Du kí Quảng Ninh nửa đầu thế kỷ XX

(Toquoc)- Ký là môt loại hình nghệ thuật, một kiểu tổ chức ngôn ngữ đặc biệt, gồm nhiều biến thể, tiểu loại như: du ký, ký sự, nhật ký, phóng sự, tùy bút, bút ký, hồi ký, tản văn… Du ký là một tiểu loại của ký, ở đó chủ thể phát ngôn thiên về mô tả những ấn tượng về cảnh vật, con người, phong tục, dân tình… theo tính chất “mắt thấy tai nghe”.

Do được viết trong và sau các chuyến đi, các cuộc đi thăm thú cảnh sắc dân tình nên du ký chứa một lượng thông tin phong phú, đa dạng về địa lí, văn hóa, đồng thời thể hiện được cái tôi cảm nghiệm rất riêng của nghệ sĩ. Đáng tiếc là cho đến nay, tiểu thể loại này ở ta vẫn chưa được chú ý đúng mực cả ở phương diện lịch sử, văn bản lẫn khảo cứu.

Để giúp độc giả hình dung về tình hình du kí của một số vùng miền, báo điện tử Tổ Quốc giới thiệu loạt bài biên khảo về du ký của PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn. Tác giả của loạt bài này sinh năm 1959, tại Bắc Giang, là cán bộ nghiên cứu Viện Văn học, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn học (Viện Văn học), Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam… Đã xuất bản các tác phẩm: Nguyễn Trãi - về tác gia và tác phẩm (Nghiên cứu, biên soạn, NXB Giáo dục, 1998), Nguyễn Du - về tác gia và tác phẩm (Nghiên cứu, biên soạn, NXB Giáo dục, 1998), Về một “hiện tượng” phê bình (Biên soạn, giới thiệu, NXB Hải Phòng, 1998), Điểm tựa phê bình văn học (Tiểu luận - Phê bình, NXB Lao động, 2000), Tạp chí Tri tân (1941-1945) - Truyện và ký (Sưu tập tác phẩm, NXB Hội Nhà văn, 2000), Phóng sự Việt Nam (Soạn chung, NXB Văn học, 2000), Hồ Xuân Hương - về tác gia và tác phẩm (Nghiên cứu, biên soạn, NXB Giáo dục, 2001), Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập anh (Chuyên khảo, NXB Khoa học xã hội, 2002), Văn học trung đại Việt Nam - Quan niệm con người và tiến trình phát triển (Nghiên cứu, NXB Khoa học Xã hội, 2005), Du ký Việt Nam - Tạp chí Nam phong (1917-1934) (Sưu tầm, giới thiệu- Ba tập, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2007), Văn học Việt Nam thế kỷ XX- Tạp văn và các thể ký, 1900-1945 (Soạn chung, giới thiệu, NXb Văn học, 2007), Trương Tửu - Tuyển tập văn xuôi (Sưu tầm, giới thiệu, NXB Lao động, 2009)…

 

DU KÝ QUẢNG NINH NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

 

Trong truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp có một đoạn văn như thế này: “Đường về, vợ tôi bảo xe đi chậm. Ông Bổng lần đầu mới được đi xa thích lắm. Ông bảo: “Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao phải yêu đất nước. Chứ ở quê ta, dù ngay Hà Nội có văn minh thật, tôi chẳng thấy yêu gì cả”. Vợ tôi bảo: “Tại chú quen đấy. Ở nơi khác người ta cũng thế, họ lại thấy yêu Hà Nội”. Ông Bổng bảo: “Thế là nơi này yêu nơi kia. Tất cả đều đất nước mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, nhân dân muôn năm! Hoan hô đèn cù!”... Như thế là nhu cầu hiểu biết, khám phá, xê dịch, đổi thay không khí, nhu cầu ĐI và XEM chính là tâm trạng “nơi này yêu nơi kia”- cơ sở cội nguồn của những chuyến viễn du và hình thành nên những trang du ký.

Trên thực tế, thể tài du ký là một bộ phận văn học còn chưa được chú ý đúng mức. Khi nói đến “thể tài du ký” cần được hiểu nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật người viết, chứ không phải ở phía thể loại. Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác bằng thơ, phú, tụng và các bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, ghi chép, hồi ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các điểm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, thậm chí có thể liên quan tới nhiều phương diện của xã hội học, dân tộc học khác nữa.

Du kí Quảng Ninh nửa đầu thế kỷ XX  - ảnh 1
Vịnh Hạ Long - Danh thắng thuộc Quảng Ninh
Quảng Ninh là vùng đất có nhiều thắng cảnh, nhiều điểm di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng như vịnh Hạ Long, núi Bài Thơ, chùa Long Tiên, núi Yên Tử, đền Cửa Ông, bãi biển Trà Cổ, đảo Cát Bà... Trong suốt thời trung đại, cha ông ta đã có nhiều bài thơ đề vịnh miền thắng địa này. Bước sang thế kỷ XX, nhiều tác giả đã có bài viết theo thể tài du ký ghi chép qua các chuyến du lịch Quảng Ninh, phác họa được nhiều cảnh quan và thực trạng đời sống kinh tế - xã hội một thời.

Tác phẩm Quảng Yên du ký (Nam phong, số 168, tháng 1-1932) của Nhàn Vân Đình diễn tả một cách dung dị, gần với cuộc du ngoạn núi sông, thăm thú cảnh vật đất trời. Tác giả tả lại sống động chuyến đi bằng đường thuỷ:

“Quá nửa ngày tới tỉnh Quảng Yên, không kịp vào phố ngắm qua con đường thẳng dẫn vào tỉnh, cây cối um tùm, cành cao bóng mát, lảng vảng một vài viên lính cảnh sát đứng sẵn hỏi giấy tuỳ thân và khám xét những khách lên xuống một cách nghiêm nhặt cẩn thận.

Từ đây trở đi, tầu chen núi, núi chen bể, bể khoe bể sâu, núi khoe núi cao, núi có bể thêm đẹp, bể có núi thêm tình, dẫu không tiên mà vẫn nổi danh, không long mà vẫn linh dị, bậc nhân giả, bậc trí giả, vui sướng biết bao.

Buổi chiều 5 giờ 30 tới Hòn Gai, trời sụp tối, gió cuốn mạnh, đèn điện đã giật, còi mỏ đã rúc, lẽ ra trăng mồng 6 lên cao, ngặt vì tiết đại tuyết tới nơi, thường lệ bao giờ cũng u ám ảm đạm, vì vậy tờ mờ không tỏ. Những bọn phu than hết giờ ra về, kinh pha Thổ, đường trong lẫn đường ngoài, cười nói hát xướng, cợt nhợt bằng phỉ” (tr.85)…

Khi đi qua Hòn Gai, Cẩm Phả min, Cẩm Phả bo, Mông Dương... Nhàn Vân Đình đều có làm mấy bài thơ đề vịnh phong cảnh. Khi đứng bên đền Cửa Ông, ký giả quan sát và ghi lại hình ảnh công cuộc hiện đại hóa: “Thẳng đền trông ra có một con đường đá xây quai bờ bể, dài chừng nửa cây số, từ mặt đường tới mặt nước cao chừng 9, 10 thước đứng thẳng như bức thành dựng. Làm như vậy để tầu lớn áp mạn cho tiện, trực tiếp ngay với mặt đường, không phải màn cầu và phà. Mé đường lại có chiếc phà sắt rất cao, đặt máy xe điện ở trên, khi nào có tầu ăn than, tới nơi hòm than tháo ngay mảnh sắt sau ra, dần dần rót thẳng xuống” (tr.88)…

Tiếp đó tác giả tả lại con đường từ đền Cửa Ông tới mỏ Mông Dương với những ấn tượng khá hãi hùng gợi sự tò mò mạo hiểm.

“Bóng thỏ thay đêm, tiếng gà đổi sáng, trông vào đồng hồ kim chỉ giờ sắp báo 7 giờ ngày 9 tháng Chạp năm 1929, kẻ thân nhân đãi cơm nước xong, cùng nhau mượn đường sang chơi Mông Dương...

Hai con đường bộ sức lực khác nhau, tinh thần cũng khác nhau. Một đường thì đã rải đá, xe ngựa đi được, thỉnh thoảng có cây số dựng, những hành nhân đi lại đông, trông qua cũng đủ biết cái cảnh lâm tuyền tất đã có tay chủ nhân, mà bức đồ bản sáng sủa lạ tai lạ mắt đó tất cũng đã đứng vào cuốn sổ văn minh của xã hội hiện thời.

Một đường thì trèo đèo vượt thác, vạch cỏ rẽ cây, lắm quãng đường đi tối om lại, những beo và hổ chạm người tránh vào rừng sâu, thành ra vèo vèo những cơn lốc cơn gió. Yêu khí lạnh lẽo, sơn lam chướng khí bốc lên ngùn ngụt, sởn cả tai váng cả óc, quãng thời gian không biết ngày hay đêm, sớm hay tối. May gặp những cánh hoa mai từ từ uốn éo có tự trong khe núi mọc ra, tiếng nước róc rách, hương nhị buông ra ngào ngạt, mới nhận lúc đó còn là mùa đông.

Hai con đường bộ đã nói ở trên, ta đều quan sát tới cả, vì kẻ hướng dẫn cho ta, đường sá không quen, gặp đâu đi đấy. Lúc mới theo mấy chú tiều phu xông đột, đi tắt vào con đường rừng, bảo con đường này tuy khó đi thật, song so với con đường đá chóng hơn gần 6 cây số. Càng đi càng hiểm trở, thấy hiểm trở cũng ngại lòng, kẻ thân nhân nghe ra gót đã chồn, sắc đã mệt, tự ta xem ra cái lá gan mạo hiểm cũng đã thấy núng. Thôi thì đành bỏ đường tắt mà đi đường cái, bỏ đường ám muội mà noi theo con đường chính đại quang minh” (tr.89)…

Qua đoạn dẫn trên có thể thấy rõ tác giả thiên du ký đang tường thuật, kể lại chuyến du ngoạn với tất cả những điều tai nghe mắt thấy, những trải nghiệm và cảm xúc riêng tư qua từng thời khắc, từng chặng đường cụ thể. Đặt trong bối cảnh những thập niên đầu thế kỷ XX, cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp đã tạo nên một nhịp sống mới, làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên vốn bao đời tĩnh lặng. Chính nhờ thế mà những trang du ký về miền đất Hòn Gai - Cẩm Phả - Móng Cái thấp thoáng không khí công nghiệp hóa, in đậm những suy tư trăn trở của người viết về sự đan xen, cạnh tranh Tây - Tầu hỗn tạp.

Nhân nói đến những trang viết liên quan đến thắng cảnh Hạ Long - Cẩm Phả, xin dẫn mấy đoạn du ký công vụ lược chép vắn tắt trong Lược thuật cuộc hành trình ngự giá Bắc tuần sau đây.

29 tháng 11 năm 1933.

10 giờ hôm nay tới vịnh Hạ Long, tầu đậu tại cửa Rứa (bae de la Noix).

Quan Thống sứ Tholance cùng Hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn và các quan tuỳ tòng đáp tầu Vigilante ra cửa Rứa. Quan Chánh sở Liêm phóng arnour cũng đáp ca nô Commandant Jeanbreau ra cửa Rứa...

Chừng 2 giờ thì tới nơi, các quan chức Tây - Nam tỉnh Quảng Yên đã chực sẵn đấy để bái yết.

Ngài đi thăm đền cửa Suốt tức là đền thờ ngài Trần Quốc Tảng con đức Hưng Đạo đại vương, rồi do đường bộ ra Campha-mine...

Ngài ngự thiện trên chiếc du thuyền hiệu Princesse Turandot của ông Lapique, ông này là một nhà hàng hải đã thông thuộc vịnh Hạ Long lắm, vẫn tự xưng là lý trưởng làng Bãi Cháy (Ile aux Buissons) và là “anh gác cửa” vịnh Hạ Long.

Ngài ngự đêm tại tầu Dumont durville.

30 tháng 11.

Sáng hôm nay, Hoàng đế tự cầm thuyền buồm của ông Lapique tự cửa Rứa ra động Đầu Gỗ (Grotte des Merveilles). Hoàng thượng cùng các quan tuỳ hành xuống hai chiếc thuyền trăng hoa, vào vũng cửa hang. Ngài dừng bước ở trước cái bia cuộc kỷ niệm ngự du của đức Tiên đế hồi tháng ba năm thứ ba niên hiệu Khải Định, dựng ở ngay cửa hang. Ngài đi thăm hang chừng độ một giờ rồi trở về tàu Vigilante ngự thiện.

Ngài đi thăm vịnh Hạ Long, chừng 4 giờ thì lên tàu nhổ neo, đi về cửa Cấm để kịp 8 giờ sáng mai tới Hải Phòng” (tr. 491-492)...

Bài Lược thuật hành trình cuộc ngự giá Bắc tuần trên đây tuy nằm ở đường biên thể tài du ký song nó cũng phản ánh rõ lề lối sinh hoạt của giới vua quan trong một chuyến du ngoạn, góp phần tái hiện bức tranh xã hội và làm phong phú thêm các sắc diện bản thân thể tài du ký về Quảng Ninh.

Cuối cùng chúng tôi giới thiệu những trang du ký hấp dẫn, sinh động của Kiếm Hồ Nguyễn Thế Hữu qua bài Hành trình chơi núi An Tử (Nam phong, số 105, tháng 5-1926, tr.325-334 và số 106, tháng 6-1926, tr.443-453). Trong phần mở đầu, dưới đề mục Sáu ngày ở núi An Tử, tác giả bộc lộ cảm xúc hân hoan của mình: “Nhân về giêng hai, ngày rộng tháng dài, tôi được đi chơi An Tử, trước là chiêm ngưỡng Phật tổ, sau là đi xem phong cảnh... Đã bốn năm nay những ước ao đi An Tử mà bây giờ chân được đi đến, mắt được trông thấy, thật là phỉ lòng mơ tưởng... Tôi được đi đến nơi, về đến chốn, trăng gió một bầu, cỏ hoa trăm thức đã thu vào trong khoé mắt, tưởng cũng nên cầm bút viết ra để góp một phần gọi là cái quà đi An Tử về để biếu những người có lòng ước ao mà chưa rảnh đi được và những người ngại ngùng đường sá xa xôi không dám đi đến”; hoặc đoạn tả lối mòn lên núi đầy ý vị của kẻ ham xê dịch: “Đang đi thấy trời u ám đổ cơn mưa xuống, trong cái cảnh tượng lúc này đối với những khi ngồi xếp bằng tròn ở nhà đánh chén ngâm thơ, thì hai cái thú khác xa nhau. Được đội cái nón lá 3 xu, chống cái gậy trúc răm dóng, gió thổi hoa cười, nước chảy suối reo, lững thững đi trong rừng, chốc lại thấy mặt trời vén đám mây dòm xuống, ra tình đưa đón, tựa hồ như xem mình đã đi tới đâu rồi... Lại qua ba cái suối, rồi một lát đi đến suối Thả Bè, bên suối có bãi, thấy nói chỗ này người ta vào rừng đốn tre đốn gỗ, kết lại thành bè, chờ nước lên rồi thả trôi ra. Nghĩ cũng diệu kế thật! Đường núi quanh co, lên ghềnh xuống suối, cây gỗ cây tre thì dài, không thả như vậy, công đâu mà tha ra được. Thế mới biết cổ nhân ta ngày xưa dụng bằng trí hơn dụng lực” (Số 105; tr.326-330)...

Cùng với việc mô tả cuộc du ngoạn qua các chùa Lân Giải, Hoa Yên, Vân Tiêu, Bảo Sát, Một Mái, Thiền Định, Cầm Thực, Tháp Mẫu... tác giả phác họa khung cảnh chùa Đồng trên đỉnh non cao, giữa bốn bề mây gió: “Lên đến chùa Đồng thì 9 giờ 35, là đỉnh núi An Tử, chỗ giữa vuông ước bằng bốn chiếc chiếu, xây lên cái bệ, chung quanh đá mọc chơm chởm, trên thờ pho tượng đức Quan âm và ba pho tượng đức Trúc Lâm mà thờ lộ thiên. Tôi hỏi ra trước cổ nhân có làm ngọn chùa bằng đồng, che mấy pho tượng, nhưng đã hư nát mất cả, duy mấy cái lỗ đá trước xây chân cột vào là còn dấu tích, bởi thế nên gọi là chùa Đồng. Về sau đây bà Bá Lồng lại đem cúng bình hương mâm bồng bằng đồng, một quả chuông, một cái khánh và cái khung chùa bằng sắt lợp đồng to bằng ba cái đình tháng tám trẻ con chơi. Nhưng mà gió trên này dữ lắm, cái chùa bay mất cả mái, bây giờ mới khiêng sang để bên cạnh. Xem như đến đồ thờ bằng đá sức to như thế mà cũng rơi vỡ cả. Cái khung chùa bây giờ để treo chuông khánh, vẫn tương truyền rằng lên đến đây không được nói to, nhất là không được đánh chuông, hễ ai đánh một tiếng chuông thì u ám cả trời lại, đổ cơn mưa xuống” (Số 106, tr.448)...

Đồng thời với việc tả quang cảnh rừng núi, khe suối, dốc đá, tượng thờ, câu đối, chuyện ăn măng nướng và mua gừng gió, tác giả thốt lên bàng hoàng: “Ờ hay, lúc nãy trèo lên còn trông thấy nóc chùa, bây giờ trông trở xuống thì một trời một mình ta, mù mịt chẳng nhận được lối đi, rồi nghe rào rào như gió cuốn mây chạy, ngẩng trông lên ngọn cây thấy lá im phăng phắc, sau tôi nhận ra mới biết là mình đứng trên mây, đương mưa ở dưới lưng chừng núi”; hoặc có khi thanh thản đi tìm loài trúc hoa: “Cả buổi chiều hôm ấy nghỉ lại chơi ở chùa Vân Tiêu, tôi bảo chú tiểu đưa tôi vào rừng trúc hoa để kiếm mấy cái gậy, cũng cứ theo lối lên chùa Đồng đi độ một quãng rẽ vào, chỉ riêng một khu này có trúc hoa mà thôi, còn trúc xanh có kể hàng rừng, đến nơi tôi thấy chú tiểu cúi xuống bẻ măng mà tuỳ từng cái mới lấy. Tôi hỏi ra mới biết cái nào tía mới là trúc hoa, cái nào trắng ấy là trúc xanh, ăn cũng được nhưng mà đắng. Tôi xem chọn được cái gậy cũng khó lắm là vì già quá thì ít hoa, non quá thì óp, phần nhiều cong chứ thẳng thì hiếm. Lấy được mấy cái gậy đem về trông thì mốc meo chứ không nhẵn nhụi như trúc xanh kia, rồi thấy chú tiểu đem vào bếp cời than ra, hơ qua, lấy tro nóng bọc vào cái giẻ, rỏ ít nước mà tuốt, những chỗ mốc sạch là nổi hoa lên, xem ý đánh mạnh thì hoa hết cả” (Số 106, tr.444-449)...

Đến đây chúng tôi dẫn lại bài du ký in đậm phong cách ghi chép - ký sự của nữ sĩ Vân Đài Bốn năm trên đảo Các Bà trên Tạp chí Tri tân số 149, tháng 7-1944). Trên thực tế, đảo Các Bà (nay thường gọi Cát Bà) trước đây thuộc tỉnh Quảng Yên và khu Hồng Gai, đến năm 1956 mới tách về Hải Phòng. Mở đầu thiên du ký là lời kể của nữ sĩ về chuyến ra đảo: “Năm 1935, lần đầu tiên ra Các Bà... Hôm ấy vào một sáng hè, vòm trời xanh đậm màu lơ và khí trời đã bắt đầu oi ả. Một ngọn gió đưa từ xa lại, chiếc buồm treo trên cột thuyền thong thả quay ngang... Chậm chậm tiến lên, thuyền dần dần xa bến. Gió bể gieo vào thuyền một thứ không khí khác thường, nhưng rất trong sạch. Không khí này quen với tôi lắm. Chỉ một chút gió phớt qua, một chút lạnh lùng đưa lại, lòng tôi đã gây gấy lên một cơn sốt nhẹ nhàng, nhưng sôi nổi để tha thiết những cái gì cao cả mênh mông của vũ trụ, những cái gì chân thật, vĩnh viễn, không giả dối, không khinh bạc của loài người. Phải chăng là gió với mây, trăng với nước, là bạn chí thân của những tâm hồn ẩn dật?... Cửa bể con con của Các Bà bệ vệ như một chiếc ngai vàng, mở rộng hai tay để che chở những con thuyền phiêu bạc. Bao bọc chung quanh những giải núi xanh, Các Bà đã lọt vào giữa lòng khu đất ấy. Tất cả trông như một cái vòng tròn. Trước vòng tròn mở ra một cửa đón thuyền ra vào, trông thật là một nơi rất an ổn cho những thuyền bè trong những ngày sóng gió”... Tiếp đó nữ sĩ kể lại lời truyền về lai lịch tên hòn đảo: “Tiện đây tôi xin nói qua về cái tên Các Bà, mà nhiều người vẫn gọi lầm là Cát Bà như người ta gọi Cát Hải vậy. Các Bà xưa kia vẫn có một tên mà người Khách gọi là Appovan và người Nam gọi là Các Bà, do lấy tên một ngôi mộ của hai nữ thần không tên, chết ở đâu, trôi về và hiển linh tại đấy. Ngôi mộ ấy gọi là ngôi mộ của Các Bà, người ta lập miếu thờ và người ta muốn biểu dương cái uy linh của các bà, nên lấy tên Các Bà đặt cho hòn đảo”...

Sau khi nêu lên vai trò nhà đoan và cuộc sống của dân chài lưới cùng những hành vi trốn thuế của bọn buôn lậu cá, mực khô, nữ sĩ nhấn mạnh thực trạng đời sống và cung cách làm ăn của dân ta so với người Khách: “Không kể hai làng Tân Châu và Xuân Đám, một số ít người Nam ở Các Bà phần đông là người nghèo khổ. Nghề nghiệp của họ không có gì khác hơn là nghề lấy củi, lấy cỏ, vác mướn thuê cho khách trú. Giữa nơi tiền rừng bạc bể, thế mà một số người ở chính đất nước mà vẫn cam tâm đứng bên cạnh sự sung sướng của kẻ khác, nhìn họ kiếm tiền một cách dễ dàng... Rồi ngày qua ngày, họ đánh những con cá bé, câu những con tôm te (nhất là nghề câu tôm), bán lại cho thuyền Khách. Người Khách lại dùng tôm câu cá giống để lấy vây. Nhiều ngày sống gần bọn thuyền chài, tôi nhận thấy đời họ có một đời sống đầy khí trời, đầy trong sạch và tâm hồn họ rất chất phát. Riêng với họ, họ vẫn ước ao chiếc thuyền to, chiếc lưới chắc cho họ có thể vững vàng hơn nữa... Gần đây nhà nước đã đóng thuyền, bỏ vốn giúp một số đông thuyền chài người Nam. Thật là một điều đáng mừng”... Đọc đoạn văn này cứ có cảm tưởng như câu chuyện bức xúc đang đặt ra cho chính cuộc sống hôm nay vậy.

Một mảng hiện thực khá lý thú nữa là phong cảnh làng quê hiện diện giữa vùng đảo đã được nữ sĩ trân trọng phác họa: “Trèo qua nhiều ngọn đồi gập ghềnh, len vào những con đường độc đạo. Làng Tân Châu và Xuân Đám là một cõi riêng, gần như một thế giới khác. Người ở đây sống biệt lập và vẫn giữ được căn bản người Việt Nam. Đến đấy, ta có một cảm tưởng như sống trong một thế hệ cũ, vì người và cảnh vẫn có một vẻ mộc mạc thời xưa. Mười năm về trước, trong lúc các nơi đã bỏ nghề nuôi tằm, dệt lụa, ở đây vẫn có những bãi dâu, những khung cửi, những cô gái mặc váy đũi, yếm cổ xẻ và những ông già bạc đầu chống gậy trúc, mặc áo lụa mộc, chiều chiều đi ngắm cảnh dưới tà dương... Những cây cổ thụ to, tàn lá xanh toè kín làm cho các đường đi trong làng lúc nào cũng có vẻ êm mát, dù trong mùa hè gay gắt. Những nhà lá rộng rãi, đặt trong các thửa vườn vuông vắn, mới trông chỉ thấy một màu xanh mượt của đám lá chuối non, giàn bầu nặng chĩu quả. Có nhà thỉnh thoảng đưa ra những tiếng đều đặn của chiếc khung cửi dệt lụa do cô gái có đôi má hồng mơn mởn đương dẻo tay đưa thoi”...

Với bốn năm sống trên đảo, nữ sĩ Vân Đài đã có cái nhìn khái quát, toàn cảnh về vẻ đẹp thần tiên và hùng vĩ của vịnh Hạ Long: "Xưa nay người Nam ta đi xem phong cảnh vịnh Hạ Long đã nhiều, nhưng thật ra, biết cảnh vịnh Hạ Long rất ít. Hạ Long không phải chỉ có cái hang Đầu Gỗ, hang Surprise và vài ba hang khác... Kỳ quan của tạo hóa ở đất nước này, cho ta thấy từ Các Bà về Hòn Gai - hơn hai mươi cây số tất cả - một cảnh Thiên Thai nơi hạ giới. Những non nước u tịch, những sơn thủy hùng vĩ, những cảnh đẹp mờ ảo nhưng cao siêu. Bao nhiêu cái đẹp hoàn toàn chọn lọc chỉ riêng nơi đây mới có thể cho ta vừa ý được. Trùng điệp những ngọn núi xanh, không cao lắm, chằng chịt những cây cối cằn cỗi với thời gian, nhưng vẫn giữ một màu tươi mới mẻ. Các dãy núi chia nhau, chắn lấy một góc bể, làm một thế giới của mình, một thế giới vô cùng kỳ tú. Những buổi trời yên sóng lặng, Các Bà lúc nào cũng êm đềm, nhưng không ủ dột. Mặt bể phẳng lặng và xanh, xa trông như một tấm thảm. Chân trời rơi xuống gần quá, bao chung quanh nước một khoảng tròn như một vòng hoa tim tím. Dăm chiếc thuyền đủng đỉnh tạt qua, chiến buông câu, chiếc ghé bến. Dòng nước xanh và trong vắt, tưởng chừng không một sóng gió gì có quyền khuấy đục tấm gương ngọc bích này... Thế rồi cũng có lúc đổi thay. Những trận gió rít lên với một giọng vô cùng gay gắt. Nước bể lăn lộn, lúc nào cũng như cuồng dại muốn nhảy sổ lên bờ. Các cây cối im lặng và ngay ngắn đêm qua, nay bỗng ngả nghiêng, lay động. Lũ khỉ sợ hãi núp trong hang. Đàn chim âm thầm tìm chỗ ẩn. Bao nhiêu cái đẹp êm ả, huyền ảo, chỉ một cơn sóng gió đều biến đổi ra một trạng thái khác thường. Muôn vật đều phải cúi đầu phục tòng dưới cái vô song của tạo hóa"...

 

Ngày nay đọc lại những trang ghi chép này chúng ta có thể hình dung về cuộc sống người dân nơi đảo xa cách nay đã quá nửa thế kỷ. Song ngay từ đương thời người viết du ký không chỉ sao chép phong cảnh thiên nhiên, tả cái vẻ hấp dẫn mới lạ của vùng quê đảo biển mà còn truyền vào đó chất thẩm mĩ và nâng cấp thành đạo lý ứng xử sống hòa hợp với tự nhiên: “ở Các Bà, nơi có người ở mà đẹp nhất là sở Vô tuyến điện. Sở làm trên một cái đồi, cao hai trăm thước. Bốn mặt trông ra là bể và núi. Gió mới luôn thay đổi với cảnh trời. Một khu vườn con đầy hoa đem từ Hạ Hồi lại, ba gian nhà rộng, về mùa xuân, sớm hôm sương mờ lồng chung quanh cửa sổ; mùa thu, bể lặng và trong mơ màng như mắt đẹp một mỹ nhân. Cây đồi, gió núi êm dịu nhẹ nhàng, luôn luôn thỏ thẻ những lời vẻ chân thật. Bốn năm tôi đã sống qua quãng đời yên tĩnh, tịch mịch. Cuộc đời không giả dối, không danh lợi, tôi chỉ ước ao sống nốt đời nơi danh thắng ấy”...

Lấy Hạ Long - Hòn Gai làm điểm giữa, cảnh đẹp xứ Quảng Ninh kéo dài một phía về Cẩm Phả - Trà Cổ - Móng Cái và một phía đua về mạn Yên Tử - Đông Triều. Người xưa nói: “Bậc đức nhân tìm về với núi, kẻ trí giả tìm về với biển”, cả hai kiểu tâm tính ấy hẳn đều được thỏa mãn khi chúng ta tìm về xứ Quảng Ninh - Hạ Long. Thêm nữa, kể từ ngày 17-12-1994, khi vịnh Hạ Long được chính thức được tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới và thu hút du khách bốn phương thì những trang viết của bạn bè quốc tế càng nối dài thêm thể tài du ký Quảng Ninh - Hạ Long vốn đã được khơi nguồn từ hồi đầu thế kỷ…  

PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác