Đôi điều về chữ NHẪN

Võ Xuân Tường

Bây giờ người ta nhắc nhiều đến chữ "Nhẫn". Mỗi người sử dụng nó một kiểu, hiểu nó theo một cách khác nhau.

Có người coi nó đồng nghĩa với câu phương ngôn: “Một điều nhịn chín điều lành". Trong gia đình, nhẫn nhịn để có "cơm lành, canh ngọt", để có thuận hòa, chín bỏ làm mười để xóm làng hòa mục, cộng đồng yên vui. Có kẻ chịu nhẫn nhục như Hàn Tín, chịu chui qua háng anh hàng thịt, chẳng chấp gì bọn tiểu nhân để chúng không gây khó dễ cho con đuờng lớn phía trước của mình. Câu Tiễn chịu nếm phân Phù Sai để nuôi chí phục Việt- diệt Ngô, phải nhẫn nhục vì thời cơ chưa đến với cái triết lí: Quân tử báo thù mười năm chưa muộn... Cũng có kẻ sống theo kiểu "Ma-kê-no", có người thì "nghe như chọc ruột tai làm điếc, giận đã căm gan mỉm miệng cười... "Chưa ai xác định rõ ràng giới hạn của sự nhẫn nhục đến đâu thì được coi là tài trí sáng suốt, đến đâu thì bị coi là kẻ hèn, kẻ u mê nhút nhát nhưng nếu chịu khó đọc trong sử sách xưa nay thì thấy rõ cái "Nhẫn" của kẻ đại trí, đại dũng khác xa với cái hèn nhát của kẻ "mũ ni che tai", đội lên đầu chữ nhẫn để nhắm mắt làm ngơ, cầu an bảo mạng của kẻ tài hèn trí đoản. Xin chép ra vài chuyện lượm lặt trong sử sách xưa nay để mọi người chiêm nghiệm:

Đôi điều về chữ NHẪN - ảnh 1Sử Tàu xưa có chép rằng: "Vị Thiền vu Hung nô là người có chi lớn. Một hôm, Quốc vương Đông Hồ, một nước láng giềng giầu mạnh phái sứ giả tới, ngỏ ý muốn xin con ngựa thiên lí mã của Thiền Vu Đầu Mang (Vua cha của Mặc Đột vừa chết). Mặc Đột triệu tập quần thần lại để hỏi ý kiến.Quần thần đều nói:

Thiên lí mã là ngựa quí của Hung nô, vậy làm sao dâng cho kẻ khác được?

Thiền Vu Mặc Đột không nghĩ vậy, nói:

- Họ là lân quốc của chúng ta, vậy sao ta lại tiếc một con ngựa?

Thế là Mặc Đột đem con thiên lí mã tặng cho Đông Hồ. Vua Đông Hồ thấy Mặc Đột tỏ ra nhu nhược, nên không bao lâu sau lại yêu cầu:

- Xin đem Yên Thị của Thiền Vu Mặc Đột tặng cho tôi.

Yên Thị là vợ chính thức của Thiền Vu. Mặc Đột lại triệu tập quần thần để trưng cầu ý kiến. Quần thần đều nói:

- Vua Đông Hồ quả vô lễ thái quá,cả gan đòi tặng Yên Thị của Thiền Vu cho hắn, vậy xin cử binh đánh Đông Hồ để rửa cái nhục này.

Mặc Đột khuyên mọi người rằng:

- Là một nước láng giềng, vậy sao chúng ta lại tiếc rẻ chi một người đàn bà?

Thế là Mặc Đột đem người vợ yêu quí của mình tặng cho Đông Hồ. Thấy vậy, vua Đông Hồ càng thêm kiêu căng, bèn đòi hỏi về lãnh thổ đối với người Hung Nô:

- Giữa Hung Nô và nước chúng tôi cách nhau một vùng đất hoang vậy xin cắt nó về cho chúng tôi sẽ tốt đấy.

Lúc bấy giờ giữa Hung nô và Đông Hồ cách nhau một vùng đất hoang vu không người cư trú,rộng ngoài một nghìn dặm. Đông Hồ bảo là "đất bỏ hoang" chính là muốn chỉ vùng đất này.Mặc Đột trưng cầu ý kiến của quần thần, có người nói:

- Với miếng đất bỏ hoang đó cho họ cũng được, mà không cho cũng chẳng sao.

Mặc Đột nghe qua cả giận, nghiêm giọng trách rằng:

- Đất đai là cơ bản của một quốc gia, vậy làm thế nào để dâng cho người khác được? Ai đem số đất đó dâng cho chúng, ta sẽ chặt đầu!

Dứt lời, Mặc Đột nhảy lên lưng ngựa, nói với lại:

- Ai chậm hơn ta, sẽ bị chém đầu!

Thế là họ cử đại binh tiêu diệt Đông Hồ, một kẻ có đầu óc xâm lược kiêu căng!( Theo Lưu Huy trong "những mẫu chuyện nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc... Phong Đảo dịch)

Vì vua cha vừa mất, trong nước còn nhiều bê bối, vì muốn có hòa bình, muốn giữ tình hòa hiếu với lân bang, Thiền Vu Mặc Đột đã chịu Nhẫn nhục, chịu hy sinh những gì thiêng liêng quí báu của gia tộc mình, cả danh dự của bản thân mình nhưng khi kẻ thù động đến bờ cõi, đến cương vực quốc gia thì không một người yêu nước nào lại có thể cúi đầu nhẫn nhục dâng hiến cho bọn xâm lược được. Giới hạn của chữ "Nhẫn" là ở đấy.

Rõ ràng, đối với một dân tộc, giới hạn của chữ "Nhẫn" là không thể hy sinh nền độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Vua Lê Thánh Tông của chúng ta (1460- 1497) cũng từng nói: "Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được. Nếu người nào đem một thước, một tấc đất của Vua Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc thì người đó sẽ bị trừng trị nặng..." (Lịch sử các Triều đại Việt Nam tr.185).

Chúng ta cũng từng được nghe cái hào khí sôi sục của lòng yêu nước ấy khi giới hạn của chữ "Nhẫn" bị vượt qua trong hịch tướng sĩ văn của Trần Hưng Đạo: "Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ tiếc rằng chưa dược xả thịt lột da quân cướp nước..."

Cái hào hùng bất khuất của lòng yêu nước ấy còn vang vọng trong lòng của mỗi người dân Việt bằng những lời tuyên bố trịnh trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước toàn thế giới: "Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước" (Hồ Chí Minh Tuyển tập- tr469). Chúng ta muốn có hòa bình, chúng ta đã có nhiều nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng bọn xâm lược với lòng tham vô đáy càng lấn tới, để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi vang dậy núi sông: "Không, chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". (Sđd-tr480)

Chữ "Nhẫn" được bao đời nay tôn thờ trong phép xữ thế là chữ "Nhẫn" của Thiền Vu Mặc Đột, của Hưng Đạo Đại Vương, của vị lãnh tụ đại trí, đại dũng, danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh, một chữ nhẫn có nguyên tắc, có giới hạn, không phải là chữ nhẫn lòe loẹt sơn son thếp vàng bán ở Hàng Mã mà bọn người cơ hội mua về treo trên tường nhằm che dấu sự nhu nhược yếu hèn của mình.

 

Hà Nội, đêm 19.12.2007

(Văn nghệ- Số Tết Mậu Tý)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác