Đối sánh chân thực về người lính trên hai chiến tuyến

 

(Toquoc)- Có muôn vàn cách để nhìn lại một cuộc chiến tranh đã qua và cũng có những giá trị của con người, cuộc sống mà chiến tranh phải lùi xa thì người trong cuộc mới nhìn nhận được thấu đáo. Những điều giản dị và cao đẹp ấy, độc giả có thể tìm được trong cuốn sách “Thư chiến trường” của tác giả là hai người lính trên hai chiến tuyến Việt Nam và Mỹ: Thiếu tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Ngô Thảo và Trung tá Quân đội Mỹ Donald C.Lundquist.

Tìm hiểu về hoàn cảnh, tâm trạng của người lính khi viết thư, ý nghĩa của cuốn sách đối với tác giả trong thời bình, Báo điện tử Tổ Quốc đã thực hiện cuộc phỏng vấn với nhà văn Ngô Thảo- một trong hai người lính- tác giả những bức thư được in trong cuốn sách.

Displaying bia sachThu chien truong.jpg
Hai bìa tiếng Anh và tiếng Việt của cuốn "Thư chiến trường"
 

PV: “Thư chiến trường” là cuốn sách song ngữ Việt - Anh, tập hợp các lá thư viết về cho vợ con vào những năm mà cuộc chiến không cân sức Việt Nam và Mỹ đã và đang diễn ra, được các con của người lính Ngô Thảo và người lính bên kia chiến tuyến Donald C.Lundquist thực hiện. Mặc dầu ở hai trận tuyến đối địch, có thể nhận ra ngay điểm giống nhau của các bức thư trên, đó là sự gian khổ chiến trường, người lính luôn nỗ lực hết mình… và quan trọng hơn là lúc nào cũng hướng về gia đình, nơi có người vợ và người con bé bỏng ở quê nhà. Bất cứ lúc nào rảnh rỗi là viết thư cho vợ, rồi mong ngóng thư, tin tức từ vợ gửi cho mình. Vậy theo nhà văn Ngô Thảo, với người lính ra trận thì gia đình, người yêu, người vợ có ý nghĩa như thế nào?

Nhà văn Ngô Thảo: Cuộc chiến tranh của mình là cuộc chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, giải phóng đất nước. Nên việc người lính bắt buộc phải có mặt trên chiến trường là vì Tổ quốc, mà trong Tổ quốc đó có gia đình, đó là mục tiêu, mục đích quan trọng nhất. Với mình, gia đình gắn liền với vận mệnh đất nước. Đất nước còn chiến tranh, còn bị xâm lược, thì không thể có một gia đình riêng bình yên được.

Khác với những người lính Mỹ, họ là lính chuyên nghiệp, đi chiến trường là đi làm nhiệm vụ để lên cấp, lên lương, vì đó là một nghề nghiệp để kiếm tiền nuôi sống gia đình, xây dựng sự nghiệp. Còn gia đình ở một nơi khác, nghĩa là không có sự đồng nhất giữa gia đình và Tổ quốc.

PV: Vậy, giả sử trước khi vào chiến trường, người lính Ngô Thảo chưa có người yêu, rồi chưa có gia đình, vậy ông sẽ viết thư về cho ai?

Nhà văn Ngô Thảo: Ngoài thư tôi viết cho gia đình còn nhiều thư tôi viết cho bạn bè, em út, họ hàng. Vì mục đích khi làm sách, các cháu chỉ chọn in một ít thư gia đình. Còn thư gửi bạn bè thì có nhiều tâm thế lắm. Vì cuộc chiến đấu kéo dài, cùng với những năm ở chiến trường với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có người mình từng trách móc, giận dỗi, thậm chí ghét, thấy trong cuộc sống họ thế này thế khác, thì tự nhiên có một lúc nào đó, sau một trận bom hay một trận chiến đấu trở về thì lại nghĩ; sao mình có thể hẹp hòi thế, nhỏ nhen thế, chấp nhặt thế… người ta ứng xử như thế, người ta khổ sở như thế, hay ghen tị như thế cũng là do cuộc sống người ta thôi. Nên tự nhiên mình trở thành người độ lượng. Tôi đã viết thư cho những người bạn mà ngày xưa cảm thấy không thể nói chuyện được. Tôi cũng viết thư cả về cho sinh viên của trường Tổng hợp để nói về con đường đi phía trước của sinh viên ra trường, sau này cũng có nhiều người nhắc lại.

Nói chung là người lính luôn có nhu cầu đối thoại và được thể hiện trong rất nhiều các mối quan hệ khác nhau ở những tâm trạng khác nhau, ngoài người thân ruột thịt, bà con, còn bạn bè…

Displaying 3.jpg

 Gia đình Thiếu tá Ngô Thảo ngày ông trở về sau chiến tranh

PV: Khi đọc những lá thư được tập hợp trong “Thư chiến trường” của người lính ở hai chiến tuyến trên cùng một mặt trận, cùng một thời điểm, người đọc có cảm giác khó tìm được bức tranh chân thực của cuộc chiến. Dường như mức độ khốc liệt của chiến tranh đã được giảm đi rất nhiều để cho người ở hậu phương, người thân yêu của mình yên tâm. Với trường hợp của riêng ông, thì khi viết thư, chiến tranh đã bị giảm đi bao nhiêu phần trăm?

Nhà văn Ngô Thảo: Nếu nói rõ ràng bao nhiêu phần trăm thì khó lắm. Vì trước hết đây là thư mà là thư viết cho người yêu, cho vợ với mục đích nói về mình một cách chân thật, lại muốn để người thân, người nhận được không bị hoang mang, lo sợ nên cái tinh thần động viên là rất quan trọng. Nên sự thực của chiến tranh trong các bức thư này chỉ có một phần nhỏ. Thứ hai là tâm thế của người viết. Nếu như anh là người nông dân, viết cho vợ con ở quê nhà chắc sẽ có giọng điệu khác, người yếu đuối về tinh thần, bị ám ảnh chiến tranh thì sẽ viết theo cách khác. Còn đây chỉ là một kiểu và dù muốn tỏ ra vững vàng, suy cho cùng nó vẫn mang chất học trò.

Tôi nhiều lần đi chôn liệt sĩ, giữ lại, gom lại thư từ, di vật của người nằm xuống, có nhiều cô viết thư thật khủng khiếp, hay lắm và nhiều người không thể tưởng tượng được. Có cô vừa mới cưới chồng được một tuần đã phải ra chiến trường. Có những cô có người yêu mà chưa được gần gũi với người mình yêu viết thế này: Anh ơi, bây giờ em sung sức lắm, em tròn đầy lắm, em căng my lắm. Ước gì có thể gần để những nơi đó em luôn cảm thấy thân thiết có bàn tay của anh… Lúc đó không biết các đồng đội của tôi trả lời thế nào?

PV: Những thế hệ trẻ chưa từng trải qua chiến tranh đã thực sự bất ngờ khi đọc một số đoạn “tự vấn”, chẳng hạn: “không viết được tác phẩm như mơ ước, không có con mắt nhận xét, phán đoán, tấm lòng hẹp hòi, quả tim quá ít máu nóng, trí tuệ cằn cỗi, không có được những mảnh vụn tài năng… Hãy công bố sự đổ vỡ và đọc bản cáo chung của một ước mơ. Xin hỏi thật nhà văn, liệu thời đó có nhiều người lính “đổ vỡ” hay có một bản cáo chung của một ước mơ như Ngô Thảo không? Hay Ngô Thảo là cá biệt?

Nhà văn Ngô Thảo: Hồi tôi viết như vậy là đang nói về nghề nghiệp. Trước khi ra chiến trường tôi đã có một cái nghề, còn nếu lính tráng trẻ trung hơn thì đâu có tâm sự này. Tôi cũng không biết tâm sự này của mình có phải cá biệt hay không nhưng cái sự bất lực của bản thân dường như là sự thường trực của lớp trẻ, nhiều khi không làm được cái này cái khác như mong muốn, suy nghĩ. Tuy nhiên, tôi cho rằng đây là suy nghĩ của lớp trẻ biết tự phê phán và cái “rách việc” của bọn trí thức, đã làm việc này rồi cứ luôn trăn trở đến việc khác, nghĩ xa xôi vu vơ. Và đây cũng là cái lẽ để cho người ta sống và sống có ý nghĩa hơn, chứ không phải như lớp trẻ là một thứ công cụ, chỉ biết cầm súng chiến đấu ùng oàng mà còn đầy trăn trở. Có l vì thế mà bị coi là lãng mạn tiểu tư sản chăng?

PV: Giờ đây, khi tuổi đã cao, nhiều việc đã làm được, nhất là cho văn học nghệ thuật và được công chúng đón nhận, khi ngồi đọc lại những dòng thư ông thấy thế nào?

Nhà văn Ngô Thảo: Tôi chợt nghĩ, hoá ra mình cũng là người tử tế đấy chứ. Thế hệ chúng tôi được đào tạo ra sống vì nghĩa vụ là chủ yếu nên cái gọi là sự nghiệp tên tuổi cá nhân không phải nhiều người nghĩ đến. Chỉ có một sự nghiệp chung và trong sự nghiệp chung ấy làm sao mình là người sống xứng đáng, tử tế, nói như tên một cuốn sách phổ biến dạo ấy, là có một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Việc lo nghĩ cho cá nhân rất ít. Thứ nữa là từ một anh sinh viên mới ra trường luôn luôn nghi ngờ khả năng, năng lực của mình, và nhất là nhân cách, khí phách, nghị lực của chính bản thân, liệu mình có hèn, có nhát không, mình có sợ sệt không khi sống và chiến đấu ngoài mặt trận. May mắn là mình còn sống, còn nguyên vẹn trở về để làm được vài việc gì đó, trong đó có một phần để ghi giữ công lao, đóng góp của những nhà văn từng mặc áo lính và đồng đội của mình.

PV: Vậy cuộc sống chiến trường đã tôi luyện cho ông được điều gì mà nếu như không trải qua những năm tháng khốc liệt đó nhà văn Ngô Thảo không có được?

Nhà văn Ngô Thảo: Tôi thấy mình không kinh sợ khi đối diện với cái chết của người khác cũng như của bản thân mình. Một trong những thứ lo lắng, sợ sệt nhất của tuổi trẻ chính là phải đối diện với cái chết, thì nhờ cuộc chiến tranh này mà tôi coi cái chết hết sức bình thường. Cũng nhờ trải qua những năm tháng đó mà tôi nhìn nhận mọi chuyện trong cuộc sống không hốt hoảng, không cực đoan. Tôi luôn nhớ một câu của Nazim Hicmet: Cái chết là một trong những cuốn sách thấu lý nhất tôi đọc được ở đời. Mỗi khi nghĩ rằng, chúng ta ai rồi cũng sẽ chết, tôi lại tự hỏi, tại sao lại cứ luôn mất thì giờ ghen nhau, ghét nhau, đố kỵ nhau?. Có những việc mình làm không phải vì cái gì mà vì lương tâm mình thôi thúc. Cũng nhờ thế, mà sau khi ra quân, tôi còn có 20 năm làm việc ở mấy cơ quan thuộc Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, tuy không phải là diễn viên, đạo diễn hay tác giả, tôi vẫn sống hòa đồng được với những người tài năng, biết trân trọng tài năng, phẩm chất của họ và hình như không bị họ coi khinh mình là một người ngoại đạo.

PV: Khi quyết định in các bức thư riêng tư của mình thành sách cho công chúng đọc, ông có nghĩ, vị thế của mình ngày đó và hôm nay đã khác, cần phải cắt bỏ những chỗ không cần thiết không?

Nhà văn Ngô Thảo: Những người thực hiện cuốn sách này đều là các con của tôi và thiếu tá Donald C. Lundquist. Tôi hoàn toàn không biết gì và bị bất ngờ đến phút cuối. Các bức thư in trong cuốn sách cũng chưa phải là toàn bộ thư tôi có mà chỉ là những lá thư các con tôi tự gom nhặt. Ngay cả việc xin giấy phép xuất bản bên NXB Hội Nhà văn, nhà văn Trung Trung Đỉnh cũng được dặn là bí mật, không được báo cho tôi biết. Vì thế tôi không chủ động làm. Thư ở trong này không có biên tập. Khi tôi đọc lại và phát hiện ra một số đoạn do giấy viết thư cũ bị rách, bị mờ, do chữ bị lèm nhèm mà câu chữ nhiều trang chưa thật chuẩn.

Hôm ra mắt sách tại Sài Gòn, vợ chồng tôi còn đến muộn. Khi tôi cầm cuốn sách thì lại nhìn đúng mặt bìa in thư của Donald C. Lundquist nên tôi cũng chỉ nghĩ đơn giản là cuốn sách này đã được in trước đó rồi, chắc giờ in ở Việt Nam. Nhưng rồi mặt sau của cuốn sách lại là thư của tôi. Tôi rất bất ngờ. Các con tôi nói đây là món quà kỷ niệm 50 năm ngày cưới của bố mẹ. Đây quả thật là một món quà cả đời chúng tôi không dám chờ đợi.


Displaying 4.jpg

Gia đình Donald C.Lundquist trong ngày ông được thăng hàm Trung tá

 

PV: Trong “Thư chiến trường” ông từng nói: “Từ cầm súng đến chiến đấu là một khoảng cách khá xa” vậy thời gian thực sự khi bắt đầu vào quân đội cho đến khi ông cầm súng là bao lâu. Và khi cầm súng nghĩa là đối diện với hiểm nguy, trong đó có cả cái chết, có người chỉ mong mình là một anh lính làm chân sau, không phải cầm súng trực tiếp chiến đấu. Ông có bao giờ cảm thấy việc cầm súng của mình là hiếu chiến, nông nổi hay bồng bột không?

Nhà văn Ngô Thảo: Tâm lý của người lính gọi là hiếu chiến cũng đúng. Khi đi bộ đội, nhiều người chỉ ao ước có được hình ảnh quan trọng nhất, là làm người lính xung kích trên tay cầm khẩu súng với lưỡi lê đâm thẳng kẻ thù. Phàm đã là người lính có ý thức thì ai cũng muốn làm anh lính bộ binh với khẩu súng trường, cắm lưỡi lê xông lên. Và mình đâu biết, vào lính còn muôn vàn công việc khác nhau. Để có một đội hình chiến đấu cũng như mặt trận chiến đấu còn rất nhiều công việc phía trước, phía sau, có việc âm thầm lặng lẽ… Đến khi tôi được vào đơn vị pháo binh, lúc đầu là Cối 120 ly, sau chuyển pháo tầm xa bắn vài ba mươi cây số, khi ra bảo vệ bờ biển đã là việc khác rồi, sau Tổng tấn công 1968, mới vào chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên. Trước đó, phải đi làm rất nhiều việc, đầu tiên phải đi làm anh nuôi, đi làm tiếp phẩm, rồi mới về làm trinh sát, kế toán, đi đo đạc, tính toán để tìm ra trong thời gian ngắn nhất những con số gọi là phần tử để các pháo thủ thao tác từ lắp ngòi nổ, liều phóng, rồi điều chỉnh độ cao thấp của nòng pháo, phương vị ngắm tùy tốc độ gió, hướng gió, độ chênh độ cao giữa mục tiêu và trận địa đặt pháo, độ chênh nhiêt độ những nơi quả đạn pháo sẽ đi qua…. Sự phức tạp đó nó gây cho mình cảm giác vừa khó chịu vừa thú vị. Rất nhiều người đi bộ đội mà cả đời không biết cầm súng là gì. Còn cái chết ở chiến trường thì có thể đến bất cứ lúc nào, không cứ người cầm súng ra mặt trận mới đối diện với cái chết, ốm đau, sốt rét bệnh tật, tai nạn rắn rết, bom rơi đạn lạc v.v… Có khi vừa mang nhau đi chôn, chưa kịp chôn lại một đợt bom nữa dội xuống, lại chết thêm mấy người nữa. Do điều kiện cụ thể, mà ở chiến trường B4 hơn bốn năm mà tôi chỉ tham gia chiến đấu có 23 trận, trong đó có 13 trận là trực tiếp chiến đấu, nhưng cũng không phải là cầm súng, mà là chỉ huy đơn vị bắn mà thôi. Đơn giản là ngoài mặt trận, mình không bắn trước, bắn trúng thì đối phương sẽ bắn nh, không có chuyện hiếu chiến hay bồng bột gì ở nơi mũi tên hòn đạn cả.

PV: Khi đọc thư chiến trường của người lính Ngô Thảo rồi đọc thư của thiếu tá Donal C. Lundquist rồi so sánh, chắc hẳn độc giả khó kìm nén được xúc động. Một bên ăn đói mặc rét, ngủ hầm dầm mưa, rồi lao động cật lực đến phát ốm, người xanh xao vẫn phải cố. Những đồng tiền của người lính không đủ để mua thêm chiếc bánh chống chọi với cái đói hoành hành triền miên rồi chỉ mơ ước mình được cầm súng chiến đấu thực sự. Còn một bên thì đồ ăn thượng hạng, đồ hộp từ Mỹ đóng gói chuyển sang. Không những không phải đối mặt với cái đói và họ còn mang tiền về cho gia đình để mơ ngày đoàn tụ được sống trong vật chất đủ đầy. Đây là bản so sánh đối chiếu chân thực vô cùng ý nghĩa và quý giá. Khi nhìn lại cuộc chiến, ông thấy sự đối lập này có ý nghĩ như thế nào với ông?

Nhà văn Ngô Thảo: Khi đọc lại thư của mình và thư của Donal C. Lundquist và con gái thì cảm giác bây giờ của tôi… hơi buồn cười. Trong cuộc chiến đấu rất không cân sức, tính về vũ khí, điều kiện chiến đấu… thì bên kia họ hoàn toàn chủ động, cái gì của người ta cũng đầy đủ… còn bên mình là bị động. Mình chủ động trên đất nước mình mà lại hoàn toàn bị động, từ di chuyển, điều kiện sinh hoạt, luôn luôn thiếu đói, nơm nớp đạn bom.

Tuy nhiên, hai người lính lại có những điểm giống nhau. Trước hết, với tư cách hai người lính thì hai người lính rất nghiêm túc, nói theo khẩu ngữ nh tráng là: không kêu ca, không thắc mắc, người lính chỉ biết hành động. Thứ hai là nghĩ về gia đình rất giống nhau, tình cảm đối với bạn bè đầy đặn. Cái khác là bên kia viết thư thì thoải mái hơn, còn bên này, vừa nói vừa tự kiểm duyệt và đề phòng kiểm duyệt để khỏi lộ bí mật quân sự. Nếu không cẩn thận, thư của mình bị rơi vào tay bên kia thì rất nhiều bí mật về phiên hiệu đơn vị, tình trạng trang bị, sức khỏe, số lượng chiến sĩ, tình trạng tinh thần… bị lộ. Còn bên kia viết thì họ chắc chắn không ai động vào thư cả. Vì thế nội dung của hai người lính trong tâm thế rất khác nhau. Và còn là hai nền văn hóa khác nhau nữa.

Cuối cùng tôi thấy, hai thằng đàn ông ở hai bên, mục tiêu chiến đấu, lý tưởng chiến đấu khác nhau nhưng đều có ý thức làm người đàn ông đàng hoàng, làm nghĩa vụ cho đàng hoàng, sống với gia đình rất đàng hoàng. Và điều đáng tiếc nhất là tự nhiên hai người đánh nhau, từng là kẻ thù của nhau. Cho nên đó là bi kịch của chiến tranh. Những người hoàn toàn có khả năng làm người tử tế lại phải đi đánh nhau, giết nhau trong một cuộc chiến rất tàn khốc. Mình không bao giờ phân vân mục đích chiến đấu của mình, còn người lính bên kia đi chiến đấu khá phân vân. Vì họ là người lính chuyên nghiệp, là đời binh nghiệp nên phải tính từng ngày với các thành tích huân chương huy chương, còn mình không phải là nghề, không phải làm suốt đời, hết việc này mình đi làm việc khác.

Đáng lý, những thứ này nó vùi sâu vào quá khứ, nhưng thế hệ sau - những người con của họ lại khơi lên và thành một chuyện mới mẻ. Đôi khi nó cũng giúp cho bản thân những người con, và rộng ra là những ai có dịp đọc nó, hiểu thêm về một góc nào đó của cuộc chiến đã qua.

* Xin cảm ơn nhà văn!

Hiền Nguyễn (thực hiện)

 

Bà Vũ Thị Bích Lộc - vợ nhà văn Ngô Thảo

Trong những năm tháng chồng đi chiến đấu, tôi chỉ nhận được rất ít thư của chồng. Tôi cũng hiểu vì hoàn cảnh chiến tranh, đường dây không thông suốt nhưng rất mong tin tức của chồng, dù chỉ là một vài dòng cũng cảm thấy yên tâm, an lòng. Lâu lâu không thấy thư thì lo lắm.

Đọc lại những lá thư của chồng được tập hợp trong một cuốn sách và được công bố cho độc giả mặc dù không còn cảm giác hồi hộp như ngày xưa nhưng tôi rất cảm động, bất ngờ vì món quà con cái làm cho mình.

Khi đọc hết thư của Donal C. Lundquist tôi thấy người lính bên kia họ sướng quá, điều kiện sống và tác nghiệp đầy đủ hơn người lính của ta. Họ viết thư về cho gia đình rất nhiều, trong khi mình phải rất lâu mới nhận được một lá thư.

Nhưng tôi cảm động và nhớ nhất là khi hai mẹ con bắt xe vào thăm chồng năm 1969, khi đơn vị ra an dưỡng, mà nói đúng hơn là chạy đói ra phía Tây Quảng Bình, một vùng gần Vĩnh Linh, quê của anh ấy. Hai mẹ con phải bắt xe nhiều chặng mới vào được bến xe Cộn đang sơ tán. Buổi tối không có chỗ ngủ, hai mẹ con phải ngủ ở cái chuồng trâu. Phương tiện liên lạc duy nhất là nhắn các anh bộ đội tôi gặp số hòm thư của đơn vị anh ấy. Sau một đêm, một ngày ở chuồng trâu thì cũng gặp được nhau... Nhìn anh ấy da xanh, người gầy, mắt thì trũng sâu rất thương. Lúc đó, Bích Hiền, con gái đầu của chúng tôi mới lên ba. Ai cũng bảo tôi liều… Thì vợ lính mà.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác