Du ký Bình Định nửa đầu thế kỷ XX

(Toquoc)- Bình Định là tỉnh có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có nhiều nhiều trang du ký của các tác giả như Linh mục J.B. Hướng, Trần Quang Hoàng, Mẫu Sơn Mục N.X.H, Đào Hùng… in trên Nam Kỳ địa phận, Tạp chí Nam Phong, Phụ nữ tân văn… viết về miền quê thuộc vùng Nam Trung Bộ này.

Ở đây chúng tôi nhấn mạnh thêm thể tài du ký với ý nghĩa những trang ghi chép về các chuyến du ngoạn, những chuyến tham quan, du lịch được viết dung dị theo cung cách văn chương hồi đầu thế kỷ.

Trong bài viết Đi viếng cung thánh Đức Mẹ Lavang, Linh mục J.B. Hướng khi đi ngang qua Bình Định đã phác vẽ quang cảnh và cuộc sống người dân xứ Nam Trung Bộ: “Thiên hạ làm ruộng làm rẫy, lập vườn trồng cau, dừa. Vườn và ruộng mấy tỉnh ngoài nầy sánh với Nam Kỳ không đặng, không có đám ruộng nào đi luôn cho tới bảy tám trăm mẫu, vườn cũng vậy; thưa thớt lải rải vậy mà thôi. Bề thế làm ăn thật rất cam go, địa cảnh thì tốt, song địa cảnh thì nuôi con mắt chớ không nuôi bụng đặng” (Nam Kỳ địa phận, số 745 - 1923)…

Vài ba năm sau, ký giả Trần Quang Hoàng - có lẽ là quan chức ngành giáo dục - đã đến thăm khu di tích Bàn Thành và đền Hiển Trung (nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, cách thành phố Quy Nhơn 27 km về phía Bắc). Ngay sau đó, Trần Quang Hoàng đã kể lại chuyến du ngoạn trong bài viết Bài ký chơi Bàn Thành và đền Hiển Trung trên tạp chí Nam Phong (số 116, tháng 4-1927. Tuyển in trong Du ký Việt Nam - Tạp chí Nam Phong, 1917-1934, Tập II. Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, giới thiệu. NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2007, tr.294-302)...

Du ký Bình Định nửa đầu thế kỷ XX  - ảnh 1
Tháp Dương Long (ảnh Internet)
Mở đầu bài ký, tác giả nêu rõ nguyên cớ chuyến đi: “Tôi từ khi được đổi về tỉnh Bình Định là nơi quê hương này, vẫn biết là một chỗ nhiều danh lam cổ tích nên cứ ước ao làm sao cho tai được nghe, chân được bước đến những nơi dấu xưa tích cũ của ông cha ngày trước, tưởng tượng làm sao cho mắt được nhìn, tay được vẽ ra những chỗ cảnh đẹp sắc xinh của non nước đất nhà, lòng đã đinh ninh, thường vẫn hẹn hò, nay nhân đầu năm Bính Dần, thiều quang chín chục vừa mới năm mươi, là ngày lễ bái hưu hạ, ký giả cùng mấy ông bạn là ông đốc và các ông giáo trường Phù Cát, rủ nhau đi chơi thăm thành Đồ Bàn và đền Hiển Trung. Trước khi thuật chuyện đi thăm Bàn Thành và đền Hiển Trung, thì tưởng phải nên thuật qua cái lịch sử của thành và đền ấy, mới có ý vị có hứng thú, mà càng xem thì lại mới càng có cảm tình”...

Khác với kiểu bài du ký thuần túy viết về một chuyến đi, Trần Quang Hoàng chủ ý thu thập các nguồn tài liệu để tái hiện lại lịch sử thành Đồ Bàn từ thời cổ sơ đến thời cận đại, đặc biệt chú ý đến các sự kiện và con người nổi danh một thời: “Nước này thành này, đánh được nhà Trần, bị nhà Lê phá đi, rồi Tây Sơn dựng lại, đến quốc triều ta năm Kỷ Tỵ đức Gia Long đánh lấy được thành mới đổi đặt tên là thành Bình Định, mệnh ông Hậu quân Võ Tánh và ông Lễ bộ Ngô Tùng Châu trấn giữ thành ấy, quân Tây Sơn nào đắp lũy đóng đồn cả bốn phía, nào mộ lính chiêu tài đến mấy mươi muôn, lắm lúc vây hãm, ghe phen đánh phá mà hai ông ấy vẫn một lòng gìn giữ, không chút đơn sai, qua năm Canh Thân hai ông làm tờ mật biểu nói: Tây Sơn đang vây đánh thành Bình Định, vua nên nhân thế đánh lấy cựu kinh. Lúc đó có vợ người Phan Văn Hán tên là Nguyễn Thị Giả khẳng khái xin đem biểu đi, giữa đường bị giặc bắt được, tra khảo gì cũng không nói, nhảy xuống sông mà chết. Sau lại sai người cai đội đem biểu ấy đến dâng cho vua. Năm Tân Dậu thành bị vây đã ba năm, lương thực hết cả, vua Gia Long nghe vậy nói với các tướng rằng: Thà mất thành, không nên mất người lương tướng; vua sai người mang thợ lặn nước đem vào bảo ông Võ Tánh bỏ thành kiếm đường trốn ra họp với quân nhà vua. Ông Tánh trả lời xin chịu chết giữ thành, khuyên vua nên nhân đánh lấy thành Phú Xuân (tức là thành Huế bây giờ). Rồi ông Tánh sai quân lính kiếm cây củi chất dưới lầu Bát Giác, nói với ông Ngô Tùng Châu rằng: Lương thực hết, thế cùng rồi, thành phải mất, tướng sĩ phải bị thương, ông là kẻ văn thần nên chờ mạng vua. Ông Ngô Tùng Châu đáp rằng: “Thành còn thì đều còn, thành mất cũng đều mất, tướng quân biết vì nước mà chết nạn, Châu này lại không biết làm tôi chết trung hay sao”. Bèn về dinh uống thuốc độc mà chết. Ông Tánh coi liệm chôn xong, mặc đồ triều phục vào trông về phía bắc lạy, rồi lên lầu Bát Giác lấy lửa tự đốt, lúc đó có một người đầy tớ tên là Nguyễn Tấn Huyên cũng nhảy theo vào lửa mà chết. Sau khi vua Gia Long đã nhất thống đại định rồi, làm lễ tế hai ông ấy và tướng sĩ… Rồi vua Gia Long sắc lấy chỗ lầu Bát Giác ấy xây mộ ông Võ Tánh, ban cấp phẩm vật cho bà con người cai cơ Nguyễn Tấn Huyên và lập đền tại chỗ trước lầu Bát Giác ấy để thờ hai ông Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, tức là đền Hiển Trung hay Chiêu Trung”…

Có thể nói toàn bộ đoạn văn trên mới nhằm gom góp tư liệu và kể lại sự tích, lai lịch ngôi đền mà chưa nói gì tới chuyến du ngoạn. Chỉ sau khi khảo tả, giới thiệu đầy đủ nguồn gốc và ý nghĩa ngôi đền thì tác giả mới trực tiếp kể về chuyến đi, rõ rệt từ ngày tháng đến cách thức tổ chức và những điều tai nghe mắt thấy. Trước hết là toàn cảnh khu thành: “Đối với thành này miếu ấy chúng tôi vẫn đã có mối cảm tưởng sâu xa, nên cuộc đi chơi này lại càng sốt sắng, sớm ngày 2 tháng 4 năm 1926, ông Đốc và các ông giáo ấy đề họp tại nhà tôi, người có xe nhà, kẻ mướn xe thuê, nào ngựa cỡi, nào xe đạp, cùng nhau lũ lượt một đoàn ra đi, khi ấy vừng đông vừa rạng bóng ác vàng, ngọn cỏ còn nhuốm mùi sương bạc, chúng tôi lần lần xuống thấp lên cao, qua cầu vượt bãi, gần một giờ đồng hồ trải qua một đoạn đường quan từ huyện lỵ Phù Cát đến chỗ quán Đốc chừng hơn 9 kilomètres. Chỗ quán Đốc có con đường rẽ về phía tây, đường này quanh co bụi bờ, ngựa trèo thì dễ, xe đi hơi khó, đi được hơn một kilomètres, qua một tần núi đất, hỏi ra ấy là cửa tả môn của Bàn Thành đó, chúng tôi nhìn xem chỉ thấy có đường đi vào, thế là biết dạng cái cửa thành xưa, chứ chẳng còn dấu tích gì nữa,vì xét ra sách chép năm Gia Long thứ mười hai, người ta đào lấy hết đá gạch thành này đem xây tỉnh thành Bình Định bây giờ… Đi qua tầng ấy lại đến một hòn núi đất cao hơn, hỏi dân xứ này gọi là núi Mã Tiên, trên đỉnh núi này có một tòa cổ tháp của Chiêm, tháp cao hơn mười thước tây, xây toàn bằng gạch, hình tháp vuông, chỉ phía trước mặt có cái cửa lớn, còn ba bề bít cả, xung quanh tháp có trổ những hình dài như câu đối, vuông như tấm ngói, nhọn như nóc nhà, những hoa lá cũ kỹ và những chữ của Chiêm, trên đầu tháp hình hơi nhọn nhọn, hai bên đầu tháp có trổ những hình như cái nóc nhà nhỏ nhỏ, tiếng tây gọi là lucarne, trên những nóc nhà nhỏ ấy, lại có trổ lắm hình như rìa cờ, như lông chim, đứng xa trông thấy như những cái cánh chim, nên tục gọi tháp ấy là tháp Cánh Tiên, cách kiến trúc tháp này tuy thì sơ sài mà xinh xắn, ngó thì đơn giản mà công phu, thật rõ là một nền mỹ thuật văn hóa của đời cổ sơ… Đứng trên núi Mã Tiên có thể nhìn gần khắp cả bốn phía thành, hình thành tuy hơi vuông mà khuất khúc, lúc ẩn lúc hiện, thật là hiểm trở, thành chỉ còn dấu đất dưới chân mà cao cũng đã hơn mười thước tây, thành rộng hơn mười mẫu tây (hectare), thành cách tỉnh thành Bình Định bây giờ chừng bốn kilomètres. Chúng tôi leo trèo theo quanh khắp dấu chân thành, thấy thành còn dạng năm cửa, phía trước hai cửa, bên tả một cửa, tức sách chép là Tân Khai Môn, bên hữu và sau hai cửa, tức là Vệ Môn cùng Cựu Nam Môn. Trước mặt thành có dãy núi Long Cốt, bên tả vực Bao Liệt, bên hữu núi Phong Sơn, sau lưng có nguồn Thạch Tân, trông xa ra nữa thì phía nam là núi Dương An cao ngất nghìn trùng, dài hơn trăm dặm, có đèo Cù Mông chập chồng ngoắt nghéo, phía bắc có núi Bồ Chinh, núi Thạch Bàn, to lớn lạ thường, phía Tây dãy núi Trụ Lãnh cao thấp nghìn ngọn núi xanh, phía đông là cửa bể Thi Nại (tức là cửa Giã hay Quy Nhơn ngày nay) nhấp nhô một vùng bể trắng, đứng mà xem đi ngắm lại cho kỹ, thật là một nơi dụng võ hiểm cứ vô cùng, một cái thành vàng vững chắc đáo để, nên cũng có nhờ thế mà thành bị vây ba năm mà giữ gìn chắc được”...

Khi tường tả lại cuộc du ngoạn, Trần Quang Hoàng thường có thêm những lời bình luận trữ tình ngoại đề, thêm cả bài thơ đề vịnh theo lối các nhà nho xưa và nhận xét cụ thể, chi tiết:

“Nhân dạo xem khắp thành rồi, thấy cảnh sinh tình, tôi bèn ngâm một bài rằng:

Cùng nhau dạo khắp Bàn Thành,

Thấy cảnh càng sinh mối cảm tình.

Cảm cuộc bể dâu đau đớn nhỉ,

Cảm hồi chiến đấu nghĩ càng kinh!

Được Trần Lê được là ai chủ?

Thua Nguyễn Nguyễn thua biết mấy binh!

Thua được được thua quyền Tạo hóa,

Muôn đời không lấp dấu uy linh.

Tôi ngâm xong lại lấy bút ra vẽ một bức cảnh có đoạn thành và tháp Cánh Tiên ấy, vẽ xong cùng nhau leo xuống thành để đi vào đền Hiển Trung. Xuống thành rồi thấy trong thành nhan nhản những đám đậu đám mè, đám ngô đám mía, trong thành phía Đông Nam nhân dân ở cũng khá nhiều, chúng tôi bèn rủ nhau đi tìm kiếm lấy một vài ông cụ già trong làng ấy, để hỏi thăm may có biết thêm được chuyện xưa tích cũ gì nữa chăng”...

Ngay sau đó tác giả tả lại quang cảnh khu đền và khi bước vào trong trong ngôi đền:

“Đền ở giữa thành, ngoài có một lớp thành cao độ chừng vài thước tây, vuông vức rộng chừng một mẫu tây, có ba cửa: tiền và tả hữu, đều làm ở chính giữa lớp thành ấy, phía trước đền ngoài lớp thành ấy cách chừng năm chục thước tây có hai con voi bằng đá, mỗi con to bằng con voi thật, con bên hữu thì lối điêu khắc của ta, còn con bên tả thì cách điêu khắc của Chàm, cả hai con đều có dấu mòn và sức xể, thật rõ là một vật rất xưa. Trước sân đền hai bên có hai cái nhà nhỏ nhỏ, hình như thờ các hàng sĩ tốt thì phải, và có những vầng cổ thụ cao mấy trăm thước, lá lảy rườm rà, da vỏ xù xì đóng rêu mốc thếch, gió đưa những nhành lá cây ấy, làm cho trong trí chúng tôi tưởng tượng như giọng quân của vua Lê đương reo đuổi người Chiêm, ngọn cờ của chúa Nguyễn đương giong dẹp giặc Tây Sơn. Sau lưng đều cách chừng hơn mười thước tây là mộ của Võ Tánh, ấy là chỗ cái lầu Bát Giác ngọn lửa thiêu người nghĩa khí ngày nọ.

Chúng tôi vào ngồi nghỉ nơi nhà người giữ từ một hồi lâu, rồi mới bảo người ấy đem lên mở cửa đền cho vào chiêm bái. Đền làm lối cổ, tuy không hoa hòe lắm mà chắc chắn, người giữ từ mở cửa rồi chúng tôi bước vào, thấy gian chính giữa trên có bức biển đề ba chữ “Hiển Trung từ” bên hữu bức biển có mấy chữ “Gia Long kiến tạo”, bên tả mấy chữ “Tự Đức trùng tu”, màu sơn lối chạm tuy đã cũ mà nét vàng vẫn đương sáng chói. Án chánh giữa trong có một cái khám sơn son thếp vàng để trên cái bệ vôi, trong khám ấy tôn trí hai cái bài vị của ông Võ ông Ngô, hai gian gần đó cũng đều có hai cái khám hơi lớn hơn, thờ các hàng tướng sĩ, hai gian ngoài nữa thì có hai dãy bài vị để trên hai dãy bệ vôi dài, trở mặt qua với nhau, là thờ các hàng quân lính, những đồ thờ cũng đều là vật thường quá, lại thêm bụi bám bẩn thỉu, không có cái gì là quý trọng cả”...

Xem đến đây Trần Quang Hoàng phát biểu cảm tưởng tỏ ý chê trách người nước Nam ta còn thiếu ý thức bảo tồn cổ tích, nhân đó tiếp tục làm thơ đề vịnh, họa cảnh đền và chụp ảnh kỷ niệm:

“Lại có một điều chúng tôi lấy làm lạ lắm, là một cái đền thờ những vị trung thần nghĩa sĩ như thế này, mà sao không hề có một câu đối hay bức hoành gì, gọi là của người đời sau xưng tụng cái công đức, biểu dương cái chí khí của người đời trước cả! Ôi! Nếu hai ngài này mà có cái thế lực hay phò trì huyền diệu như những cậu quận cô nương kia, thì cái đền thờ này nào là lễ vật hương hoa, nào áo xiêm trướng liễn đồng bóng tưng bừng, lạy vang rộn rịp, nào có phải vắng vẻ lãnh đạm chỉ hai cái bài vị với cái đền chống vổng như thế này đâu! Ôi! Nếu hai ngài là kẻ trung thần nghĩa sĩ của một nước văn minh Âu Mỹ, thì cái đền thờ này nào là tượng đồng bia đá, nào tranh vẽ hình chụp, khi kẻ đời sau có qua chơi thăm cũng được cung chiêm cái dung dạng, cái khí phách của các ngài, nào có phải chỉ trông thấy mấy cái bệ vôi và mấy bát nhang tàn như thế này đâu! Chúng tôi vòng tay đứng cung chiêm một hồi rồi bước đến trước án làm lễ bái ba cái, gạt nước mắt mà lui ra. Tôi nhân cám cảnh xúc tình có ngâm một bài thơ (…).

Ngâm song lại lấy bút ra vẽ qua cái cảnh đền thờ, rồi mới cùng nhau ra thăm mộ ông Võ. Trước mộ có hai con kỳ lân hay là nghê bằng đá to bằng con bò lớn, cách điêu khắc rất cổ, rõ là một vật xưa của Chiêm. Xung quanh mộ có lớp nền cao gần thước tây, trên nền có thành cao hơn thước tây, vuông vức rộng chừng một trăm thước vuông (mètre carré), đi xung quanh ngoài lớp thành ấy thấy đường còn cái dấu chân nền lầu Bát Giác khi xưa. Bước lên nền thấy giữa có ngôi mộ xây hình như con quy nằm, to bằng nửa cái rương sập, nhưng trên mộ lại trổ hình nửa cái hoa sen búp, thật là một kiểu cổ sơ. Phía bên hữu dưới chân mộ lại có một ngôi mộ nhỏ, xây vuông bằng chiếc chiếu, cao chừng hơn một tấc tây, ấy là cái mộ của người nghĩa bộc cai cơ Nguyễn Tấn Huyên đó. Chúng tôi đứng đó tần ngần trót một giờ lâu, trong tâm trí thấy hình như ngọn lửa vô tình kia đương bừng bừng đốt cháy ông Võ đâu đó, rồi xụt xùi bước đến trước mộ làm lễ bái ba cái mà lui ra.

Ra trước mộ sắp nhau chụp một bức ảnh để làm vật kỷ niệm, chụp xong thì xem ra chim én đã bay về tổ, bóng chiều đà xế non tây, chúng tôi gọi người giữ từ đến cho mấy giác bạc, rồi cùng nhau lũ lượt thơ thẩn ra về”...

Kết thúc thiên du ký, tác giả thêm một đoạn vĩ thanh kể về niềm thao thức, ngậm ngùi sau một ngày đến thăm khu đền và nêu lý do của việc viết bài:

“Về đến nhà đồng hồ đã hơn sáu giờ chiều, cơm nước xong rồi, song trong trí tôi vẫn cứ bồi hồi nghĩ ngợi, nhớ thành lúc nọ, cảm người lúc kia, đêm xuân trằn trọc, giấc điệp bâng khuâng, ngồi dậy chống tay với ngọn đèn mờ xanh đỏ cho đến suốt đêm dài, bèn lấy giấy bút ra chép bài này gọi là tỏ chút tình cảm tưởng đối với thành với miếu ấy và là một vật kỷ niệm trong cuộc đi chơi thăm này”...

Hai năm sau, tác giả Mẫu Sơn Mục N.X.H có bài Lược ký đi đường bộ từ Hà Nội vào Sài Gòn (Nam Phong, số 129, tháng 5-1928). Đây là một bài du ký trường thiên chép việc tác giả đi chơi bằng ô tô từ Hà Nội qua Huế, Nha Trang, vào Sài Gòn, lên Đà Lạt rồi ngược trở ra Hà Nội… Đoạn viết về xứ Bình Định mới chỉ là những quan sát bước đầu, phác thảo toàn cảnh ngắn gọn:

“Dải đất Trung Kỳ đến tỉnh Quảng Ngãi hơi mở rộng, cánh đồng đã to, có chỗ tốt lắm, giồng nhiều mía, cho nên tỉnh này xuất sản nhiều đường cát. Hết tỉnh Quảng Ngãi thì vào địa phận hạt phủ Mỹ, phủ Cát, thuộc tỉnh Bình Định; địa thế mây phủ này hình như một cái thung lũng lớn. Phía trong thì dải núi Tràng Sơn, phía ngoài giáp bể cũng có một dải núi lớn bao bọc, ruộng nương tươi tốt và giồng dừa sầm uất, đẹp lắm, dân cư trù mật, ở rải rác cả hai bên đường, vui vẻ lắm. Nhà làm cũng chỉnh tề lắm, lợp bằng rơm rất dầy mà cắt sửa rất vuông vắn. Từ Hoành Sơn vào đến đấy về vùng nhà quê, không thấy cái nhà ngói nào cả. Trừ các tỉnh nghèo không kể, tỉnh Bình Định này chắc có nhiều người làm được nhà ngói, cứ người ta nói thì vẫn là cái tục cổ của nước nhà, vì làm nhà ngói thì sợ quân cướp và quấy nhiễu.

Hai bên vệ đường giồng toàn cây mù u mát mẻ lắm; thứ cây này bắt đầu trồng từ khỏi Huế; thứ nhất ở gần Quảng Ngãi, lá thì rợp, quả thì ép làm dầu thắp, có cây đã cổ thụ, thì biết rằng con đường quan lộ này làm đã lâu, chắc từ trước đời vua Gia Long.

Khi chưa đến tỉnh Bình Định, tôi nghĩ tỉnh này nghèo, cho nên Tây Sơn khởi sự dễ, thành ra không phải, tỉnh này lại là tỉnh trù phú hơn cả trong Trung Kỳ. Tỉnh này nghề võ và nghề hát tuồng có tiếng, chắc cũng là cái di phong thượng võ hào hiệp của nhà Tây Sơn còn lại chăng? Tôi tiếc không được đến thăm miếu Tây Sơn.

Đường thì đi qua ngoài thành phố Bình Định, không trông thấy nhà cửa, thành này tức là tích “Tượng kỳ khí xa”. Qua Bình Định một lát thì đến Quy Nhơn. Quy Nhơn là một cái thành phố ở bờ bể. Sau lưng và ở giữa bể đằng trước mặt đều có núi, phong cảnh cũng đẹp; phố xá buôn bán cũng vui, có nhiều hiệu khách to, họ thu yến sào và vây cá. Nhiều chú lấy vợ người Bình Định, cũng ngồi bán hàng. Ở Bình Định và Quy Nhơn đã bắt đầu có những tháp của người Hời còn di tích lại. Người Hời là dân cũ Chiêm Thành bị nước ta lấn dần, nay còn một số ít người, rút vào miền Phan Rang và Phan Rí (thuộc tỉnh Bình Thuận). Chúng tôi ngủ ở Quy Nhơn một tối”…

Khoảng hai năm sau, Đào Hùng cùng nhóm phóng viên từ Sài Gòn ra Bắc du lãm những nơi danh sơn thắng tích và phỏng vấn ý kiến các nhà trí thức ở Trung Bắc kỳ đã viết bài Thăm cửa biển Thị Nại, lên núi Hoành Sơn, viếng mộ Tây Sơn (Phụ nữ tân văn, số 73, ra ngày 2/10/1930, tr.9-12)… Trong đoạn mở đầu, Đào Hùng xác nhận: “Từ nay đường giao thông Bắc Nam tiện lợi, thì người trong ba xứ đi lại gặp gỡ nhau hằng ngày như trong buổi chợ, tình thân ái liên lạc vì đó mà thêm khăng khít keo sơn, biết coi nhau như anh em một nhà, chớ không còn hững hờ chia rẽ nhau như mấy năm xưa nữa; và nói đến chuyện từ Nam ra Bắc hay từ Bắc vào Nam thì không phải là một việc mới lạ như chuyện du lịch toàn cầu, qua Âu qua Mỹ, đáng cho người người chú ý muốn nghe. Vậy thuật lại cuộc hành trình của chúng tôi, tức là kể lại câu chuyện đã cũ, ai nấy đều biết, song vì cuộc du lịch của chúng tôi đã có mục đích riêng là thăm viếng các nơi danh thắng có dấu vết cổ tích và lịch sử, để nhắc nhở lại những cuộc hưng vong thành bại của tổ tiên, cũng là phỏng vấn các bậc trí thức hiện thời về mấy vấn đề cần ích cho bạn thiếu niên ta, bởi vậy nên chúng tôi chẳng ngại chi câu chuyện cũ mà viết bài ký thuật sau này một cách tường tận”...

Du ký Bình Định nửa đầu thế kỷ XX  - ảnh 2
Biển Quy Nhơn (ảnh Internet)

Tác giả kể về đoạn đường từ Nha Trang đến Quy Nhơn với đủ cả cảnh đẹp và sự nguy hiểm: “
Đây xin nhắc lại lúc xe lửa tới Nha Trang hồi 5 giờ rưỡi sáng. Chúng tôi liền ra xe tốc hành để đi Qui Nhơn. Quãng đường từ Nha Trang ra Qui Nhơn là quãng đẹp nht từ Nam ra Bắc, xe chạy men theo mé biển mà toàn thị lên dốc xuống đèo. Đường núi quanh co khuất khúc, uốn lộn như hình con rắn, khúc ngắn khúc dài, khúc cao khúc thấp, có khi xe chạy cả giờ mà không ra khỏi một cái khe núi. Vượt hết cái đèo nọ tới cái đèo kia ngay, vì núi non liên tiếp trập trùng, người cầm tay bánh vô ý một chút là có sự nguy hiểm ngay, xe hoặc không đâm xuống biển thì cũng xô vào núi mà bể tan tành. Ở bên lề đường, dưới chân cái đèo thứ nhất ở trong Nha Trang đi ra đã có một cái miếu nhỏ thờ người sốp phơ vì quá thị tài mà để cho xe bị tan nát ở nơi đó”...

Tiếp đến tác giả tả lại chuyện đến Quy Nhơn và thăm cảnh cảng Thị Nại:

Đến 12 giờ rưỡi trưa thì xe tới Qui Nhơn. Chúng tôi xuống vào hàng ăn uống nghỉ ngơi, đợi tới buổi mát trời sẽ đi thăm bến tàu Th Nại.

Bến Th Nại ngày nay kêu là Bến Cũ, các tàu bè không vào được vì bến cạn nên phải vào bến mới là bến Qui Nhơn bây giờ. Ngày xưa vua Gia Long giao chiến với Tây Sơn ở bến nầy bị thất bại, các chiến thuyền bị phá tan, người ta nói rằng lúc ngài đang cơn nguy cấp thì gặp được một ông chài cứu, bơi ghe đưa ngài chạy trốn. Lúc qua làng Vinh Quang chẳng may đứt mất quai chèo; ông chài thấy việc rủi ro thì hoảng sợ la lên. May đâu trên bờ lúc đó có một bà già đứng quay tơ, thấy vậy liền liệng cuộn tơ cho ông chài, thành ra nhờ đó mà vua Gia Long thoát thân. Khi phục quốc, ngài nhớ tới ơn hai người cu t nên miễn thuế cho hai làng là thôn Dương Thiện, quê quán ông chài và thôn Vinh Quang, quê quán bà quay tơ; mãi tới cách hai năm nay chánh ph mới bỏ cái lệ ấy đi mà bắt dân đóng thuế như các làng khác, ấy là lần thứ nhứt từ đời Gia Long.

Bến Thị Nại chẳng có chi là khác lạ, ch là một cái eo biển, xa xa có một dặng núi chắn ngang. Trước kia chẳng biết nước sâu tới chừng nào mà các ghe thuyền giao chiến được, chớ ngày nay thì nông cạn lắm, chỉ ghe nhỏ mới vào được, con nít đùa giởn thường vn dắt nhau lội ra tận ngoài mà chơi”...

Đến đoạn cuối tác giả kể lại chuyến viếng thăm lăng Tây Sơn và những truyền thuyết lý giải sự thành bại của một vương triều:

Chúng tôi ở Qui Nhơn trọn ngày hôm đó, qua ba sau đón xe đò đi Bình Định. Bình Định là một tnh nhỏ dân nghèo, kiếm cùng nơi không được một nhà hàng sạch sẽ đ nghĩ ngơi, chúng tôi phi vào một cái quán cơm, bo dọn dẹp một cái chõng tre sạch s mà nằm. Ra mặt, ăn lót lòng rồi, chúng tôi mới kiếm người hỏi thăm đường đi viếng lăng Tây Sơn, thành Bàn Xà, đền Võ Tánh và mấy nơi thắng cnh.

Lăng Tây Sơn trên núi Hoành Sơn (tục danh là núi Một), thuộc về xóm Hoành Sơn, thôn Chinh Tường, tổng Vĩnh Thạnh, huyện Bình Khê. Từ tnh lên đến lăng xa 47 cây số, phi mướn xe hơi nhỏ đi mới được. Đi theo đường lên Kon Tum, hai bên đồi núi, càng đi càng thấy hai bên t hữu giáp lại với nhau tới ngọn núi Một tức là tâm đim, đứng chắn ngang trước mặt, vượt qua ngọn núi đó tức là sang địa phận xứ o. Tới chân núi ngừng xe, chúng tôi kiếm người làm hướng đạo, mới biết lối leo lên. Hỏi kiếm một người thì họ đ ra năm bảy, k tay dao, người cầm rựa, tưng họ nhiệt thành dn lối đưa đường, nào ngờ đâu chủ đích họ là làm cho mình nhẹ túi. Rần rần rộ rộ, một đám tiền quân có khí giới đi đầu. Đường núi quanh co, trông gần mà hóa ra xa, đi ước chừng tới ba bốn cây số, người đã thấy tháo mồ hôi, chân đã thấy mỏi, mới tới một cụm cây rậm rạp: đó là lăng hai đấng sanh thành ra ba anh em Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ. Người biết địa lý nói nơi đó có phần đế vương, và ba anh em Tây Sơn nhờ ngôi mộ song thân đó mà nổi dậy một thời, nếu không có thầy địa lý bày mưu cho Nguyễn Ánh (sau lấy được nước mới lấy niên hiệu Gia Long) để lại ngôi mộ đó, thì chắc giang sơn xã tắc s về tay anh em Huệ, Nhạc. Mà ngôi mộ đó đặt vào một nơi đẹp thiệt; không cần phi biết địa lý, ta cứ đứng ngay trước làng mà ngắm trông bốn phía, thì ta thấy rõ ràng hình một cái ngai, mà ngôi mộ nằm tròn ở nơi chính giữa. Tả hữu hai bên là hai hàng núi chạy dài như hai cái tay ngai, rồi dính liền vào nhau phía sau mà thành trái núi Một. Trông ra đằng trước thì thấy từ chỗ lăng xuống tới đất bằng có phân rõ ra tam cấp như là ba bực đ bước lên ngai, rồi xa xa là ruộng đất cỏ cây minh mông bát ngát.

Ngắm xem địa thế, rồi mới tính vào xem lăng. Phía ngoài ch là một cụm cây rậm rạp, bề dài chừng 15 thước, bề ngang chừng 5 thước. Chạy quanh một lượt không thấy lối vào, chúng tôi mới bo toán binh tiền phong mở lối đi. Chúng đều lắc đầu lè lưỡi mà nói rằng từ xưa tới giờ, không ai dám b một cái lá, chặt một nhánh cây mà chui vào, vì chốn đó linh thiêng lắm. Biết rằng không phá ni cái dị đoan tín ngưỡng ca họ, nên tôi bo cho mượn cái rựa lớn đ vạch lối đi vào trong. Vén lá bẻ nhành một lúc mới mở được cái lối nhỏ, con chó chui vừa, thế là cúi xuống bò lần vào, lấy đầu đi trước vì có nón che; càng vào càng thấy gai góc nhiều, mắc chặt lấy áo quần, cắt đứt chân tay mặt mũi, song muốn vào cho biết nên cứ bò đi. Vào trong chẳng thấy chi, lấy dao bươi đất lên thì mới ló ra hai miếng đá hình ch nhựt lớn bằng cái mặt bàn, đặt nối đầu vào nhau, đó là hai ngôi mộ ca song thân Tây Sơn đó: Mở máy chụp hình ra chụp, chỉ thấy rõ được mấy cây gai. Thế rồi lại theo đường cũ chui ra...

Khi đi trở về thì chúng tôi đưa mắt ngó qua làng Phú Lạc cũng ở gần xóm Hoành Sơn, thấy có lơ thơ ít nóc nhà tranh. Ở làng đó hồi xưa có ông Mai Xuân Thưng, đậu Cử nhơn, người khí khái, chống cự với binh Pháp hàng năm không chịu đầu hàng, sau có ông tổng đốc Trần Bá Lộc ở Sàin ra, dùng mưu dụ dỗ mãi mới giết được. (Ông Trần Bá Lộc ngày nay có tượng bày ở Musée Blanchard de la Brosse ở Sàin).

Khi xe chạy tới chợ Cầu Sặc gần khúc sông Đã Hằng thì chúng tôi có ngừng lại một lát đ ngm xem phong cảnh. Nguyên khi xưa, lúc anh em Tây Sơn thắng thế, thì có một quan Tham tri ca vua Gia Long giỏi về khoa thiên văn, địa lý, nhâm độn và toán số, tình nguyện xin đi sang trá hàng với Tây Sơn đ kiếm cách tiễu trừ. Ông ta liền ci trang làm một ông thầy địa lý đi ngao du sơn thủy, tới chợ Cầu Sặc, vào quán cô hàng bán bánh ngồi uống nước, rồi ngó mặt cô hàng má nói: “Một chập nữa, sẽ có Thiên t tới hàng cô đó”. Nhà hàng hỏi làm sao biết thì ông ta xưng là thầy địa lý giỏi khoa tướng số. Cách một giờ sau, qu có Nguyễn Văn Nhạc tới đó dụt mưa, giữa lúc thầy địa lý đi ra; cô hàng liền thuật chuyện thầy địa lý đã nói cho Nhạc nghe. Nhạc phục tài và sai người đi kêu thầy địa lý ấy về trọng dụng. Từ đấy Nhạc tin cẩn thầy địa lý lắm, có việc gì cũng bo bói toán, mà ông thầy nói đâu trúng đó. Lần lần ông thầy khuyên Nhạc đào con sông Đã Hằng, chạy trước mặt ngôi mộ trên Hoành Sơn, chắn ngang dãy núi hình cái ngai đã nói ở trên, Nhạc nghe theo. Khi đào xong sông đó thì ông ta bỏ trốn về với vua Gia Long. Từ đó trở đi, ba anh em Tây Sơn đã có ý bất hòa, song thanh thế vn còn mạnh lắm.

Về sau Nguyễn Văn Huệ lại chống nhau với cả quân Tàu sang giúp vua Lê Chiêu Thống, quân Tàu đại bại, hao binh tổn tướng rất nhiều. Vua Tàu sai một thầy địa lý sang xem xét căn nguyên và tìm cách hại ngầm Tây Sơn. Khi thầy địa lý đến xóm Hoành Sơn xem địa thế thì biết là đất phát đế vương, song thấy con sông Đã Hằng án ngữ thì biết là có người hại ngầm rồi, liền đề một câu rằng:

- Thập nhị niên cường, thị cường mạc ngữ

- Thập ngũ niên dĩ hậu, t tôn tuyệt tự

Nghĩa là:

- Được mười hai năm oanh liệt hùng cường, không ai chống lại được

- Nhưng sau mười lăm năm, thì con cháu tuyệt tự

Thầy địa lý Tàu đề xong bài bia rồi, lại nghĩ mưu triệt Tây Sơn cho mau chóng, liền xúi người khuyên anh em Tây Sơn đào thêm hai con sông nữa là sông La Dĩ và sông Ca Tiền cùng chảy về cầu Găng, châu đầu vào núi Mỏ O, tục kêu là Cô Sơn. Thế là vì đào có ba con sông ấy mà ba anh em sanh mối bất hòa chia r nhau đến nỗi c ba đều thiệt mạng.

Đó là khúc dã sử, chúng tôi thuật ra đây, còn có thiệt hư, đáng tin hay không, thì là phần độc gi phán đoán”…

*

Trên đây chúng tôi mới chỉ sưu tập được mấy trang du ký hồi đầu thế kỷ viết về vùng quê Bình Định. Đặc biệt với những trang miêu tả về Bàn Thành có thể giúp các nhà quản lý hình dung đầy đủ hơn khu di tích mà thời chiến tranh đã bị tàn phá nặng nề, từ đó có thêm tài liệu để phục dựng, giúp du khách muôn phương hiểu rõ hơn một miền quê văn vật. Thêm nữa, với sự góp sức của nhiều người, hy vọng rồi đây chúng ta có thể xây dựng được bộ sách Du ký Bình Định nửa đầu thế kỷ XX phong phú và đầy đủ hơn.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác