Đôi nén tâm hương dâng Miếu Đền lịch sử

Vân Long

(Toquoc)- Mùa xuân ở nước ta, sau mấy ngày đầu năm dành cho gia đình, cái thú của nhiều người là đi lễ ở các Đền, Chùa nổi tiếng hoặc gần gũi quanh vùng ta sinh sống. Các văn nhân từ xưa càng yêu thích thăm viếng những Đền, Miếu thường ghi lại dấu ấn lịch sử của một thời, họ thường đi thành từng nhóm, giao lưu ngâm vịnh, có người cất bút đề thơ, có người để lại đôi câu đối mà câu chữ có lúc thăng hoa, bay bổng chẳng kém những câu thơ nổi tiếng. Với họ đây là những nén tâm hương dâng lên tiền nhân trong dịp đất trời tươi mới, khi một năm mới lại bắt đầu…

Đôi nén tâm hương dâng Miếu Đền lịch sử - ảnh 1Các nhà thơ hôm nay vẫn tiếp tục cái “gien” du ngoạn khói hương và khói sương như vậy. Những năm 60, 70, 80 thế kỷ trước, kể cả những năm Hà Nội còn bộn rộn những hồi còi báo động máy bay Mỹ quấy phá, tôi thường được tháp tùng các nhà thơ đàn anh, tiêu biểu là bộ ba Quang Dũng, Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện sang thăm nhà bạn thơ Thanh Hào bên thôn Bắc Biên, xã Ngọc Thụy, Gia Lâm và không năm nào không đến thăm ngôi đền sở tại.

Ngôi đền không chỉ hấp dẫn chúng tôi ở dáng vẻ rêu phong, rợp bóng đa cổ thụ, mà chủ yếu lại là đôi câu đối bằng chữ Hán khắc ngay cửa đền. Ông đồ tân học, nhà thơ Trần Lê Văn đã đọc cho chúng tôi nghe:

Khúc kính, vân thâm, tăng lạp trọng

Nhàn môn, hoa lạc, khách hài hương

Trần Lê Văn dịch ứng khẩu thành đôi câu thơ tuyệt tác:

Ngõ khuất, mây sâu, sư nặng nón

Cửa nhàn, hoa rụng, khách thơm giầy

Đôi câu đối ấy hẳn là của một tài thơ cự phách, chỉ tiếc người giữ đền và lịch sử ngôi đền không để lại dấu tích gì để biết tác giả là bậc danh nho nào.    

Mây dẫu có dầy (mà tác giả gọi là mây sâu) cũng chả có trọng lượng nào, mà tưởng như đang đè nặng nón nhà sư; hoa rụng nhiều làm cho đất cũng thơm thì giầy khách cũng như được ngát hương. Đó là sự thăng hoa ngôn ngữ và ý tưởng của thơ, hiếm khi gặp ở những đôi câu đối khác! 

Đôi câu đối tài hoa ấy như gạch nối, nối bậc tiền nhân ngoạn cảnh từ thời Lê, thời Nguyễn nào với chúng tôi, thì bản dịch của Trần lê Văn (khi những Quang Dũng, Trần Lê Văn đã vào khói sương lịch sử) lại thành dấu nối, nối thế hệ thơ chống Pháp của các ông với chúng ta ngày nay!

Nhà thơ  không có óc tưởng tượng bay bổng, không thành nhà thơ.

Nếu sự so sánh mở rộng không gian cho nhà thơ bằng cách phát hiện được mối tương quan giữa các sự vật thì cảm thức lịch sử của nhà thơ lại mở cho người đọc biên độ không cùng của thời gian.

Nhớ chuyện nhà thơ Khương Hữu Dụng lúc sinh thời, rất tâm đắc hai câu thơ này của mình:

Bàn cờ thế sự quân không động

Mà thấy quanh mình nổi bão giông                  

(Côn Sơn )

Nhưng một chữ trong câu thơ cũng làm nhà thơ mất ăn mất ngủ: nổi hay là nỗi đây ? Nổi bão giông nói được cái ý : Trời đất đang bình yên nhưng khi nhà thơ bước lên Côn Sơn, chạm đến vùng đất cụ Nguyễn từng sống, từng nhận về mình bao khổ đau, oan khuất thì trời như nổi bão trong cảm nhận của thi sĩ.

Còn thay bằng nỗi bão giông thì bao đau khổ oan khuất ấy  đã được mã hoá tồn tại cùng với trời đất Côn Sơn, khiến ai chạm vào vùng phủ sóng đó đều phải bàng hoàng chia xẻ nỗi đau với người xưa.

Hai ý tưởng có hai cách hay khác nhau làm già Khương không nỡ nghiêng hẳn về phía nào, “nổi và nỗi” của cụ tạo nên hiện tượng “thôi, xao”  trong  thơ Việt.

Nhà thơ trước khi đến nơi nào đều đã có sẵn một ý niệm về vùng đất ấy.Với tôi, tôi thường tô đậm hơn nữa ý niệm ấy bằng cách đọc lại, đọc kỹ những đặc điểm lịch sử, địa lý nơi mình sắp đến. Trên cái nền biết sẵn đó, đến thực địa mình “ngộ” thêm điều gì mới thì cái mới ấy là cần cho độc giả.     

Tôi trọng cái dấu hỏi triết học trong bài Trước tượng Bayon của nhà thơ Hữu Thỉnh.                           

Bayon quay mặt vào tôi

Còn ba mặt nữa với người đâu đâu

Cỗ xe chớp bánh trên đầu

Nụ cười đặt giữa binh đao nói gì ?

Hai câu đầu đậm tính thời sự một cách hình tượng: Đất nước này đâu chỉ bắt tay bè bạn với ta! Hai câu sau nhà thơ đã khái quát cao ở tầm triết học sự trường cửu của nghệ thuật với tính nhất thời của các cuộc chiến tranh.

Đó mới là tứ thơ, tư tưởng của nhà thơ, còn cái cao diệu thuyết phục người đọc bằng thơ nhiều khi chỉ nhờ một hình tượng, một chi tiết thơ độc sáng. Với tôi, đó là câu thứ ba Cỗ xe chớp bánh trên đầu. Đó là một cỗ xe ảo, cỗ xe thời gian, cỗ xe lịch sử nên nó không lăn mà chớp bánh. Vào một tác giả thơ thấp tầm, tứ thơ hay sẽ bị uổng phí nếu xử lý câu không cao tay. Câu ba nhẩy vào bài một cách đột ngột không cần lý giải đã đánh giá cao người đọc. Cần nghĩ một chút, khi hiểu ra ta thấy sảng khoái hơn là nhà thơ áp đặt, giải thích kỹ càng. Đó là đoạn thơ hay cả về tứ, về tầm tư tưởng đến cách thể hiện. Có nhậy cảm thời sự của nhà chính trị, có tầm xa của ngườì làm văn học, triết học.

Học thày học bạn, đôi lúc tôi cũng “bắt được” mấy câu chứa đựng cảm thức lịch sử như vậy. Thí dụ, hôm ghé thăm đền thờ An Dương Vương, trên trời đầy mây trắng bị gió đánh tả tơi, tôi mường tượng tới những chiếc lông ngỗng của Mỵ Châu dẫn đường cho Trọng Thủy. Chính một chi tiết thơ đã dẫn đường cho tứ thơ. Cái còn lại của nghệ thuật có khi lại là chi tiết ấy, chứ không phải sự nghĩ suy lý tính mà nhiều người có thể nghĩ giống thế.

Mây tơi tả đầy trời lông ngỗng trắng

Dẫn tôi băng sỏi đá đến thăm đền

Tình thơ dại đụng mưu đồ vương bá

Quên mọi vương triều, nhớ một oan khiên !

(Đề đền thờ An Dương Vương - Vân Long)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác