Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại Việt Nam

(Toquoc)- Một số nhà phê bình cho rằng ở Việt Nam, tới nay, văn chương hậu hiện đại đã thành một khuynh hướng sáng tạo nổi bật. Song cũng có không ít nhà nghiên cứu, kể cả người sáng tạo hoài nghi, thậm chí phủ nhận sự tồn tại của nó.

Có nhiều ý kiến trái ngược nhau, chẳng phải ai cũng hiểu được hoặc muốn tìm hiểu "tinh thần hậu hiện đại" trong sáng tác văn học nên dĩ nhiên không tránh khỏi những dị ứng.

Câu chuyện về Hậu hiện đại kỳ này được mở ra để bạn đọc hồi đáp. Báo điện tử Tổ Quốc không có tham vọng qua loạt bài đối thoại Hậu hiện đại sẽ tìm được sự đồng thuận dễ dãi, sự tung hô, cổ suý giản đơn nào đó- mà trên thực tế, những điều ấy vẫn hay xảy ra, trong lúc cái nhìn của đương sự có vẻ đang chiều chuộng, vỗ về các mode, hoặc đã lạc hẳn sang địa hạt của những cái phi văn chương… Đối thoại về Hậu hiện đại, tiếp tục nối nhau, trên tinh thần học thuật nghiêm túc. Và kỳ này, chúng tôi trân trọng giới thiệu ý kiến của hai tác giả:

Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại Việt Nam  - ảnh 1
Nhà nghiên cứu Hải Lam
Hải Lam
, một nhà nghiên cứu văn học ở Đại học Quốc gia Hà Nội, luôn dành cho loại tiểu thuyết hậu đổi mới và các “làn sóng thế hệ” một sự quan tâm đặc biệt, cho nên trong cuộc thoại của chúng tôi- chị đã thể hiện được những nhận định xác đáng và rốt ráo về “con đường phát triển” của khuynh hướng hậu hiện đại ở ta.

Nhà thơ Inrasara, từ lâu đã lội trong dòng văn học hậu hiện đại, nên khi đến đề tài này, cũng khéo mở ra một vài cánh cửa hậu hiện đại, tuy rằng có đôi chỗ anh thiên về thơ ca.


* Văn chương hậu hiện đại ở Việt Nam manh nha từ bao giờ
?

Nhà nghiên cứu Hải Lam: Văn chương Hậu hiện đại ở Việt Nam manh nha từ bao giờ? Từ khi có những yếu tố gọi là “điều kiện hậu hiện đại” xuất hiện ở Việt Nam! Những cái tên Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh có thể coi là những cái mốc đầu tiên của quá trình hình thành nền “văn chương có dấu hiệu hậu hiện đại” ấy… Thời kỳ Đổi mới và “hậu Đổi mới” với nhiều biến động phức tạp trong đời sống và lịch sử; sự đổi thay những thang bảng giá trị, sự phi lý của nhiều hiện tượng xã hội có lẽ đã khơi nguồn cho những nhà văn này cái gọi là “cảm quan hậu hiện đại” chăng? Bên cạnh đó, những vận động nội tại có tính tất yếu của văn chương Việt Nam và ảnh hưởng không tránh khỏi của văn hóa - văn học hậu hiện đại thế giới cũng là những yếu tố quan trọng làm nên “điều kiện hậu hiện đại” cho văn học Việt Nam đương đại.

Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại Việt Nam  - ảnh 2
Nhà thơ Inrasara
Nhà thơ Inrasara
: Từ Bùi Giáng vào đầu thập niên 70 của thế kỉ trước, chắc chắn thế…Nhưng phải đợi đến 30 năm sau, khi internet ra đời, văn hóa mạng phát triển, khi những người cầm bút Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ hết còn bị bưng bít thông tin, họ mở mắt, mở trí và mở hồn. Để cuối cùng, soi nhìn lại mình, họ thức nhận rằng bao giá trị hôm qua ông cha họ và cả chính bản thân họ từng ra sức bảo vệ bỗng chốc đổ rụm, không thể cứu vãn được nữa. Khủng hoảng niềm tin đồng lúc với sự hình thành một cảm thức khác: cảm thức hậu hiện đại; và dĩ nhiên, lối viết của họ cũng khác đi. 12 năm, từ năm 1996 đến năm 2008, trong đó năm 2002 là năm bản lề mang tính xoay chuyển với sự ra đời của hàng loạt website văn học tiếng Việt, được xem là thời kì văn học hậu hiện đại Việt Nam định hình.

* Có thể hình dung về “điều kiện hậu hiện đại” ở Việt Nam ra sao?

Nhà nghiên cứu Hải Lam: Nhìn chung, những tiền đề của sự đổi mới quan niệm về hiện thực và bản chất thể loại văn học (đặc biệt là thể loại tiểu thuyết - thể loại đặc biệt “năng động” và “nhạy bén”), đã không ngừng được đặt ra qua nhiều “làn sóng” thế hệ sáng tác nối tiếp nhau trên văn đàn: từ “làn sóng thứ nhất” (với Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Trần Huy Quang…) đến “làn sóng thứ hai” (Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh…). Song, để có một sự biến chuyển sâu sắc “nòng cốt thể loại”, “đặc trưng thể loại” thì phải đến đầu thế kỉ XXI, với những “thử nghiệm”, những thành tựu của các nhà văn sinh ra trong một thế hệ đã khác trước (“làn sóng thứ ba”). Giờ đây, với “làn sóng thứ ba” (Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận…), nhu cầu “tràn bờ” đã thực sự mạnh mẽ.

Sự ra đời của thế hệ này trên văn đàn đương đại là một kết quả tất yếu của những nguyên nhân thuộc về bản thân các “lực lượng” tham gia đời sống tiểu thuyết (tác giả, độc giả). Nó không chỉ là kết quả của sự hội nhập giữa nhiều luồng văn hóa và thông tin như trong khoảng mười lăm năm vừa qua, mà còn là kết quả của sự đổi mới trong nhận thức của một thế hệ “đang lớn dần, một thế hệ đã đủ xa cách để vượt qua khỏi những mặc cảm và giáo điều trong cả văn học và cuộc sống.” (Nguyễn Thanh Sơn). Đó là một sự phát triển mang tính vận động nội tại; một sự biến đổi về chất, từ những đổi mới về “lượng”; một sự biến đổi về hình thức, từ những biến đổi về nội dung.

Trong đội ngũ sáng tác của văn chương đương đại, xin được dừng lại một chút ở các nhà văn Việt Nam ở hải ngoại với những sáng tác bằng tiếng Việt của họ: Thuận, Đoàn Minh Phượng, Lê Ngọc Mai, Lê Minh Hà, Đỗ Kh… Trên góc độ nghiên cứu thì văn học Việt Nam ở hải ngoại là một hiện tượng nghiên cứu rất thú vị. Nói như nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn, trước tiên nó mang đặc tính của một nền “văn học di dân”, khi những nhà văn, nói một cách hình ảnh, bị “bứng gốc” khỏi môi trường văn hóa quen thuộc của mình đặt vào một môi trường văn hóa xa lạ. Vì thế, cảm thức về phạm trù cái “ngoại biên”, cái “ngoài lề” - một trong những phạm trù quan trọng của chủ nghĩa hậu hiện đại cũng trở nên rõ rệt hơn ở những nhà văn này. Thêm nữa, họ cũng có sự điềm tĩnh hơn trong việc đón nhận những cách tân nghệ thuật của phương Tây, trong đó có những cách tân về mặt cấu trúc của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Nhà thơ Inrasara: Khác với xã hội phương Tây, Việt Nam không có loại tôn giáo độc thần [và gần như độc tôn] thao túng mọi mặt cuộc sống con người đến nỗi Nietzsche phải tuyệt vọng kêu lên “Thưng đế đã chết” và tuyên bố đạp đổ mọi bảng giá trị hiện hữu. Việt Nam cũng không có các siêu hệ thống tham vọng thu tóm thế giới đa tạp vào vài luận điểm rạch ròi và cng nhắc từng xô đẩy nhân loại rớt vào vùng xoáy lịch sử bạo động và phi nhân, để Heidegger quyết làm cuộc phá hủy cả lịch sử siêu hình học phương Tây. Việt Nam cũng không có nỗi mê tín Dân chủ, Tự do, Tiến bộ để phải tuyệt vọng dẫn đến hư vô chủ nghĩa tai hại và tệ hại. Nhưng ở xã hội đương thời, ngoài “đại tự sự” nội địa chưa ra hình thù và đang ngắc ngoải, các siêu tự sự hiện tồn, dù chúng là phái sinh của vài siêu tự sự ngoại nhập, nhưng tác hại qua sự ảo hóa của chúng thì vô cùng. Hệ quả là thế hệ hôm nay phải mang vác, chịu đựng chúng, khốn đốn bởi chúng. Đó là điều kiện đủ đầy - đủ đầy kiểu Việt Nam - khai sinh cảm thức hậu hiện đại. Với cảm thức hậu hiện đại, nhà văn đang nỗ lực tháo gỡ chúng. Từ đó sinh ra ý thức về vị trí xã hội hậu thuộc địa, về việc tranh đấu nữ quyền, về thế đứng ngoại biên của dân tộc thiểu số, về vấn đề chuyên quyền và chống chuyên quyền, cùng bao nhiêu thứ khác... Những yếu tố ấy là cả miền đất mầu mỡ cho văn chương hậu hiện đại nảy sinh và phát triển.

Văn chương hậu hiện đại Việt ra đời và chọn cho mình thế đứng ngoại biên, chủ yếu để kháng cự lại ý thức hệ chính thống, lột trần sự mê hoặc mà thông tin đại chúng một chiều đang tác động lên lối sống, lối nghĩ và làm của công chúng, hằng ngày.

* Trên hành trình tìm lối vào văn chương hậu hiện đại ở Việt Nam, đến đây, có lẽ chúng ta cần phải phác hoạ đôi nét về diện mạo của đội ngũ sáng tác văn chương hậu hiện đại. Ý kiến của anh (chị) thế nào?

Nhà nghiên cứu Hải Lam: Nếu có thể chọn một số cái tên nhằm phác thảo con đường nói trên, tôi xin được kể ra những cái tên sau, từ quan điểm cá nhân của mình: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Thuận… (văn xuôi), và Trần Dần, Lê Đạt, Vi Thùy Linh… (thơ). Ở họ, không chỉ có vấn đề cách tân kĩ thuật viết theo kiểu “hậu hiện đại”, mà cái gọi là “cảm quan hậu hiện đại” hay “cảm quan mang hơi hướng hậu hiện đại”cũng đã bắt đầu hình thành. Bản thân sự độc đáo, phong cách sáng tạo riêng biệt của mỗi người đã là một đóng góp vào tính phong phú của nền văn học mang “dấu ấn hậu hiện đại”.

Nhà thơ Inrasara: Trước tiên không thể không kể đến các sáng tác đăng trên tạp chí Thơ, Việt, Hợp Lưu xuất bản ở hải ngoại vào những năm cuối của thế kỉ trước. Các tên tuổi như Nguyễn Hoàng Nam, Trần Vũ, Khế Iêm, Nguyễn Đăng Thường, Đỗ Kh., Lê Thị Thấm Vân... cùng sáng tác cách tân của họ, đã tạo nên một hiệu ứng dây chuyền, tác động đến giới cầm bút trong nước, nhất là ở miền Nam. Rồi vào đầu thiên niên kỉ, khi phong trào in photocopy nở rộ tại Sài Gòn, người ta thấy xuất hiện các tập thơ như Của căn cước ẩn dụ của Nguyễn Quốc Chánh hay Bầu trời lông gà lông vịt của Trần Tiến Dũng, thì sáng tác hậu hiện đại bắt đầu có tiếng nói của nó trên văn đàn. Nhưng phải đợi đến nhóm Mở Miệng ra đời vào đầu năm 2002 với hàng loạt tác phẩm in photocopy của họ, văn chương hậu hiện đại mới thực sự khẳng định thế đứng của mình. Vài năm sau, sự xuất hiện của nhóm Ngựa Trời chỉ làm cho bức tranh thêm phong phú mà thôi. Từ đó, sáng tác hậu hiện đại gây ảnh hưởng rộng lớn đến sinh hoạt trong nước. Báo chí chính thống không còn có thể làm ngơ với các hiện tượng này nữa, dù chúng chỉ tồn tại ngoại biên và luôn nhận lãnh sự kì thị từ nhiều phía. Dễ dàng nhận ra rằng, thơ với ưu thế thể loại (dễ in, dễ lưu hành) của nó, đã chiếm lĩnh “văn đàn” để nhận ấn tiên phong.

Riêng văn xuôi, ở hải ngoại, sau các cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn hay kí sự của Trần Vũ, Lê Thị Thấm Vân, Đỗ Kh.... các tác giả văn xuôi ở trong nước cũng đã kịp cho ra mắt các sáng tác hậu hiện đại của mình. 12 năm hình thành và phát triển, có thể kể ra mươi tác phẩm văn xuôi đáng chú ý: Người ăn gió và quả chuông bay điMưa mặt nạ của Nhật Chiêu, Hậu sản của Lynh Bacardi, Em có gì bí mật, hãy mail cho anhCơn bấn loạn bằng phẳng của Nguyễn Viện, Ma NET của Đặng Thân, Chuyện tình mùa tạp kỹ của Lê Anh Hoài (đang in lần thứ hai, phục hồi lại tên cũ: Tìh êu), Cái sân vuông và nơi thờ Phật của Lữ, “Hắt lên tăm tối” trong Viết của Nhã Thuyên... Cạnh đó có tập văn xuôi mang hơi hướng hậu hiện đại rất độc đáo: Luận ngữ tân thư của Phạm Lưu Vũ.

Về thơ, tôi tự tin chọn ra 100 bài thơ hậu hiện đại “hay” của 15 tác giả xuất sắc cả trong lẫn ngoài nước. Cuốn chuyên luận Thơ Việt, từ hiện đại đến hậu hiện đại vừa hoàn thành dịp Tết Kỉ Sửu này, sẽ giúp độc giả nhận diện rõ hơn văn chương hậu hiện đại Việt Nam.

* Vậy, trong vùng văn xuôi và thi ca của ta - từ những năm 80 trở lại đây, những ai có thể đại diện cho khuynh hướng sáng tạo vừa kể trên? Họ đã bổ sung và làm phong phú nhau bằng cách nào?

Nhà thơ Inrasara: Hơn 40 nhà văn, nhà thơ sáng tác có ít/ nhiều yếu tố hậu hiện đại trong cảm thức/ thủ pháp, không thể nói ai đại diện cho ai được. Qua nhiều hình thức và phương tiện khác nhau, họ trình diện bộ mặt của mình đủ dáng đủ vẻ, cho ra mắt các tác phẩm đa giọng điệu đa phong cách. Họ có mặt và bổ sung cho nhau.

Nếu Bùi Chát mạnh ở giễu nhại thì Lý Đợi rất giỏi về chế biến tin trên báo chí; bên cạnh Phan Bá Thọ sử dụng tài hoa thủ pháp siêu hư cấu sử kí là Nguyễn Thế Hoàng Linh linh hoạt với lục bát hậu hiện đại. Mỗi tác giả triển khai tối đa thế mạnh của mình. Nguyễn Hoàng Tranh có thơ thị giác visual poetry kết hợp ngôn ngữ và hình ảnh. Đinh Linh, Đỗ Kh: thơ photo và thơ video. Đặng Thân và thơ phụ âm đầu tiên. Nguyễn Tôn Hiệt với thơ thực hiện, thực hiện Tuyên ngôn thơ vô tiền [khoáng hậu] trong lịch sử thơ Việt. Lê Văn Tài khẳng định tên tuổi qua hàng loạt bài thơ cụ thể concrete poetry đăng liên tục trên Tienve.org, tạo một hiệu quả nghệ thuật bất ngờ. Riêng Nguyễn Hoàng Nam, ngoài thơ graphic, anh còn chế tạo ra loại thơ phân thân chưa từng có tiền lệ. “Một bàn chưn” tự tách ra khỏi chủ thể con người để làm cuộc hành trình độc lập với cả chuỗi hành động qua cuộc phiêu lưu riêng lẻ, không liên quan đến con người từng “sở hữu” nó. Rồi Khế Iêm từ hậu hiện đại chuyển qua tân hình thức, chủ trương "sử dụng thi pháp đời thường thay thế thi pháp cảm tính", qua đó lôi cuốn hơn ba mươi người làm thơ cùng thời thử nghiệm tân hình thức Việt. Các nhà thơ hậu hiện đại Việt tiếp nhận và bày ra bao nhiêu loại thơ nữa. Họ không từ chối hay chống lại mà tận dụng mọi lợi thế của khoa học kĩ thuật, để làm thơ.

Song hành với thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn hậu hiện đại cấp tập ra mắt độc giả. Mỗi tác giả đều có đóng góp giọng điệu đặc thù. Chuyện kể của Đỗ Kh. chẳng ra đầu đuôi nhưng có sức gợi và lôi cuốn riêng. Lê Anh Hoài nhại giọng tiểu thuyết tình cảm rẻ tiền đang thịnh hành. Đặng Thân chế biến “bạt mạng” các câu chuyện nhặt nhạnh được từ vỉa hè. Hoàng Ngọc Tuấn có lối siêu hư cấu khác hẳn. Nhật Chiêu khai thác khía cạnh huyền ảo của câu chuyện đời thường bằng ngôn từ rất đẹp. Phạm Lưu Vũ với ngụ ngôn hậu hiện đại mượn người xưa nói chuyện thời nay. ..vân vân…

* François Lyotard cho rằng hậu hiện đại hoài nghi đối với mọi lí giải lớn (grand narrative), nó không lấy “đại tự sự” làm cơ sở tri thức luận và ý thức hệ cho mình. Nếu chúng ta, xét văn chương hậu hiện đại theo tinh thần này, thì cho đến giờ các tác giả hậu hiện đại ở ta đã góp cho lớp công chúng mới những “câu chuyện nhỏ” (petits récits) nào?

Nhà nghiên cứu Hải Lam: Liên quan đến vấn đề này, tôi xin được nói tới hai hiện tượng:

Một là hiện tượng “làm ngắn tiểu thuyết”, rút giảm “tầm vóc và quy mô thể loại”. Có một dấu hiệu “ngoại hiện” mà ai cũng có thể nhận thấy ở khá nhiều tiểu thuyết Việt Nam trong thập niên đầu tiên của thế kỉ này: đó là sự thay đổi độ dài của tự sự so với các tiểu thuyết giai đoạn nửa cuối thế kỉ XX. Như khảo sát gần đây của một nhà phê bình (1), hầu hết các tiểu thuyết đều thu gọn cái “thân xác bề thế” như nó đã từng được quan niệm và hình dung trước đây: Những tác phẩm có độ dài trên năm trăm trang như Mẫn và tôi (Phan Tứ), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu)… vốn phổ biến trong một vài thập kỉ trước, giờ đây rất ít hiện diện trong đời sống văn học, chứ chưa nói đến các bộ tiểu thuyết trường thiên kiểu Cửa biển (Nguyên Hồng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Vùng trời (Hữu Mai)… “Tiểu thuyết ngắn” trở thành một thuật ngữ định danh được sử dụng khá phổ biến cho những tự sự có độ dài dao động từ 100 đến 300 trang của thời kì này: Thoạt kì thuỷ - 167 trang, Những đứa trẻ chết già - 202 trang, Trí nhớ suy tàn - 127 trang, Ngồi - 300 trang (Nguyễn Bình Phương); Chinatown - 227 trang, Paris 11 tháng 8 - 287 trang (Thuận), Tấm ván phóng dao - 203 trang (Mạc Can); Thiên thần sám hối - 125 trang, Đi tìm nhân vật - 225 trang (Tạ Duy Anh); Trăm năm thoáng chốc - 190 trang (Vũ Huy Anh)… Phải chăng, tiểu thuyết đang đánh mất dần bản chất thể loại của nó, đánh mất tính quy mô và dung lượng bề thế trong phản ánh hiện thực, dẫn đến một hệ quả là bị “truyện ngắn hoá” dần dần? Đó là câu hỏi mà nhiều bạn đọc sẽ đặt ra khi quan sát sự biến đổi diện mạo và cấu trúc của tiểu thuyết thời kì này.

Chúng ta có thể lí giải vấn đề này từ nhiều góc độ, nhưng theo tôi nguyên nhân quan trọng nhất nằm trong sự thay đổi quan niệm về hiện thực kết hợp với sự thay đổi quan niệm về chính tiểu thuyết (xin được nói kĩ hơn ở phần tiếp sau đây).

Hiện tượng thứ hai đáng lưu ý là hiện tượng “ngoại đề hóa” hay hiện tượng “phi tâm hóa” truyện kể và sử dụng đậm đặc lối tự sự phân mảnh.

Như chúng ta đều biết, trong khuôn hình tự sự truyền thống, các đoạn “ngoại đề”, “trữ tình ngoại đề” chỉ chiếm một vị trí thứ yếu, một thân phận “lẽ mọn” bên cạnh cái “phần cứng” của cốt truyện - hay phần “chính thất” của một tác phẩm. Nhưng trong các tiểu thuyết đương đại, thế đứng ấy đang dần bị đảo ngược và dẫn đến việc xóa bỏ địa giới giữa hai khu vực này: nói cách khác, trong cấu trúc tiểu thuyết, cái ngoại vi đang dần tiến vào thay thế cái trung tâm và đi đến cái đích cuối cùng là ngốn nuốt cả cái trung tâm, lật nhào luôn cái tình thế được gọi là trung tâm - ngoại vi kia. Trong và giữa các dòng tự sự, người đọc liên tục bắt gặp những khúc đoạn mang chức năng “ngoại đề”, nhưng lại chiếm hữu sâu xa tinh thần truyện kể; đồng thời tạo nên những khoảng trắng mênh mang trong văn bản: như những ảo ảnh chập chờn vô thức trong Thoạt kỳ thuỷ ( “Trôi ở giữa những đụn khói, ai cũng lẫn vào nhau. Tất cả đều mờ. Trăng không xuống được tóc, chỉ lơ lửng trên đầu. Trăng cười, vàng sắp thành đen rồi. Cứ nở mãi, nở mãi giữa những đụn khói đặc quánh…”), hoặc nỗi đau đáu về một quá khứ phiền muộn mà dịu dàng của Chinatown (“Tôi chỉ muốn gặp Thụy để hỏi. Tôi muốn hoãn tất cả chỉ để gặp Thụy. Những ngày ấy Thụy ở đâu, gặp ai, làm gì…”)… Những khoảng trắng văn bản, những vùng mờ ngữ nghĩa, những đứt gãy tự sự… tất cả làm nên một sự tuyên chiến quyết liệt với cấu trúc truyện kể truyền thống; nhấn chìm cả “mở”, “thắt”, “cao trào”, “khủng hoảng” vốn là những “rường cột” của các kết cấu tác phẩm thời kỳ trước. Người đọc bị ném vào “đường bay của các mê lộ” (chữ dùng của Ngô Tự Lập) - những đường bay không có quỹ đạo, không định danh đích đến, không hoa tiêu dẫn đường. Đó là cách các nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Thuận, Nguyễn Bình Phương... “quấy rầy độc giả”, bắt độc giả làm việc cật lực với những tự sự mang đậm tinh thần hậu hiện đại của mình.

Trong Chinatown, quá khứ và những tín điều cố hữu, quen thuộc đến thiêng liêng với con người đều được nhìn nhận qua lăng kính của một thứ humour xót xa, một kiểu “lưỡng giọng” rất lạ lùng: khôi hài đấy mà đắng đót đấy, châm biếm đấy mà nghẹn ngào ngay đấy… Các câu văn của Thuận (hay của Nguyễn Bình Phuơng, Tạ Duy Anh…) tựa như những ốc đảo cô đơn và lạnh lẽo, bởi nhà văn đã chủ động tước hết đi những “ôi a”, những “rất lắm quá” và thậm chí cả những “da diết, tha thiết, mãnh liệt” - nghĩa là một kiểu hành văn dễ gây hẫng cho những độc giả vốn quen được nhà văn chiều chuộng bằng những tính từ và thán từ. Khối ký ức và kỷ niệm vốn dễ dàng lung linh và toàn bích với bao người lại trở nên vụn vỡ, xộc xệch đến khôi hài trên trang văn của Thuận. Chinatown là một cuộc chạy trốn Quá khứ và Kỷ niệm, một cuộc “giải thiêng quá khứ”, một sự chối bỏ những “Đại tự sự” trong chính tâm thức mỗi con người.

Việc sử dụng đậm đặc lối tự sự phân mảnh không chỉ có ý nghĩa như một thủ pháp “lạ hoá” trong trần thuật hay một trò chơi cấu trúc xuất phát từ sở thích cá nhân của người viết. Lối viết này thực sự tái tạo một thế giới phân mảnh trước mắt chúng ta, đồng thời, thiết lập một mô hình tiểu thuyết mới - nơi “chính cuộc đời thực, trở nên rõ ràng hơn trong hình thức những mảnh vỡ” (2) - và đằng sau đó là một quan niệm mới về tiểu thuyết: Xu thế tái lập một thế giới toàn vẹn, một “hiện thực hoành tráng” thông qua dung lượng dồi dào và khả năng bao quát rộng lớn - một “đại tự sự” - không còn là khát vọng thường trực, càng không phải là một tiểu chuẩn lý tưởng cho các nhà viết tiểu thuyết theo đuổi nữa. Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương, Mạc Can, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận… thay vào những bức tranh hiện thực lớn lao, kì vĩ, ôm trùm không gian và thời gian là những mảnh ký ức âm thầm và dang dở, những giấc mơ hiện hữu hoặc tàn phai, những cuộc phiêu linh của tâm thức và thân phận người… dồn nén trong một dung lượng ngôn từ hạn hẹp. Mỗi tiểu thuyết trở thành một “tiểu tự sự” về nội tâm và khát vọng cá nhân của con người, với những vang âm của một tinh thần nhân bản sâu xa và mạnh mẽ. Theo tôi, đó là một điểm nhấn, nếu không nói là một thành tựu, của nền tiểu thuyết đương đại.

Nhà thơ Inrasara: Con người hậu hiện đại tin vào câu chuyện của cá nhân trong một hoàn cảnh cụ thể và ngắn hạn. Nó không tin các hệ thống giải thích của đại tự sự với đủ loại mánh khóe uốn nắn thế giới lọt thỏm vào hệ thống của chúng. Ở Việt Nam, đại tự sự về cuộc chiến anh dũng thần thánh đã được lật mở bởi Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh hay Hoàng Minh Tường với Thời của thánh thần. Dù đây không là tiểu thuyết hậu hiện đại của nhà văn hậu hiện đại, nhưng sự thể đủ nói lên sự sói mòn niềm tin vào đại tự sự của nhà văn Việt Nam đương đại. Có thể coi đó là những tiểu tự sự của những cá nhân có suy tư độc lập.

Tiểu tự sự khác là những mảnh vụn của một nền văn minh đang ngủ vùi giấc ngàn thu như văn minh Champa được Inrasara phục dựng và làm sống dậy; sống dậy và nhập lưu dòng chảy chung của dân tộc, của nhân loại. Cạnh đó, có hiện thực của cuộc sống thành phố sôi động bề bộn hay bế tắc trước và sau thời mở cửa được Trần Tiến Dũng kể lại theo cái nhìn phản biện đặc chất cá thể. Bùi Chát hay Khúc Duy kể chuyện nhảm nhí rất đời thường của chính mình bằng giọng địa phương, là một lối tiểu tự sự đặc thù. Đỗ Kh. có các sáng tác tự thân đã mang tinh thần giải lãnh thổ hóa, hay Trần Wũ Khang và Lê Vĩnh Tài - giải địa phương hóa.

* Liệu rằng ở ta, những “câu chuyện nhỏ” đó có bị hợp thức hoá, chính thống hoá hoặc độc tôn hoá bằng cách “uốn nắn” và “điều chỉnh” để trở thành một dạng “siêu trần thuật” mới không?

Nhà nghiên cứu Hải Lam: Tôi cho rằng, điều này có xảy đến hay không còn tùy thuộc vào “nội lực” và cả quan điểm của mỗi người viết trong “thời hậu hiện đại”. Cái gì cũng vậy thôi, ranh giới giữa cái “mức độ” và cái “cực đoan”, cùng với nó là cái cái “đang mới” và cái “vừa bị cũ hóa” , cái “nghệ thuật” và cái “phi nghệ thuật”, bao giờ cũng thật mong manh và nghiệt ngã. Bởi chúng ta cũng không thể không nghĩ đến khả năng, một ngày nào đó, chính những gì mà chủ nghĩa Hậu hiện đại đang cổ xúy và kêu gọi người ta đi theo, sẽ trở thành một thứ “Đại tự sự” mới của chính nó. Đó cũng sẽ là lúc tự nó sẽ phá bỏ tinh thần hạt nhân chống đỡ toàn bộ lý thuyết của mình?

Nhà thơ Inrasara: Nhà văn hậu hiện đại giải trung tâm không phải để chính mình trở thành trung tâm. Họ phải giữ thái độ phi tâm hóa thường trực. Thật vô ích và phi lí, nếu tất cả nhà văn Việt Nam đều viết thơ theo kiểu Mở Miệng hay suốt ngày “giễu nhại” đúng phong cách Đinh Linh hay Đỗ Kh. Trần Wũ Khang chẳng khờ khạo nghĩ rằng giọng thơ đặc trưng Chăm một ngày nào đó sẽ nhảy lên chiếm lĩnh thế thượng phong trên văn đàn đất nước đa dân tộc này. Các nhà văn hậu hiện đại cũng không mơ mộng trong tương lai gần hay xa, sáng tác trong tinh thần hậu hiện đại sẽ độc quyền mặt bằng văn học Việt Nam. Hậu hiện đại làm cuộc phi tâm hóa chỉ với mục đích tạo cơ hội cho mọi trào lưu văn học cùng đề huề tồn tại và phát triển để làm phong phú nền văn học Việt Nam. Ở đó mỗi cá nhân, mỗi bộ phận ngoại vi (hay nói theo thuật ngữ hậu hiện đâi, là mỗi Others) đều có tiếng nói, và được dành đủ mảnh đất để thể hiện trọn vẹn mọi khả năng của mình.

Nhà văn hậu hiện đại không mơ mộng lập nên đại tự sự mới thay cho các đại tự sự đã lỗi thời. Khi bạn là nghệ sĩ đích thực, định mệnh của bạn là ngoại vi. Bạn luôn ở tư thế của kẻ “giải” khuôn sáo tư duy, những quan điểm chính thống của thời đại bạn sống, những diễn ngôn không phận sự nào khác là uốn nắn, áp đặt, nhồi sọ đám đông đầy bạo động. Ở đó hoàn toàn thiếu vắng cá nhân, tiệt đường sáng tạo cùng các câu chuyện nhỏ của nó. Còn một khi câu chuyện nhỏ nào đó có nguy cơ được/ bị diễn ngôn” để trở thành một dạng siêu tự sự mới, các nhà hậu hiện đại sẽ “giải” nó ngay. Một lối “giải” đầy giễu cợt theo đúng tinh thần hậu hiện đại.

* Chúng ta đang giả định rằng, thực tiễn văn chương Việt Nam hiện thời, đã cho phép định tính được “trạng thái tinh thần”, “phương thức tiếp nhận, và cách cảm thụ thế giới”mới mẻ của chủ thể sáng tạo. Vậy theo sự quan sát và thống kê của anh (chị), “những quan niệm và tâm thế” nào thực sự tiêu biểu và chung cho giới cầm bút đương đại?

Nhà nghiên cứu Hải Lam: Theo tôi, nổi lên trên hết là quan niệm và tâm thế hoài nghi: hoài nghi tồn tại cũng như cái gọi là “chân lý của tồn tại” (đã trở thành những “tín điều cố hữu” của những thế hệ trước đây); hoài nghi sự viết và cái gọi là “thiên chức vạn năng” của ngôn ngữ văn chương (vốn được coi như “thánh thư” của người cầm bút). Hai khía cạnh này sẽ dẫn tới các hệ quả: quyết liệt thay đổi cách cảm nhận và cắt nghĩa thế giới; thẳng tay tấn công thành trì của mô hình văn chương truyền thống và kiến tạo nên những mô hình văn học mới (trước tiên bằng cách “mỉa mai”, “nhại phỏng” chính những giá trị cũ). Đó cũng chính là hạt nhân của “cảm quan hậu hiện đại” trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương…

Nhà thơ Inrasara: Nhà văn hậu hiện đại không mong muốn “những quan niệm và tâm thế” nào trở thành “tiêu biểu và chung” cho giới cầm bút cả. Văn chương chủ ở sự đa dạng, đa phong cách, đa giọng điệu. Với nó tồn tại càng nhiều trào lưu càng tốt. Và điều thiết yếu ở chỗ: nhà văn phải có cái nhìn tự thức (self-consciousness) trước hiện thực xã hội và hiện thực văn chương. Họ phải mạnh dạn thoát khỏi vỏ sò sợ hãi, khỏi ảo tưởng về một thứ văn chương thuần túy (xa rời hiện thực và phi chính trị). Họ cần phải bước ra khỏi túp lều mĩ học cũ kĩ, để thể hiện thoải mái hiện thực cuộc sống ở nhiều chiều.

Sự thể này đang xảy ra, ngày càng mồn một. Nổi bật và dễ nhận ra hơn cả của văn chương mươi năm qua là sự mờ hóa lằn ranh ngăn văn chương chính thống và phi chính thống. Mờ hóa đến nỗi hệ chính thống vốn bảo thủ đã không thể làm ngơ với nó nữa. Thơ nhóm Mở Miệng in photocopy hay Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh xuất hiện trên mạng tạo nhiều luồng dư luận trái chiều, buộc báo chí chính thống vào cuộc, là minh chứng không thể chối cãi.

Rất nhiều nhà thơ in thơ đã từ bỏ được thói quen xin phép, hoặc chỉ muốn xuất hiện bên lề. Thơ mạng, thơ photocopy, tập thơ tác giả tự in. Nói tiếng nói trung thực, thơ dũng mãnh cắt đứt lề thói cũ để lên đường khai phá lối thể hiện mới, và nhất là thơ không ngán ngại động cập đến khu vực, vấn đề lâu nay bị coi là nhạy cảm, húy kị. Thơ giành lại tự do cho chính mình.

* Trong một trao đổi ngắn, gần đây giữa chúng tôi với một vài văn sĩ; tôi đặt ra vấn đề ảnh hưởng của hậu hiện đại đối với họ, thì lập tức nảy sinh hai luồng kiến có vẻ ngược nhau. Loại ý kiến thứ nhất, thừa nhận rằng, trước khi sáng tạo họ đã được tiếp xúc với lí thuyết hậu hiện đại, nhưng họ lại chú thêm rằng “tôi không vay mượn cảm quan hậu hiện đại; sự vay mượn thủ pháp đối với tôi lại càng không”, vì nó nảy sinh một cách tự nhiên ở tôi hoặc chính tôi cùng các nghệ sĩ có cá tính khác không thể vay mượn một cách thô thiển các thủ pháp ấy được. Loại ý kiến thứ hai, tỏ ý thờ ơ trước các nhận định xếp họ vào nhóm các nghệ sĩ hậu hiện đại; tức họ luôn phủ nhận tính cách hậu hiện đại ở mình. Anh(chị) nghĩ sao về những hiện tượng này?

Nhà thơ Inrasara: Việc một nhà văn có hay không nhận mình ảnh hưởng lí thuyết hay sáng tác hậu hiện đại phương Tây là chuyện của họ, còn nhận ra yếu tố hậu hiện đại (cảm thức/ thủ pháp) trong tác phẩm họ là vấn đề của nhà phê bình. Có những nhà văn, nhà thơ sử dụng thủ pháp hậu hiện đại dù họ có thể chưa hoàn toàn viết với cảm thức hậu hiện đại. Cũng có người đẻ ra tác phẩm chẳng có mảy may yếu tố hậu hiện đại, nhưng họ cứ ngang nhiên kêu nó hậu hiện đại, đó cũng là việc của họ nữa…

Không nên ngạc nhiên nếu một nhà văn ít biết đến chủ nghĩa hậu hiện đại như Phạm Lưu Vũ nhưng vẫn viết được Luận ngữ tân thư không thiếu chất hậu hiện đại. Nhật Chiêu hiểu lí thuyết hậu hiện đại; lối văn chương của anh mang âm hưởng tư tưởng Phật giáo Thiền tông, nhưng qua đó không ít yếu tố hậu hiện đại có mặt. Còn Đặng Thân và Lê Anh Hoài thì rõ ràng hậu hiện đại rồi. Nói như Lê Anh Hoài đó là hậu hiện đại được Việt hóa, qua sáng tác tiếng Việt.

Nhớ rằng Cảm thức chủ yếu của hậu hiện đại là lối cảm nhận về thế giới như là một hỗn độn, con người bất tín nhận thức từ đó dẫn đến sự khủng hoảng niềm tin vào đại tự sự; Hành động cốt tủy của hậu hiện đại là giải trung tâm; Lối viết đặc trưng là giễu nhại; và cuối cùng Tinh thần văn phong của nó là tính phi nghiêm cẩn. Qua bốn đặc điểm vừa nêu, hậu hiện đại không là chủ nghĩa nghệ thuật thuần túy [như tượng trưng hay siêu thực chẳng hạn] mà là trào lưu văn hóa mang tính toàn cầu, tác động rộng lớn đến nhiều khía cạnh xã hội. Là chủ nghĩa thuần túy, người viết có thể muốn hoặc không vận dụng thủ pháp của nó vào sáng tác; còn ngược lại thì phải mang đầy đủ cảm thức hậu hiện đại, bạn mới hi vọng có sáng tác hậu hiện đại đúng nghĩa.

* Nếu đặt vấn đề mà chúng ta đang trao đổi vào bối cảnh văn hoá, lịch sử và xã hội Việt Nam, anh(chị) cho rằng diễn tiến và vận mệnh của văn chương hậu hiện đại Việt Nam những năm tới sẽ ra sao?

Nhà nghiên cứu Hải Lam: Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, văn học thế giới và văn học Việt Nam đứng trước những đổi thay chưa từng có. Sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương đã phá vỡ ranh giới của hàng loạt quan niệm mang tính định giá: về chủ nghĩa hiện thực, về vai trò của chủ đề tư tưởng trong tác phẩm, về tầm vóc và quy mô của các tự sự, về ranh giới giữa các thể loại và loại hình... Với những cách tân ở nhiều mức độ khác nhau của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh... (từ cuối thế kỷ XX) và Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận... (đầu thế kỷ XXI)..., nền văn xuôi Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong nỗ lực thay đổi để hòa nhịp cùng dòng chảy của văn học đương đại thế giới. Với những nỗ lực này, tôi nghĩ rằng dòng văn chương của những người cách tân theo hướng “hậu hiện đại hóa” (một trong ba khuynh hướng lớn của văn học đương đại) sẽ “chín dần” và trở thành dòng văn học chủ lưu trong tương lai.

Riêng với tiểu thuyết, như xu thế chung của tiểu thuyết phương Tây, tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI cũng đang ngày càng tiến gần đến với “truyện ngắn”, đến “thơ”, đến “tiểu luận triết học”… Sự giao thoa của các thể loại trong tự sự nghệ thuật đương đại, nói cho cùng là vấn đề “thu hút và biến đổi các thể loại khác” của tiểu thuyết - như Bakhtin đã từng nhận định. Nó gắn liền với bản chất, đồng thời cũng là cách tồn tại và phát triển riêng của thể loại đặc biệt này. Tất nhiên, công cuộc cách tân một thể loại/ một nền văn học không phải là một việc dễ dàng và nhanh chóng: trên đường đi của nó sẽ luôn có những thử nghiệm thất bại và những sáng tạo thành công. Song dù thuộc về kết quả nào, nó cũng sẽ là động lực thúc đẩy những nhà văn sau đó tiếp tục tiến lên để khẳng định bản lĩnh nghệ thuật cá nhân, đồng thời gián tiếp khẳng định thể loại và làm mới thể loại. Do đó, chặng đường mà những nhà văn như Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận… đang đi qua, có thể chỉ là điểm khởi đầu của một chặng đường mới, nơi cái đích cuối cùng chính là một chân trời khác của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Câu chuyện cuối cùng của vấn đề “cách tân nghệ thuật” chắc chắn sẽ không phải là câu chuyện: chúng ta đã và có thể tiến tới một nền văn học hoàn toàn “hậu hiện đại” hay không?

Nhà thơ Inrasara: Đóng vai thầy bói cho tương lai văn học, có khờ mới đi làm chuyện đó. Văn chương hậu hiện đại có mặt ở Việt Nam đã tạo dị ứng và phản bác dây chuyền. Người biết phản đối đã đành, ngay cả kẻ chưa tiếp cận lí thuyết hay sáng tác hậu hiện đại cũng té nước theo. Bao nhiêu hình dung từ tiêu cực đã đổ lên đầu hậu hiện đại. Từ người muốn bảo vệ quyền lợi, giữ vững ghế ngồi trên chiếu văn chương cho đến kẻ sáng tác mang tâm thế mặc cảm kì lạ là không muốn thấy thành tựu văn học của mình bị vượt qua; dị ứng từ nhà phê bình thủ cựu cho đến độc giả. Điều lạ là tôi chưa thấy ai chống đối có bài bản chính lí thuyết hậu hiện đại, mà chỉ phản đối sự có mặt của nó. Sự phản đối này không biết mình đang làm gì. Sáng tạo hậu hiện đại Việt Nam [nht là thơ ca] bị phân biệt đối xử bởi nhà văn nhà thơ thuộc hệ mĩ học cũ, bị kì thị bởi các cơ quan báo chí trong nước, còn các Đại học thì làm ngơ, từ đó các Nhà xuất bản không mặn mà với bản thảo của nó. Nhưng dù gì thì gì, văn thơ hậu hiện đại đã tồn tại như nó vẫn tồn tại từ hơn mươi năm nay. Vẫn ở ngoại biên như chính định mệnh của nó. Nhóm Mở Miệng lập nhà xuất bản Giấy Vụn để in thành sách các tác phẩm hậu hiện đại, các nhà văn hậu hiện đại khác đăng sáng tác trên mạng hay/ và in photocopy. Ít nhất cho đến nay đã có gần 30 tác phẩm có mặt dưới hình thức này. Chúng vẫn có cuộc sống của mình.

5 năm trước, Hoàng Ngọc-Tuấn tuyên bố đầy dự cảm rằng: "chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến ở Việt Nam" (báo Thế thao - văn hóa, 6-1-2004). Theo tôi, mươi năm qua, chính sự vận động của chủ nghĩa hậu hiện đại đã tạo nên sự sinh động và phong phú của văn chương tiếng Việt đương đại. “Sinh động và phong phú” kia không dừng lại ở một, hai trung tâm mà đang mở rộng ra các vùng miền, các thành phần, các thế hệ. Tôi tin rằng trong một tương lai không xa, văn học Việt sẽ là một nền văn học đa trung tâm.

Xin trân trọng cảm ơn!

Trần Thiện Khanh thực hiện
(Còn tiếp)

---------

(1) Văn Giá, Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây, http://evan.com.vn

(2. Kristjana Gunnars, Về những tiểu thuyết ngắn, http://evan.com.vn



Ø
Kỳ I. Câu chuyện về một kiểu cắt nghĩa xã hội (hay là chủ nghĩa hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan)


Ø
Kỳ II. Một cái nhìn về thực tiễn văn chương hậu hiện đại

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác