Du ký Đà Nẵng nửa đầu thế kỷ XX

Du khách đến với Đà Nẵng không chỉ được lên non cao Bà Nà nghỉ dưỡng, qua Ngũ Hành Sơn thăm ngôi chùa cổ, xuống biển Mỹ Khê dỡn sóng… mà còn được thăm bảo tàng Chàm, bâng khuâng mơ tưởng theo dấu cũ người Hời, tháp cổ ngấn rêu đá mốc, dinh thự bia mờ nét chữ…

Du ký Đà Nẵng nửa đầu thế kỷ XX  - ảnh 1
Bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng

Đà Nẵng hiện nay là thành phố lớn với 6 quận nội thành, một huyện ngoại thành và một huyện đảo, có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều điểm du lịch sinh thái và di tích lịch sử. Hồi đầu thế kỷ XX, Đà Nẵng (Tourane) đôi khi vẫn được người vùng khác gọi chung theo địa danh Quảng Nam. Đến nay chúng tôi mới sưu tập được một số tác phẩm du ký viết về miền quê Đà Nẵng của các tác giả Mẫu Sơn Mục N.X.H, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Nguyễn Trọng Thuật trên tạp chí Nam phong. Tuy số lượng tác phẩm chưa nhiều song lại mang tính đặc tuyển, in đậm sắc màu du ký, vừa có diện vừa có điểm, phác vẽ được những nét chính yếu cảnh quan và đời sống văn hóa Đà Nẵng một thời.

Trong bài Lược ký đi đường bộ từ Hà Nội vào Sài Gòn in trên tạp chí Nam Phong (Số 129, tháng 5-1928; Tuyển in trong Du ký Việt Nam - Tạp chí Nam Phong, Tập III. Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, giới thiệu. NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2007, tr.25-44), du tử Mẫu Sơn Mục N.X.H đã kịp thời quan sát cảnh vật từ Ải Vân Quan đến Đà Nẵng qua mấy dòng ngắn gọn:

“Nước ta có hai cái Col des nuages (Đèo mây), một cái là Ải Vân Quan này, còn một cái ở vào Lao Kay đi Phong Thổ và Lai Châu, ta gọi là “Rừng Cấm”. Ải Vân Quan này chỉ trên ngọn núi cao thỉnh thoảng còn có mây, còn chỗ đỉnh đèo lối người đi thì chả mấy khi có mây. Đến như Rừng Cấm thì cao lắm, tôi cũng đã được đi qua chỗ đỉnh đèo, lối người đi dễ cao hơn 1000 thước tây, bao giờ cũng có mây mà rét lắm. Suốt đèo toàn là rừng cả, cây nào cũng rêu bám kín mít, giống rêu ở chỗ rét này khác giống rêu ở dưới thấp, hình như từng miếng đăng ten xanh ở thân cây rủ xuống, coi thực là đẹp. Người ta nói rằng phong cảnh rừng cây ở đấy giống như ở bên Tây.

Cứ theo rìa bể đi một lúc thì đến Tourane. Tourane là cái vịnh, rất tốt cho tàu bè, vả lại gần trung tâm điểm nước ta bây giờ là Huế, cho nên khi nước Đại Pháp mới sang lấy Tourane là nơi căn cứ. Tourane này là một cái thành phố nhỏ, trên bến dưới sông, thuyền đánh cá như lá tre, chợ búa, phố xá, nhà máy gạo, buôn bán cũng vui. Ở đấy có nhiều người Mọi ra chợ. Rồi qua Quảng Nam, Quảng Ngãi, hai thành phố này là thành phố cổ. Quảng Ngãi buôn bán sầm uất hơn Quảng Nam”…

Trong tác phẩm Banà du ký in trên tạp chí Nam Phong (Số 163, tháng 6-1931), nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896-1982) kể lại những điều mắt thấy tai nghe qua suốt nửa tháng du lịch - du chơi - điều dưỡng trên núi Bà Nà (theo cách đọc, cách viết ngày nay). Với phụ đề Mấy ngày đăng sơn lên thăm núi “Chúa”, nữ sĩ nêu lý do cuộc du ngoạn cũng như các cách gọi tên và việc núi Bà Nà được vinh danh là núi “Chúa”:

“Đương khi lửa hạ nấu nung, ở giữa chỗ bụi lầm xe ngựa, cái thú nước biếc non xanh dễ ai không mơ ước. Chiều chiều đứng trên bờ biển Đà Hải, nhìn làn sóng lao xao, ngọn trào xô đẩy, ngoảnh trông về phía tây núi non trùng điệp, đối ngọn Hoành Sơn, thấy một trái núi cao ngất mấy tầng, chót núi như đụng mây xanh, chung quanh thì núi nhỏ xúm xít như đàn con chầu mẹ; núi này đại danh là núi “Chúa”, tên thường gọi là “Banà”; đỉnh núi có nhà mát của người Pháp lập nên được ít lâu nay, vì núi “Chúa” có nhiều thắng cảnh và thời tiết khí hậu lại có phần đặc biệt lắm. Mùa đông mây ủ như tuyết sa băng đóng, mùa hè mát mẻ êm đềm như xuân phong hòa khí, cảnh sắc tuyệt trần, không nơi nào sánh kịp.

Tôi sẵn lòng ham mộ được một phen du lãm danh sơn cho biết non sông hoa cỏ, hiềm vì đường đi trắc trở sơn khê, chỗ nghỉ ngơi không tiện, may sao được dịp có người quen, sẵn lòng nhường chỗ ở nghỉ mát ít ngày, mà cái chí đăng sơn của tôi nay mới thực hành.

Vào giữa tháng Juin 1931, gần ngày hạ chí ở Tourane dậy sớm, bốn giờ rưỡi sáng đã lên xe ô tô, đi khỏi thành phố một lúc, vừng đông vừa rạng, sương móc chưa tan, đi qua mấy cánh đồng, mục tử đuổi trâu còn ngái ngủ, nông phu gieo mạ hãy vươn vai. Xe cứ ngắm chân núi đi lên quanh mấy làng Tùng Sơn, Phú Thượng, đã thấy núi con lúp xúp, rẫy bái miên man, phút chốc đã đến chân núi, dừng xe lại thôn cư An Lợi, coi đồng hồ mới ngót một giờ, tính đường đất có hơn 20 mươi cây số (nếu đi ô tô nhà thì lên quá chân núi được ba cây số nữa, còn xe camion chỉ đến đây mà thôi). Bên đường đã thấy có phu có kiệu, chực sẵn đón khách du sơn”...

Đây là cách đi và lối lên đỉnh núi cũng như cảm nhận của người ngày đầu đặt chân lên đỉnh non Bà Nà mà cảm giác như lạc giữa non tiên, giữa nơi non nước và bầu trời hòa nhập trong nhau:

“Mới đến chân đã thấy núi nguy nga tráng lệ, mà cái thế khi khu hiểm trở ba bề liên tiếp với các núi con, một mặt liền với thôn An Lợi, có suối lớn, có hố sâu, thủy thổ rất độc, nước uống sinh bệnh sốt rét vàng da, trong rừng thì lắm thú dữ: sài lang hổ báo, rắn rết chim muông. Núi thì cao (hơn 1.000 thước tây), trông lên muôn trùng vòi vọi, lá thắm cây xanh, cảnh tượng ở dưới chân núi, đối với con mắt người thành thị quen ngắm những chòm ngói đỏ tường vôi, thoạt tiên bước chân đến chỗ thâm sơn này lần thứ nhất, ắt sao cho khỏi ngạc nhiên; nhưng muốn tắm mát lên ngọn sông đào, nếu không có gan mạo hiểm thì sao khám phá được hết cảnh trí thiên nhiên của thợ Tạo. Vả chân núi tuy là có nhiều thú dữ và nước độc, song từ Dương Cát là lưng chừng núi trở lên đến chót, thì nước đã hết độc, mà thú dữ vắng tanh, vì trên ấy cao quá không có mồi mỡ gì, nên thú cầm cũng không thể sinh hoạt được. Đường đi lên núi thì xa thăm thẳm, trong trốn rừng già, quanh co hàng mười mấy cây số, trèo non lội suối khó khăn, phải ngồi kiệu mới lên được, nên đã có phu kiệu đợi sẵn ở chân núi vì đã dặn trước, giá tiền thì có lệ nhất định, mỗi kiệu dùng sáu người phu, tôi cùng nhà tôi và các trẻ ngồi hai kiệu, cả khách lẫn phu bắt đầu lên núi. Đường đi lên coi cũng tuyệt diệu, có chỗ thì xoáy tròn như trôn ốc, có chỗ thì chéo hình chữ chi, nên phải từ từ mà lần bước, tuy khó nhưng nhờ có đường cũng rộng rãi khang trang, qua suối có cầu, lên dốc có bậc, vì mỗi năm đến mùa nghỉ mát khởi tự tháng Mars, Avril (tháng 3, tháng 4 - NHS chú), Chánh phủ đã cho người lên sửa sang đường xá dinh thự, cho nên cũng tiện lắm. Đường núi có nhiều cây cối rậm rạp bùm tum, bóng tre mát rợp đường, không phải dương ô đội nón, đến như mấy người khiêng gánh nặng nề mà cũng không thấy đổ mồ hôi vì mệt nhọc, càng lên cao thì càng mát, thanh khí nhẹ nhàng, làm cho tinh thần khoan khoái, mường tượng như giữa tiết trời xuân ở xứ hàn đới, khác hẳn với Tourane đương gần ngày hạ chí vậy. Ngồi trên kiệu ngó xuống đường, bên thì sườn núi vắt vẻo, bên thì hố sâu thăm thẳm, những cây cao lớn mọc dẫy la liệt, thành hàng ngay thẳng, ngó chẳng khác chi binh lính bồng súng đứng chào; còn các thứ ký sinh như dây tơ hồng, chàm gửi, khô mộc, ổ rồng, bám trên cành cổ thụ lủng lẳng, chằng chịt như treo đèn kết hoa, trông rất ngoạn mục, có chỗ đi qua mùi thơm sực nức, mà tìm không thấy hoa gì, có lẽ hoa lan mọc trong hang sâu chăng?

Tiếc thay lan mọc trong hang,

Mùi thơm sực nức ai màng làm chi?

Đem tầm con mắt bao quanh núi xanh thấy trăm ngàn cây chen lá, lá chen hoa, bông thắm nhị vàng như muôn hồng nghìn tía, mặt trời buổi sớm chênh chếch sườn non, ánh sáng chiếu vào ức triệu hạt sương lóng lánh như kim cương giát vào lá ngọc cành vàng. Nước thì trong suốt, suối thì chảy quanh co, hai bên bờ bướm lượn nhởn nhơ, bông thơm cỏ lạ, trên cành ve ngâm chim hót, gió cuốn thông reo, cảnh tượng thiên nhiên như hoa thêu gấm dệt, như sáo thổi đờn kìm, làm cho tinh thần say mê mải miết, dường như lạc bước Tiên Thai, kỳ ngộ non thần vậy”…

Sau khi kể lại những sự tích và truyền thuyết, truyền ngôn, giai thoại về chuyện vua Gia Long từng chạy chốn trên núi; chuyện nơi đây có “động tiên”, có tảng đá “ông Phơi” to lớn dị thường, rộng ước mấy mẫu; chuyện có cặp rắn to gọi là ông “Cụt”, ông “Dài”; chuyện ông “Hang” là một hòn đá kỳ dị nằm dưới trũng núi, “tôi có ghé lại xem thì thấy hòn đá mình tròn mà đen, thân dài ước 30 thước tây, nằm ngang dưới trũng, đầu ngẩng lên núi, hình cao hơn đường đi, trên lưng đá mọc đầy những cây tóc tiên, lá nhỏ mượt như lông xanh, đầu thì lơ thơ, đuôi thì rậm rịt mà xòe ra như đuôi lân, trông rất đẹp, phía đầu hòn đá ấy lõm sâu xuống thành hang, những người đi làm đường trải chiếu xuống đó làm chỗ tạm trú, vì dưới hang có nhiều đá bằng phẳng, trên thì cây cối che rợp, không lọt ánh mặt trời, thật là thanh u tao nhã, đứng trên sườn núi ngắm kỹ hình tích đá ấy nghiễm nhiên như lân quì rồng phục vậy”… nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa tiếp tục bộc lộ xúc cảm trữ tình và tỏ bày suy tư, chiêm nghiệm trước vẻ đẹp non nước Bà Nà và thế giới tự nhiên vô thủy vô chung:

“Đỉnh núi chon von, càng lên càng thấy cao, càng đi càng thấy đẹp, nước chảy đá nhô, hoa cười cỏ múa như đưa đón khách du; đi ngót một buổi, xa xa đã thấy lâu đài nhà mát, mái kẽm tường sành, lấp ló trên đỉnh núi cao, trước hết thấy đồn lính sơn đá, lần lần đến biệt thự của các sở, có nhiều chỗ đường đi ở dưới, nhà đứng ở trên, mà đi quanh quất mãi mãi mới lên đến cổng, vào tới nhà quen vừa đúng 11 giờ, trả tiền thuê mỗi kiệu ba đồng xong, trông ra đã thấy viên Bang tá đến chơi, chuyện trò một lát, chúng tôi bày tỏ mục đích là đi du lãm, rồi ông ta mới cáo từ.

Mới đến đã thấy mát mẻ bội phần, tuy là đi xa mà không nhọc mệt, cái khổ vì bụi bặm đường trường tuyệt nhiên không thấy, thật là lâng lâng chẳng chút bụi trần, thế nhưng cái thú vị thanh cao có ở lâu mới thưởng thức hết được. Non xanh nước biếc, gió mát hoa thơm, đủ di dưỡng tinh thần cho những người đã chán cảnh phiền hoa, tiêu trừ tật bệnh, cho những kẻ ốm đau vất vả, vì ở nơi thoáng khí trong sạch, thời tiết mát mẻ, đương giữa mùa hè mà mây mù sa, gió tây lạnh, hằng ngày phải áo kép chăn bông mới chịu được. Nhưng khí lạnh ở đây không phải như mùa đông ở xứ ta đâu, đây là mát lạnh êm đềm, vì trời quanh mây tĩnh, đương nắng vụt mưa, mưa không phai hoa lạt nhị, đương nồng vụt gió, gió không gẫy nhánh nghiêng cây, vậy nên các thứ rau, đậu, salade, ở đây họ mới bắt đầu trồng, có thứ đã xanh tốt, hoa quả chíu chít đầy cành, vì đất đai khí hậu tốt mới được thế.

Ai mới đến non tiên, ắt sao cũng còn quyến luyến cõi trần, trước hết muốn trông về quê nhà, nào có khó gì, hé cửa sổ ra xem, hay là đi ra sân ngó xuống, thì thấy rõ ràng, nào thôn ổ lâu đài, ruộng dâu lúa má, bình địa cao nguyên, chỗ cao chỗ thấp, miếng đỏ miếng vàng, lốm đốm như bức tranh thiên tạo, khe ngòi sông rạch, quanh co uốn khúc, như rắn bạc rồng vàng, thiên hình vạn trạng, la liệt phô bày như ở trước mắt; lạ sao vừa mới ở chốn nồng nàn bực bội vì thán khí ô trọc, tiếp xúc những cảnh phồn hoa bỉ ổi, thốt nhiên một chốc tiêu dao trên khoảng trời xanh, nhìn lại đám hồng trần khói bụi, thì sao khỏi ngạc nhiên, tưởng mình đã lên một quả địa cầu nào khác, trông lên ở một quả địa cầu nào khác, trông lại cõi trần mà chán!”…

Gián cách với đời sống phố phường đô hội, nữ sĩ tả lại cảm giác thú vị khi ngủ trên giường tầng trong gian nhà nhỏ tựa như ca - bin tàu thủy, trong đêm gió thổi ào ào, tưởng như mình đang bồng bềnh trên mặt biển. Rồi nữ sĩ tái hiện lại quang cảnh và sự phát triển khá sôi động của khu nghỉ mát dưới thời - thực - dân cách ngày nay vừa tròn tám mươi năm:

“Mấy hôm đầu vì lạ phong thổ, cho nên tinh thần không được thanh thản, sau quen rồi mạnh mẽ, ăn ngon ngủ kỹ. Nhà tôi vì hết phép nghỉ, nên phải về trước, còn tôi ở lại, ngồi rỗi dắt lũ trẻ đi chơi trong núi, đi chỗ nào cũng có đường sạch sẽ, sườn núi xắn làm đường, bạt đỉnh núi làm nhà, thật có công phu của Nhà nước mới làm được vậy, tô điểm cho vẻ thiên nhiên thêm xinh đẹp, cây cối mọc dưới đường đi, như đi trên ngọn cây tòng bá trúc mai vậy. Kể người Pháp lên ở đây khởi đầu từ Sở Kiểm lâm lên làm trụ sở mới năm 1915, rồi sau các công sở mới làm nhà mát tiếp lên đông đúc như bây giờ, song những người ở đây duy có người Pháp, còn người Nam chỉ phục dịch mà thôi. Đỉnh núi chia ra từng cụm, cụm nào cũng nhà cửa nguy nga lộng lẫy, đó là biệt thự của các quan chức Đại Pháp, các tòa sở như Khâm sứ, Đốc lý, Thương chánh, Bưu điện, Y tế; lại còn đồn lính Lê dương, có nhà giam tù quốc phạm v.v… Việc cai trị An Nam thì có viên Bang tá, coi việc tuần phòng dân phu. Mỗi năm đến mùa hè thì các quan chức người Pháp lần lượt lên nghỉ mát cho đến tháng Octobre (tháng 10 - NHS chú) mới thôi, sở nào cũng có nhà riêng; còn như tư gia thì ít lắm, duy có đôi nhà tư bản và thương mại Pháp - Trung Hoa thì có một sở của người Compradore Ngân hàng mà thôi, còn người Việt Nam ta thì từ nhà quyền quí cho đến nhà tư bản cũng tuyệt nhiên không ai có sở nhà nào cả; không rõ vì khó xin đất, hay là sợ tốn tiền và hủ bại, không biết thưởng thức phong cảnh thiên nhiên và di dưỡng thân thể tinh thần, thì thật là đáng lấy làm thương tiếc cho họ lắm. Còn về sự thương mại ở đây có hãng Morin frères là đắc thể hơn hết, nhà hôtel hai tầng làm trên đỉnh núi cao chót vót, đứng trên trông được khắp mọi nơi. Trong hàng có cơm ăn, có phòng trọ, có chớp bóng, có thể thao, đủ các cuộc tiêu khiển, lại bao cả việc vận tải thơ từ hàng hóa và kiêm việc mướn kiệu thuê xe nữa. Vì thế cho nên hễ ai muốn lên ngoạn cảnh cũng phải nhờ hãng Morin thuê mướn xe kiệu cho, còn giá tiền cho thuê phòng ở, cơm ăn rất đắt, mỗi ngày một người phải mất từ tám chín đồng trở lên mới đủ. Vậy nên chỉ tiện cho người Pháp dùng, còn người Nam thì rất khó. Thiết tưởng Chánh phủ mà muốn ra ơn cho được tiện lợi cả hai đằng, thì trong các sở chỗ nào còn dư đất, Chánh phủ cho làm thêm một sở nhà riêng tùng tiệm cho các viên chức tòng sự liêu thuộc người An Nam, ai đau ốm mệt nhọc được lên đấy có chỗ nghỉ ngơi điều dưỡng, thì ơn của Chánh phủ ai mà chẳng cảm bội”...

Sau khi ngợi khen về việc các ông chủ Pháp cho xây bể nước và kể lược qua một vài loài thảo mộc (dễ cây bông cỏ dùng làm thuốc nam, trúc hoa, vỏ ăn trầu, cây ngải cây trầm, cau rừng hột mây…), vài loài động vật (sâu bọ rắn rết kỳ hình dị dạng; con rắn có bốn chân dưới bụng, miệng lại có râu, tựa như rồng con; giống sâu hễ động vào thì nó cuộn tròn lại như nửa hột đào, vỏ cứng mà đen, nhìn kỹ cũng không thấy đầu đuôi đâu cả; con cắc kè mà lại có cánh, bay nhảy trên ngọn cây rất giỏi…), nữ sĩ kể lại một chiều lãng mạn đọc sách bên các con cùng cơn mưa bất chợt hay một sáng thảnh thơi ngắm hừng đông:

“Một buổi chiều tôi cầm sách ra đồi núi, ngồi dưới gốc tùng xem cho tĩnh mịch, bên mình có lũ trẻ lên 7 lên 8 chạy nhung nhăng hái hoa bắt bướm. Mải xem, trời vần vũ không hay, một lúc thấy dưới trũng núi, xa xa có một thứ khói như mây trắng bốc lên ngùn ngụt, lúc lâu khói ấy bay tỏa lên không trung, rồi lần lần bao phủ khắp hết các cụm cây cối nhà cửa, trước còn trông thấy lờ mờ, sau đến cả chỗ mình đứng cũng mù mịt nốt, như bức màn trắng khổng lồ giăng khắp núi non, đến nỗi người ta đứng cách nhau chỉ độ mấy thước cũng không trông rõ mặt; tôi cố đứng lì để xem, sau thấy mù quá, mới rảo bước đi về, lũ trẻ nhanh chân chạy trước lấp trong đám mù, chỉ thấy mầu áo xanh đỏ phấp phới, ngắm xem không khác chi một bọn tiên đồng nhởn nhơ thấp thoáng trong mây, thật là tuyệt thú. Lững thững về nhà, vừa bước vô thềm, mưa to liền đổ xuống, mừng may không ướt. Ngồi trước hiên nhìn nước chảy giọt mưa sa, gió hiu hiu thổi la đà cành thông. Mình ở non tiên, thương ai trần thế, cùng một buổi này lửa hạ nấu nung, lò cừ hun đúc, những ai ai còn mài miệt trong đám lợi danh, đắm đuối vào trường vinh nhục, thì giọt nước cam lộ cành dương sao tưới khắp!... Một lúc mưa tạnh mây tan, mặt trời lại chiếu sáng như thường. Sau nghiệm xem mỗi lần có mây mù như thế thì mưa to, mưa tạnh thì mây cũng tan ra nước hết, thế mới biết vì chót núi cao, mây với mù gần nhau, ta ở lẫn trong mây nên trông mù mịt vậy.

Lại một buổi sáng trời thanh mây vắng, dậy sớm lên chỗ cao đứng ngoảnh mặt về phương đông xem vừng thái dương mới mọc, thật là một cảnh nên thơ: kìa kia một vành đỏ thắm, xa xa như lướt mấy tầng sóng bạc mà nhô lên, lúc đầu thấy nửa, sau lần lần mọc rõ toàn hình, tròn vành vạnh như cái nong lớn, chung quanh tia sáng tỏa ra như hào quang rực rỡ, dưới chân có đám mây xen lẫn như ánh lửa lừng đỏ chói, mặt biển như tấm thảm vàng kim tuyến, cảnh tượng này duy có trên núi cao mới trông thấy rõ ràng đẹp đẽ, oai nghi vô cùng”...

Qua nhiều ngày ngại ngần, rồi có một lần nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa cũng thỏa nguyện đến thăm được núi Gia Long với biết bao nỗi niềm tâm sự trước kiếp người và cõi đời, trước những phế hưng lịch sử và đất trời mênh mang dằng dặc buồn thương:

“Một thời gian ung dung xem khắp các nơi, duy còn núi Gia Long thì hàng ngày trông thấy cây đa cổ đứng trên chót núi, cành lá sum sê, xây tròn như cái tán, thấy đó mà chưa đi đến nơi, vì nỗi dấu thỏ đường dê, chim kêu vượn hú, tứ bề vắng không, sau nhờ người dẫn lộ mới sang được tới nơi…

Cảnh quyến người, người luyến cảnh, lưu liên không muốn dời chân, tùy hành giục giã, mặt trời đứng bóng, dặm về còn xa. Bẻ lau vạch cỏ đi ngót mấy giờ nữa mới đến chân núi, trèo những dốc cao như nóc nhà, rồi mới tới đỉnh giữa chót núi, thì cây đa vẫn đứng sừng sững đó, giữa có đám đất vuông bằng phẳng sạch sẽ như cái sân vuông, chung quanh cây cối ngay thẳng như hàng rào sân vườn người ở vậy, lác đác có ít cây chè mọc lẫn với lau cỏ và trúc tùng, lại thêm giống trúc hoa sinh sản ở núi này nhiều hơn cả.

Còn phong cảnh thì tứ bề non cao chồng chất, chớn chở như thành lũy pháo đài, dưới thì làng Mọi ruộng nương lúa bắp xanh tốt như chàm. Làng xóm Mọi tuy thấy đó mà đi cho đến nơi thật là xa lắm; trông ra cửa biển mênh mông bát ngát, ngó xuống bình nguyên, giang sơn gấm vóc phô bày giữa quãng trời Nam, mà chính chỗ ta đứng viếng đây, xưa vua Gia Long đồn binh lập trại, ngày nay người Đại Pháp nối gót dựng lên biệt thự thừa lương, một góc giang sơn, tang thương mấy độ! Điếu cổ hoài kim, mình ta với núi!...

Cất ngòi bút láng lai dòng lệ mực!

Đoái non sông man mác khói mây tuôn!...

Viếng núi Gia Long thành tâm có mấy câu cảm khái, mượn núi khe làm kỷ niệm, hỏi cây cỏ làm tri âm, ngoài ra không có giúp thêm cho sự quan sát nữa. Bảng lảng mặt trời đã xế, rủ nhau xuống núi về nhà, hồi tưởng lại cuộc du sơn ngày nay hồ dễ mấy khi tái ngộ”…

Cuộc vui nào rồi cũng đến đoạn kết. Sau gần nửa tháng, nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa từ biệt Bà Nà và tả cảnh ngày về với biết bao bâng khuâng, lưu luyến:

“Lúc về đường đi dốc xuống, ngồi kiệu có phần khó chịu hơn lúc đi lên, còn phong cảnh lúc đi xuống trông lại càng đẹp hơn. Nhân đêm hôm trước có mưa to, sáng ngày đi sớm hay gặp rắn rết (tiếng Trung Kỳ gọi con rít) bò ra đường, nếu vô ý thì dẫm phải, rắn thì không thấy rõ, vì nó chạy mau quá, đến như rết thì con nào cũng lớn bằng lưỡi dao lưỡi liềm, bò nghêu ngoao bên sườn núi, vênh râu giơ càng, bày hai hàng chân đều đặn mà vàng thẫm, trông đẹp đẽ mà dữ tợn. Càng xuống thấp, càng thấy nóng, khác hẳn với lúc trên núi ra đi phải khoác áo bông, vì hơi sương lạnh lẽo, khi về đến chân núi thì phải cuốn áo bông, mặc áo mỏng mới chịu được, vì khí nóng bực bội, mặt trời thì le lói, như quạt lửa vào mặt, khí hậu trên đỉnh núi sánh với dưới chân núi thật là khác hẳn như hai bầu thế giới vậy.

Tôi nhận cuộc nghỉ mát được biết một chốn danh sơn, không quản ngòi bút vụng về, cứ sự thực mà chép ra bài du ký này, xin giới thiệu cùng anh em chị em một cảnh Bồng Lai ở dưới trần thế này là phong cảnh núi “Chúa” đó”.

Trong bài viết Nam du đến Ngũ Hành Sơn in liền hai kỳ trên tạp chí Nam Phong (số 184-185, tháng 5+6-1933), nhà văn Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940) kể về chuyến đi xe lửa đến đất Đà Nẵng: “Hết phận núi Hải Vân là vào địa hạt Quảng Nam. Vùng này sản mít, vườn trong làng trồng nhiều (…). Đồng điền thì gần núi với bãi cát cũng không được tốt, nhưng cấy lúc nào cũng được ăn. Bấy giờ mới tháng hai ta mà có ruộng thì đang rỗ, ruộng thì mới cấy. Bãi cát vùng này thấp liền với bờ bể, cũng bát ngát nhiều lắm, cũng trồng nhiều cây dương. Qua mấy ga Lăng Cô, Linh Điểu, Dũng Thùng, Nam Ổ… thì đến Cửa Hàn.

Cửa Hàn là cái cửa bể ở Quảng Nam vốn tên là Chu Hàn Tấn, nên lại gọi là Cửa Hàn. Dịch âm ra tiếng pháp là Tourane. Xe gần ga Tourane đã có bồi của công ty Hào Hưng khách sạn lên tận xe mời và đón khách. Đến ga chúng tôi cho bồi mang hành lý vào nhà Hào Hưng”…

Đến đây, Nguyễn Trọng Thuật mô tả chi tiết cung cách đón rước khách, việc làm và thái độ phục vụ của công ty du lịch Hào Hưng với rất nhiều thiện cảm:

“Vào nhà Hào Hưng, gặp ông phán Chánh người Bắc là chủ coi công ty đó, nên sự hỏi han đường lối càng dễ. Ông ở nhà riêng phố khác, ân cần mời chúng tôi lại nghỉ ở nhà riêng của ông, chúng tôi có lại thăm ông và nói chuyện rồi cảm ơn mà về nghỉ ở khách sạn.

Công ty này vừa có nhà cho khách trọ vừa có hãng ô tô đưa khách và hàng hóa đi lại trên con đường từ Cửa Hàn đến Qui Nhơn, Nha Trang, chiếu liệu cho bà con lao động ngoài Bắc vô làm ăn trong Nam những lúc đi về được nhiều việc. Bởi vì đường xe lửa từ Hà Nội vô mới đi liền tới Cửa Hàn. Từ Cửa Hàn phải đi ô tô một quãng dài đến Qui Nhơn - Nha Trang. Từ Nha Trang mới lại có xe hỏa vào Sài Gòn. Hành khách trong khi lên xuống ga hai đầu ấy có nhiều sự khó khăn về khuân vác và ngủ trọ, nhất là những bà con lao động. Công ty Hào Hưng bèn ra ứng biện chỗ đó, sở xe hỏa cũng vui lòng cùng liên lạc với công ty. Cửa Hàn với Nha Trang lập lại hai nhà khách sạn và ga ô tô. Xe lửa đến gần ga hai nơi đó, có bồi của nhà Hào Hưng đeo dấu hiệu lên mời và nhận khuân vác hành lý. Lúc khách ra xe lửa, bồi đi lấy vé giúp từ trước và khuân vác hành lý lên đến xe. Lên xuống ô tô cũng thế. Trong nhà, phòng nằm, hạng nhất hạng nhì hạng ba thì đều có từng phòng riêng một, giá tiền khác nhau. Hạng tư thì không có phòng riêng, giường kê gần nhau trong một khuôn nhà, mỗi cái giường đều có màn, chăn, giá tiền hạ nhất. Còn một hạng nữa thì không mất tiền, nằm những cái bậc dài nhưng cũng có chăn gối tử tế. Cơm ăn thì có bốn hạng: 0$50, 0$30, 0$20, 0$10. Khách chỉ trọ mà không ăn cơm cũng được. Người trong nhà cùng bồi bếp tiếp khách một cách ân cần lễ phép châu toàn. Cái chỗ giúp cho bà con lao động là có những nơi ăn nằm hạng rất tít tiền hoặc không mất tiền đó. Một chỗ ăn trọ của người nghèo ở nơi lữ thứ chốn thị thành mà có được như thế là yên ổn lắm. Chúng tôi cũng khen một cách doanh nghiệp có cảm tình ấy, nên vì nghĩa công mà thuật ra đây. Cứ chuyến ô tô Nam ra hay là xe lửa Bắc vô, khách trọ đông lắm. Chúng tôi trọ cái phòng hạng nhất, ăn ba bữa cơm mỗi ngày 1$50. Dùng cơm trưa xong, bảo nhà hàng cho thuê một cái ô tô đưa chúng tôi đi Ngũ Hành Sơn”...

Dưới đề mục số 11- Phong cảnh Ngũ Hành Sơn, nhà văn Nguyễn Trọng Thuật tường tả lại chuyến đi thăm núi Ngũ Hành, qua đò Hàng Thông đến làng Mỹ Khê, thăm chùa Linh Ứng - Non Nước, thăm các hang động, trèo lên đỉnh núi rồi vòng về tắm biển. Đan xen giữa các trang ghi chép đó là những đoạn bình sử, lược thuật di tích người Hời, người Nhật Bản, Đại Minh và công việc điêu khắc đồ đá mỹ nghệ:

“Nhà Hào Hưng trông ra sông Đà Nẵng, bên kia sông là cái bãi cát dài có vài làng mạc, cuối bãi là Ngũ Hành Sơn. Sông Đà Nẵng chỗ ấy gần cửa bể rồi, nhưng vì cái bãi ấy chắn đi nên nước im không có sóng lớn. Dưới sông thuyền buôn lớn đi lại cũng nhiều. Hải vật thì có hải sâm bắt được phơi khô, sò hến, cá nhỏ, tôm to, cua bể, cá thu, v.v… ở dưới chài quẩy lên rủng rỉnh. Cá thu thì về giống “cá thu ngàng”, mình to, dài mà tròn, có con dài đến một thước, chứ không bé mà mỏng mình như cá thu Đồ Sơn. Xem ra ở đây có nhiều hải lợi, nên nghề chài lưới dễ kiếm ăn, những người đàn ông đàn bà thuyền chài đều lành lặn. Phục sắc quần áo dùng nhiều mầu chàm mặn và mầu đen, trông giống như tục Trà Cổ, Vạn Ninh.

Sang qua cái đò ngang gọi là đò Hàng Thông ấy thì lên làng Mỹ Khê, làng này cũng có vẻ sầm uất là nhờ hải lợi. Từ đó xe chạy trên con đường chín cây số trong cái rừng cây dương mới trồng giữa bãi cát trắng. Cuối đường đến núi Ngũ Hành. Nếu đi thủy thì thuê thuyền theo sông Đà Nẵng này đi về hướng nam cũng đến nơi nhưng mà chậm.

Ngũ Hành Sơn là một chòm núi bằng đá hoa lô nhô ở xã Du Xuyến, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Quảng Nam. Chòm núi ấy có năm quả lớn gần nhau, người ta lấy tên năm vị sao kinh tinh là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ mà đặt tên cho từng quả một mà tóm gọi là Ngũ Hành Sơn. Quả núi có thắng cảnh cho khách đến xem là Thủy Tinh Sơn, tên nhà chùa gọi là Phổ Đà Sơn. Núi ở liền chân bãi bể, lên một đường xuống một đường. Cũng không cao lắm. Núi có hai cảnh chùa, cũng gọi là chùa Non Nước hay là Linh Ứng. Đường lên vòng vào chùa trong trước rồi mới ra chùa ngoài. Hai chùa có một vị sư trụ trì gọi là tăng cang (tăng cương) và mấy chú tiểu. Chùa trong có ba gian nhà ngói thờ tổ và sư ở, còn Phật thì thờ ở động trên núi.

Lối thường phục của nhà sư trong ni cũng dễ coi. Vị tăng cang đã có tuổi, đi giầy tầu, mặc một cái áo đạo bào vải nâu nó cũng như áo thường nhưng cổ áo may giao lĩnh, tay áo mỏ chầy. Tiểu cũng ăn mặc giống như thế, áo hoặc mầu nâu hoặc mầu xám, chân đi guốc.

Vào nhà tổ chào vị tăng cang rồi, vị ấy cho tiểu đưa chúng tôi lên xem các động. Động to nhất là cái động thờ Phật, trong có một pho tượng để thờ trên ban liền vách động. Bên ban có cái bia trùng tu về đời chúa Nguyễn tạc vào thân núi. Bia chỉ đề “Nước Đại Việt, Kim thượng Hoàng đế, năm Canh Ngọ” chứ không đề niên hiệu, nên không biết đời vua nào. Dưới ghi tên những tín chủ cúng tiền. Có nhiều người Nhật Bản, người Đại Minh cúng tiền. Đó là hồi các chúa Nguyễn mở phố Quảng Nam cho ngoại quốc buôn bán mà có thông thương với Nhật Bản vậy. Rồi sang động Thiên Long Cốc, động Tàng Chân, động Huyền Không. Động Huyền Không này thờ bát tiên, có tám tượng nhỏ.

Di tích của người Hời tức là người chủ nhân cũ ở xứ này đã từng sáng lập nên chùa này, thì còn một cái bệ chìm xuống cát một nửa và hai cái hình lực sĩ nhỏ chạm vào vách núi. Coi đó, ta là người chủ mới thứ hai không khỏi động lòng viếng người trước. Nhưng cuộc tranh sinh đời nay là kịch hơn xưa, không biết có giữ được khỏi để người chủ sau thứ ba đến đây phải nhớ mà viếng ta không. Hai chú tiểu với mấy người làng vừa ông già vừa trẻ con lại đưa chúng tôi đi xem lần lượt hết hang nọ đến hốc kia, mà cứ theo khe trong hang đá mà đi chứ không trở lại. Có chỗ trên đầu thủng bằng cái nong tròn trông thấy trời, có chỗ đang đi trong hang kín hơi bức sực thì ra ngay cửa hang có gió thổi vào mát mẻ, gọi là hang gió. Những hang hốc đó đều là sự ngẫu nhiên từ lúc đá mới kết đông lại. Người ta khắc đá đặt ra những tên, nào là Thiên Căn Nguyệt Quật, kẻ có tín niệm thì lấy làm bởi ý thần diệu của thợ trời. Chúng tôi thì yêu nhất là hai cái cảnh Vọng Hải Đài với Vọng Giang Đài.

Đi trèo lên đỉnh núi về phía bể thì tới Vọng Hải Đài. Đấy không có đài, chỉ có cái bia thích ba chữ Vọng Hải Đài, gần bên bia tạc hòn đá liền ở đó làm cái ghế bành, đều là vật từ Minh Mệnh. Vua đi Nam tuần lên đây ngoạn cảnh mà đặt cho tên ấy. Xung quanh bia chỉ đứng lọt được độ mươi lăm người. Đứng đấy trông ra bể Thái Bình Dương, một trời một nước bao khắp ba mặt núi, mây mờ sóng bạc, thật là một cảnh kỳ quan của vũ trụ. Một nơi xem bể thú nhất của nước ta, vì chỗ đứng cao chon von liền với bể nên trông được rộng xa. Ông Phạm Hàm có chụp một tấm ảnh để kỷ niệm. Đoạn rồi đi xuống sang Vọng Giang Đài. Chỗ này cũng có một cái bia thích ba chữ tên. Cũng là vật từ đời Minh Mệnh, tạc lúc vua ra chơi. Đứng chỗ này thì trông thấy sông Đà Nẵng khuất khúc trước mặt, thôn trang đồng điền san sát liền nhau. Coi ra cảnh dân sinh về Quảng Nam có phần trù thịnh phảng phất như ở Bắc Kỳ và hơn xứ Huế nhiều. Đó cũng là một cảnh đăng cao có thú vị vậy. Xem xong mấy người nhà chùa và thổ chước lại đưa chúng tôi đi xuống chùa ngoài. Nơi này có một cái hành tại của vua Minh Mệnh ra chơi núi nghỉ lại ở đó. Mấy gian nhà ngói với tường xây hãy còn. Chùa ở liền đấy, cũng tương tự như chùa trong. Cúng vào chùa và đãi người nhà chùa tiền trầu nước rồi chúng tôi hạ sơn. Cái lối từ cổng chùa xuống, thì dốc mà thuần một thứ cát gạo, vừa đi nó vừa tụt người xuống. Xuống đến chân núi thì gặp lại con đường vô chùa trong lúc nãy. Đưa đi xem các động trên núi đã có người nhà chùa thì đã đãi tiền rồi. Mấy đứa thổ nhân này cũng theo vào rồi cũng kể công xin tiền. Mà nhiều đứa lắm. Chúng được tiền đã quen, thấy có khách đến là nhớn nhác kéo nhau lên chùa. Lúc khách ra chúng làm nhiễu. Thật là một tục xấu, nên cấm.

Núi này sản đá trắng và đá hoa vân đen, nên người làng tạc đồ chơi bằng hai thứ đá ấy kể cũng đã khéo. Lọ hoa, con giống, chặn giấy cùng khay ấm chén, đủ cả. Dáng thì cũng khá mà nét còn thô, chưa được linh hoạt. Nếu được nhà mỹ thuật mới dạy cho thì có thể xuất sản được một thứ hàng có giá trị. Thấy có khách đến chơi chùa thì các người trong làng mới mang đồ ra bán. Chúng tôi mỗi người mua một cái về làm kỷ niệm.

Xe về nửa đường lại rẽ ra bãi Mỹ Khê tắm bể, là vì người tài xế ô tô mách mà ông Phạm Hàm cố hò. Ở bãi Mỹ Khê là nơi tắm bể rất tốt, người thành phố bên Cửa Hàm vẫn sang tắm ở đó, có cái bảng dựng trên bãi. Tắm bể có nhiều cái ích lợi vệ sinh, nhưng phải có lưới vây chứ không thì trẻ con với người nhát đảm hay xẩy ra cái nguy hiểm bị sóng cuốn đi.

Hô hấp vận động trên bãi cát rồi ra dỡn với sóng. Mỗi trận sóng ngoài xa đưa vào, như núi như thành, bọt trắng phau, tiếng ào ào, đi lừng lững đến đánh tạt qua người rồi lại rút ra. Người tắm phải cẩn thận lúc đó, phải có phương pháp và can đảm, đừng hoảng hồn mới được”...

Ngay trong chiều hôm ấy, Nguyễn Trọng Thuật cùng nhóm bạn tiếp tục thong dong dạo chơi nơi phường phố. Dưới đề mục số 12- Dạo xem thành phố Cửa Hàn, Nguyễn Trọng Thuật phác thảo cảnh phố xá và kể lại chi tiết chuyến viếng thăm cổ viện Chiêm Thành:

“Tắm xong về đến thành phố, trời còn sớm, chúng tôi cho ô tô đi lượn quanh thành phố một vòng để xem cảnh vật và cổ tích.

Thành phố ở kề bờ bể, cửa sông Đà Nẵng hay là cửa bể Chu Hàn. Cổ vốn có cái chợ nên cũng gọi là chợ Hàn. Vùng bể ngoài cửa gọi là Úc Hải, núi Trà Sơn ở về mé bắc từ trong đất chạy ra. Đời Tự Đức, quân ta đánh nhau với quân đồng minh hai nước Pháp - Tây ở nơi chợ Hàn này. Từ khi định cuộc Bảo hộ, mở làm phụ đầu, đặt đường sắt vô Huế mà chợ Hàn nên một nơi bến tầu đông vui. Song cũng chỉ là nơi chứa hàng nhập cảng rồi vận tải đi các tỉnh khác, còn bán lẻ và chế tạo cũng ít, nên thành phố cũng không to lắm. Có ít phố, đường phố nhiều cát, cỏ mọc lởm chởm. Có một cái viện chứa đồ cổ của người Chiêm Thành đề là “Chiêm Thành tàng cổ viện”. Khi xe hỏa sắp tới ga đã có bảng yết bên đường sắt mách cho khách nên đến mà xem. Bấy giờ chúng tôi bảo tài xế đưa ô tô tới viện. Viện mới lập, chứa thuần một thứ đồ bằng da rắn, thuộc về một cái đền chùa cổ của người Hời đã bị chìm xuống đất mà nay mới đào được. Viện cũng không to, một tầng mà hai ngăn. Ngoài vườn trong viện bày những vật đá chạm ấy cả. Có hai phần là miếu với tượng thần. Miếu thì còn: Những cái bạo nấp ở cửa đục thành cột vuông cột tròn, trên đầu dưới tảng đều soi chỉ chạm lá. Cái đầu xà nhà chạm, những miếng góc sập chạm chỉ, sòi triện, và các tấn nhân vật. Nhưng mà lối lăng khéo léo, nét chênh bong sinh hoạt hơn đồ gỗ chạm cổ của ta nhiều. Tượng thần thì còn nhiều. Theo lối tôn giáo của người Hời mà tạc ra. Có nhiều cái tượng nữ thần bán thân mà khỏa thể khéo lắm. Có mấy tấm bia thích lối chữ tiêu âm của người Hời như ở viện Bảo tàng Hà Nội đã bầy. Có hai cái tượng thần voi bằng con lợn nhỏ một. Tượng mặc áo đen kiếm mà ngồi như người, trông một cách sinh hoạt lắm. Trông những cái tượng người, voi, ngựa bằng đá xanh ở các lăng miếu của ta từ cổ đến nay, nó xù xì đần độn, kém ở đây xa.

Chúng tôi xem khắp cả mà xem kĩ lắm, không khỏi thán phục cái tài kiến trúc và chạm đá của những ông địa chủ cũ ở đây. Song có thể biết được cái cớ sở dĩ có văn hóa, có kĩ xảo như thế mà đến nỗi quốc vong chủng diệt, là vì những cái văn hóa kĩ xảo ấy chỉ là cái của đặc biệt dùng về tôn giáo hoặc cung cho quí phái mà thôi. Còn toàn thể dân trí dân sinh thì vẫn ngu hèn bần khốn, chưa từng khai hóa gì. Cho nên nhất đán chỗ then chốt hư hỏng thì toàn thể đồ nát hết không sao vãn hồi được nữa. Nghĩ cái cơ ưu thắng liệt bại ở trong cái cuộc thiên diễn (évolution) ngầm ngấm miên man này mà sợ.

Cuộc Nam du lần này của chúng tôi đến đây là hết chương trình đã định, còn lại để lần sau”...

Đến đoạn kết, Nguyễn Trọng Thuật bâng khuâng viết một bài lục bát và phụ chép thêm bài thơ Đường luật của nhà báo, nhà văn Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1874-1941):

“Ngày mai ngồi trên xe hồi nhớ lại những cảm tình đã qua, bèn thuật ra làm một bài thơ để kết bài du ký này:

Người ta đi Huế thì vui,

Sao tôi đi Huế thì tôi những buồn.

Buồn cho cô ả sông Hương,

Nam ai một khúc thêm càng não nhân!

Buồn cho bà mệ trong lăng,

Cháu trời than thở cái thân đơn hàn!

Buồn nơi lều cỏ cát vàng,

O kia dãi nắng chang chang giữa trời!

Buồn nơi dấu cũ người Hời,

Bể dâu nào đã cách đời là bao!

Trước khơi trận sóng tuôn dào,

Nặng chìm nhẹ nổi xiết sao sự đời.

Đông Châu tiên sinh cũng có một bài Hàn luật đề núi Ngũ Hành để ghi cuộc nam du. Thơ như sau:

Cánh bằng thuận gió tới Nam Minh,

Thừa hứng lên chơi đỉnh Ngũ Hành.

Vọng Hải đài cao trời thấp rạp,

Huyền Không đỗng vắng bụt buồn tênh!

Ngấn rêu đá mốc tầng cô tháp,

Nét chữ bia mờ dấu cựu dinh.

Viếng cảnh muốn tìm gương vãng sự,

Nào đâu bờ cõi cũ Chiêm Thành?”…

Như vậy, du khách đến với Đà Nẵng không chỉ được lên non cao Bà Nà nghỉ dưỡng, qua Ngũ Hành Sơn thăm ngôi chùa cổ, xuống biển Mỹ Khê dỡn sóng… mà còn được thăm bảo tàng Chàm, bâng khuâng mơ tưởng theo dấu cũ người Hời, tháp cổ ngấn rêu đá mốc, dinh thự bia mờ nét chữ… Lại ước một ngày được lần theo dấu chân nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa trên đỉnh non nước Bà Nà mà bà từng phác vẽ, miêu tả kỹ lưỡng, cụ thể đến từng chi tiết… Và hy vọng với công sức của nhiều người, rồi đây chúng ta có thể xuất bản được bộ sách sưu tập “Du ký Đà Nẵng nửa đầu thế kỷ XX” thật phong phú, dày dặn, ngõ hầu giúp cho muôn người bốn phương thêm nhớ thêm yêu đất trời Đà Nẵng…

PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác