng lồng xuống ruộng; khiến riêng tôi cảm nhớ đến quê nhà. Các gốc cây cái rõ cái không, các bụi nhỏ cái tường cái ám, những cây lả thân rủ ngọn xuống hồ, nhìn được cây nào thời thấy như khí tượng ông già còng lưng, lại có như khí tượng cái cầu bắc bằng tre bôi xà phòng cho kẻ ra lấy lá cờ ở ngọn không ngã thời vào là được mấy xu, hội hè thường có. Những cái cây gần chỗ ngồi thời trơ trơ chẳng động, ánh đèn ngoài chiếu trông tỏ những cây yếu ớt thân bằng dây phải bám leo vào cây cứng mạnh, nghĩ mà tủi cho kẻ nghèo hèn nương tựa vào người giầu sang, không thế thời không sao được, lại thương cho thân phận lạc loài, dẫu sao cũng ở tay người biết sao, của chị Thúy Kiều xưa!

Quá mắt ra ngoài vùng hồ, thời nhà cửa lô xô, lâu đài ngan ngát, dây chằng như mắc cửi, cột dựng như cắm chông, chỗ sáng vặc như giữa trưa, chỗ sáng hửng như trăng chiếu, xinh thay! Vật chất đã văn minh, thật là hoa thêu gấm dệt, ngọc dát vàng pha, người lạc thế trông vui con mắt thật”…

Thiên du ký kết thúc cũng mau lẹ như chính nguồn cơn có cuộc chơi đêm, cũng ngẫu nhiên và thật bất ngờ: “Tiếng sấm vụt nổi, hột mưa liền mau, giải hết cơn nóng lúc nãy; anh em về, mỗi người một nhà. Nhân mát mẻ cầm bút ghi để nhớ về sau. Chắc mỗi đêm chơi Hồ Gươm một thấy khác. Hồ Gươm là cảnh đẹp thay!”…

Du ký Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX (*) - ảnh 3
Phố Hàng Nón (ảnh triển lãm tại Thư viện Hà Nội vào ngày 07/10/2010)

Đi xa hơn, ông Lê Đình Thắng (đương chức Thư ký Phủ Thống sứ Bắc Kỳ) có viết Bài ký chơi chùa Thầy (Nam Phong, số 48, tháng 6-1921). Bên cạnh việc ôn lại truyền thuyết Từ Đạo Hạnh hóa thân, ghi chép lại các câu đối, nhắc nhớ lại thơ cổ nhân và trực tiếp tức cảnh một bài lục bát 12 câu, ông quan ham hiểu biết này đi sâu mô tả vẻ đẹp chùa Thầy và bộc lộ tâm tư trước cõi đời cao rộng:

“Người ta sinh trưởng trong một nước mà không biết giang sơn, thắng cảnh, danh lam của nước mình thời sao có sinh ra lòng mến nước? Không những thế mà thôi, đã làm trai thời phải tang bồng hồ thỉ, đi cho biết đó biết đây; phải nên tới những chỗ thâm sơn cùng cốc, nhiên hậu kiến văn mới rộng; phải có lưu lạc giang hồ mới trải mùi nhân tình thế thái.

Vậy bấy lâu nay chúng tôi vẫn nghe nói núi Sài Sơn là nơi thắng cảnh nước nhà, nhân buổi nhàn ru, năm Tân Dậu (1921), mùa xuân tháng ba, cùng với người bạn đồng sự cùng đi ngoạn cảnh. Hôm đi khí trời ôn hòa ấm áp, mây quang trời tạnh, trăm thức hoa đua nở, giục lòng người hớn hở du xuân. Đi ô tô tự nhà, xe chạy vùn vụt hơn một tiếng đồng hồ đã tới chân núi…

Khi cung chiêm đền xong rồi chúng tôi lại sang chùa. Chùa này gọi là chùa Hương Hải, chùa trông cổ lắm. Chùa xây tự đời nhà Lý, đến nay đã ngót nghìn năm. Trong chùa thờ cũng như các chùa khác, duy chỉ có những chuông, trống và khánh là khác các nơi. Chuông cao bằng đầu người, rộng hơn một thước mặt, đúc tự năm Ất Tỵ, tiếng kêu to lắm; trống thì to lạ nhường, bình sinh tôi chưa trông thấy bao giờ, không biết làm từ đời nào, không còn dấu tích gì cả, chỉ còn có tang không, người chui vào giữa đứng ngẩng lên vừa chấm đầu. Lại khánh cũng to, cân nặng bẩy trăm cân, tiếng đánh kêu vang khắp vùng. Lúc trở ra trông phong cảnh dưới chân núi cũng lấy làm ngoạn mục; trước cửa đền có hồ bán nguyệt; giữa hồ có nhà múa rối, hai bên tả hữu có hai lớp cầu. Cây cối thực là cổ thụ. Đứng đàng trước mà trông lại thực là một bức tranh sơn thủy lâu đài tuyệt bút…

Xem xong chúng tôi rủ nhau đăng sơn. Đường lên một bước một cao, khác nào như thể lúc vào Thiên Thai. Đường lên chùa Thầy khó hơn đường vào động Hương Tích. Phải trèo, phải vịn cẩn thận mới lên được. Lối đi khấp khểnh quanh co, gian nan trắc trở; cây cối um tùm, cỏ hoa tươi tốt, khiến lòng người cao hứng mải vui quên cả nhọc. Trèo lên hơn một khắc đồng hồ, nhác trông lên vách đá đã có bia đề”...

Sau khi thăm nhà quán khách, động Thánh Hóa, Chợ Trời, hang Thần Tôn (Cắc Cớ), hang Gió… người viết kết thúc chuyến đi và cũng là kết thúc bài văn với dư âm đầy hứng khởi: “Ôi! Sao người đời nay có lắm người chỉ mải vùi vào cuộc chơi bời vô ích, đến nỗi mất cơ mất nghiệp, tổn tinh thần, hại sức khỏe, mất danh mất giá, không được hưởng cái thú thiên nhiên của tạo hóa. Khi ký giả đương nghĩ vơ vẩn chợt nghe chuông chùa đã đánh, ngửng đầu lên, mặt trời đã xế, chiêng đà thu không, giở đồng hồ ra xem, đã gần bốn giờ chiều, vội vàng thu xếp hành lý ra về. Lúc về đến nhà ăn cơm xong nằm nghỉ, trong trí vẫn còn bâng khuâng nhớ cảnh nhớ chùa”...

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

(Còn nữa)

-----------

(*) Bài viết nhân Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác