Doanh nghiệp VHNT trong cơ chế thị trường và hội nhập

Ngô Thảo

(Toquoc)- “Hội nhập” là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển. Trong lĩnh vực kinh tế chúng ta đã quá quen với cụm từ này, tuy nhiên trong lĩnh vực văn học nghệ thuật khái niệm này có vẻ mới và vẫn là barie khó vượt qua với giới văn nghệ sĩ.

Từ quan điểm của một doanh nghiệp hoạt động lâu năm trong lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật với những phân tích nhạy bén về hiện tình hoạt động VHNT Việt Nam, chúng ta hãy tìm câu trả lời cho câu hỏi: Liệu đó có là những quan điểm đúng đắn cho việc “mở đường” đúng lúc và đúng cách để VHNT Việt Nam hội nhập với thế giới?

Nhận định về hiện tình hoạt động văn học nghệ thuật mấy năm gần đây:


1.
Vị trí VHNT trong đời sống xã hội đương đại: như nhiều cấu trúc khác, trong cơ chế một xã hội dân sự hướng về dân chủ, VHNT chịu áp lực của xu hướng giải thiêng: Vầng hào quang được hình thành trên tập hợp những thành tựu quá khứ không thể giúp cho thế hệ văn nghệ sĩ hôm nay sống mà không tiếp tục sáng tạo những tác phẩm mới. Và đến lượt các sáng tác đó bằng chất lượng, tính hữu ích, hữu dụng với xã hội, xác định lại vị trí, vị thế, giá trị của văn nghệ sĩ.

Trong sự sa sút uy tín, vị thế xã hội của người làm văn nghệ hiện nay, trước hết phải tìm nguyên nhân ở tài năng, tầm vóc, thành quả sáng tạo và tác động xã hội của đội ngũ các văn nghệ sĩ hiện có. Lớp đã trưởng thành, dẫu nhiều người vẫn tiếp tục công việc sáng tạo, có người năng suất cao, nhưng vẫn là tiếp tục cày bừa trên một mãnh ruộng cũ với công cụ và hạt giống cũ, trong khi thị hiếu, khẩu vị của công chúng đã đổi khác.

Lớp trẻ, đa số có năng khiếu, sớm có sản phẩm trình diện, nhưng có vẻ chậm lớn, chậm trưởng thành. Thế hệ trước, nhiều người lập nghiệp thành danh trước tuổi ba mươi. Nay, điều kiện học tập, không khí sáng tạo, phương tiện phổ biến tác phẩm hơn xưa rất nhiều, mà có mấy tên tuổi định hình sự nghiệp qua tác phẩm ở độ tuổi ấy? Có cảm nhận, ngày nay, nhiều người có khả năng sáng tác, làm được và được làm những gì mình muốn, thậm chí anh hoa phát tiết trên nhiều loại hình… Nhưng thật ít người đi đến nơi đến chốn, tính chuyên nghiệp không cao, trí thức và trải nghiệm không có bao nhiêu sức hấp dẫn và thuyết phục với công chúng!

2. Lực lượng tham gia sáng tạo VHNT đông, nhiều thế hệ, tác phẩm đa dạng, đa sắc, nhưng không cấu trúc được một toà tháp có đỉnh cao. Cánh đồng nghệ thuật đầy hoa thơm, cỏ lạ nhưng rặt một loại cây thân mềm, ngắn ngày. Trong khi một nền VHNT lớn còn cần nhiều cây cao bóng cả, loại cây mà ba cây chụm lại thành hòn núi cao.

Có thể tìm thấy nguyên nhân nhãn tiền qua nền nông nghiệp hiện đại: Gần như toàn bộ giống lúa VN hôm nay là giống lai và nhập ngoại về, ngắn ngày, năng suất cao, nhưng tuổi thọ ngắn, nguy cơ thoái hoá nhanh. Nền văn nghệ hiện nay có lẽ cũng ở tình trạng tương tự: Các tác phẩm VHNT kể cả tác giả và tác phẩm hàng đầu với những tìm tòi, cách tân xem ra vẫn thật thà, đơn nghĩa và thiếu một tầm trí tuệ ở một thời điểm cho phép người sáng tạo một cơ hội muôn một để có.

3. Tâm lý xã hội và cả cơ chế chính sách cụ thể hiện nay xem ra coi trọng và khuyến khích cách sống nặng về HƯỞNG THỤ , đáp ứng nhu cầu giải trí, coi trọng phát triển thể thao để có các thành tích trước mắt hơn hẳn văn học nghệ thuật, từ cơ sở vật chất, kỹ thuật, lực lượng, đến kinh phí đào tạo và hoạt động. Mà ai cũng biết, thành tích thể thao, các kỷ lục chỉ có giá trị trong một khoảnh khắc, một thời điểm.

Còn một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc thì trường tồn.

(Kinh phí hoạt động hàng năm của một Hội sáng tạo VHNT có hàng ngàn hội viên hiện nay thua xa một đội bóng chuyên nghiệp với vài ba chục cầu thủ!)

Tâm lý Hưởng thụ của công chúng (và không chỉ của công chúng và cả dư luận còn thể hiện ở việc thiếu một ý thức, một hành lang hỗ trợ, giúp đỡ và bảo vệ các sáng tạo nội địa xuất phát từ lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc để tham gia đồng sáng tạo một nền nghệ thuật Việt Nam hiện tại. Ngay cả các nước phát triển, trong kinh tế cũng như văn hoá, luôn có ý thức lập một hàng rào bảo vệ hàng nội, những nguyên tắc của nền văn hoá nội địa. Sự nhập siêu về văn hoá, các sản phẩm văn hoá đa chủng loại hiện nay không chỉ tạo thói quen sử dụng những sản phẩm vượt khả năng hiện có, mà còn chèn ép, làm nản lòng, đi đến đánh bại nhiệt tình sáng tạo của văn nghệ sĩ trong nước. Đây là điều các cơ quan có trách nhiệm về chiến lược văn hoá quốc gia cần quan tâm.

4. Nâng cao trình độ trí thức cho đội ngũ sáng tạo: Mấy chục năm gần đây, Hội Nhà văn Việt Nam có một cách tổ chức các Hội đồng xét khen thưởng rất đặc biệt: Nhà văn chấm văn, nhà thơ chấm thơ, nhà dịch thuật và lý luận phê bình cũng vậy. Điều kinh ngạc là qua mấy nhiệm kỳ đại hội mà những người có trách nhiệm lập ra và tham gia các Hội đồng ấy không hề kinh ngạc về cách tổ chức của mình. Có sự tự kỷ ám thị? Có sự khinh bỉ công khai đối với Hội viên lý luận và phê bình? Không ít nhà văn không che dấu niềm tự hào về sự ít học, ít đọc của mình.

Tài năng là điều kiện đầu tiên, nhưng để thành một tác giả lớn, sáng tạo được những tác phẩm lớn không thể thiếu học vấn, trí thức. Biển học thật vô cùng. Có bao nhà văn trẻ hôm nay có ý thức và quyết liệt trang bị cho mình một phần vốn tri thức ấy trên con đường sáng tạo?

Một quan sát cụ thể: Năm nay có ba cuốn tiểu thuyết viết về xã hội VN thế kỷ qua:

- Dưới chín tầng trời- Dương Hướng

- Thời của Thánh Thần- Hoàng Minh Tường

- Cuồng phong- Nguyễn Phan Hách

Chúng tôi không đánh giá chất lượng từng tác phẩm. Điều thấy rõ là có sự đồng nhất, thống nhất đến lạ lùng giữa ba tác giả cùng thế hệ trong cách phản ánh, nhìn nhận, phân tích các hiện tượng lịch sử và cách cấu trúc không gian, thời gian, hệ thống nhân vật làm nên một cuốn tiểu thuyết.

Chính trong sự tự do sáng tạo độc lập, ba nhà văn đã tự bộc lộ sự giống nhau đến lạ lùng trong phương pháp sáng tác và tư duy sáng tạo. Điều đó có thể giải thích họ có một nền tảng tri thức giống nhau của một thuở quen hát đồng ca.

Cá tính sáng tạo, biện pháp nghệ thuật, chiều sâu triết lý từ trải nghiệm lịch sử phải được xây dựng từ một vốn trí thức sâu rộng về xã hội, lịch sử, và tâm lý con người.

Những nhận xét sơ sài đó, dẫn tới một đề nghị bức thiết: Đảng, Nhà nước không chỉ vạch chủ trương chính sách, mà còn phải trực tiếp làm công tác tổ chức.

+ Phát hiện và đào tạo đội ngũ nhân lực cho sáng tạo Văn học nghệ thuật. Cần có chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành. Đào tạo ở đâu? Thời gian? Tìm nguồn thầy ở đâu? Tìm người đi học ở đâu? Trang bị vốn tri thức văn hoá dân tộc truyền thống đến đâu? Tiếp xúc và tiếp nhận vốn kiến thức quốc tế ở đâu?

+ Dự kiến nơi sẽ sử dụng sau đào tạo? Con số chỉ là hàng trăm chứ không đến hàng chục ngàn như đào tạo tiến sĩ, nhưng sử dụng nhân lực sáng tạo lại không thể rập khuôn theo qui chế hành chính sự nghiệp.

+ Tạo điều kiện và tổ chức cho văn nghệ sĩ sáng tạo. Đây là việc chúng ta đã và đang làm. Nhưng môi trường và không khí xã hội hiện nay đòi hỏi có những phương thức mới, vừa đề cao nhân tố lý tưởng tinh thần nhưng cũng không thể xem nhẹ việc đãi ngộ và trả công xứng đáng.

+ Sử dụng các thành quả sáng tạo: Đưa được các sản phẩm văn hoá tới các địa chỉ cần thiết. Thông qua đầu tư, giải thưởng, danh hiệu để định hướng cho sáng tạo và xác định, khẳng định những giá trị mới.

*

* *

Góp phần làm nên sự năng động, phát triển về số lượng, thay đổi về chất lượng, tạo nên một thị trường VHNT đa sắc màu, giàu cấp độ, là sự xuất hiện một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp, công ty VHNT tư nhân bởi chủ trương xã hội hoá. Từ ngày có hành lang pháp lý cho phép hoạt động, ở tất cả các ngành VHNT đều có những hình thức tổ chức của tư nhân để tham gia kinh doanh các sản phẩm hàng hoá: Mỹ thuật có các galery; Âm nhạc có các hãng thu băng; đĩa; Các lò đào tạo ca sĩ các phòng trà; sân khấu biểu diễn; Sân khấu có các câu lạc bộ; nhà hát sân khấu nhỏ; Điện ảnh và truyền hình có các công ty Truyền thông; quảng cáo; hãng phim; rạp chiếu phim; Văn học có các công ty sách; nhà sách; kiến trúc có các công ty thiết kế; vv…

Do phải tự bỏ vốn kinh doanh, và bảo toàn vốn để phát triển, các công ty phải sản xuất theo yêu cầu thị trường, để hàng hoá sản xuất ra phải tiêu thụ được. Do đều ở thời kỳ mở đầu, nguồn vốn ngắn, nên để chắc ăn, họ phải sản xuất những mặt hàng có thể tiêu thụ nhanh, sớm thu hồi vốn. Đây là điểm khác nhau căn bản giữa các doanh nghiệp tư nhân và các cơ sở VHNT nhà nước và đoàn thể được bao cấp bằng kinh phí nhà nước. Đối với các đơn vị này, đã có lương cho người lao động, có kinh phí sản xuất, nên sản phẩm làm ra có phù hợp yêu cầu công chúng , có tiêu thụ được hay không không ảnh hưởng tới đời sống và sự tồn tại của đơn vị. Đó là việc xảy ra với các vở diễn sân khấu, phim điện ảnh, sách đặt hàng, các chương trình ca nhạc, lễ hội của các đơn vị nhà nước.

Nhưng bản thân các doanh nghiệp tư nhân hiện nay do nguồn vốn và nhân lực có hạn nên khu vực này chưa thể tạo nên những sản phẩm hàng hoá qui mô lớn, chất lượng thật cao, phục vụ những mục tiêu lâu dài.

Sự song hành tồn tại hai loại cơ sở sản xuất văn hoá phẩm nhà nước và tư nhân hiện nay là cần thiết và bổ sung cho nhau phát triển.

Một hành lang pháp lý thoáng, đủ rộng và ổn định cho các doanh nghiệp tư nhân trong các ngành VHNT yên tâm hoạt động là yêu cầu trước mắt đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước. Để hoạt động, tất nhiên họ phải chấp hành nghiêm pháp luật nhà nước, quan hệ nghiêm túc với các cơ quan công quyền và chức năng từ ngân hàng, tài chính, thuế vụ, các đối tác nhà nước( Đài truyền hình, nhà xuất bản, cơ quan cấp phép, cơ sở phát hành, hệ thống thư viện, an ninh văn hoá và kinh tế các cấp, các địa bàn vv…) nhưng vẫn cần những cơ chế ưu đãi để khuyến khích đầu tư và mở rộng các doanh nghiệp VHNT.

Có thể dễ dàng quan sát thấy lực lượng tham gia thành lập và điều hành các công ty, doanh nghiệp này tuổi đời còn rất trẻ, trên dưới 30, được đào tạo chu đáo trên nhiều lĩnh vực, nhanh nhạy trong nắm bắt thị trường, có quan hệ quốc tế rộng rãi, xuất phát từ động cơ trong sáng là góp sức vào sự phát triển và quảng bá nền VHNT nhà nước, nên sẵn sàng chọn ngành kinh doanh phức tạp, nhiều rủi ro mà mức lãi suất không cao. Chẳng hạn: Các sân khấu, tụ điểm ca nhạc, các hãng phim, Rạp chiếu phim, Công ty sách…, tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh hoạt động có hiệu quả, những năm gần đây, đã giúp cho trung tâm kinh tế phía nam có một bộ mặt văn hoá tươi mới, năng động, trẻ trung, và tạo nên một lớp công chúng đông đảo thường xuyên chen kín các điểm diễn các sự kiện văn hoá.

Về mặt này, có thể thấy, do chậm ra đời các thiết chế xã hội hoá, Thủ đô Hà Nội đang đánh mất hay bỏ quên sứ mệnh là trung tâm văn hoá của mình: Hàng đêm Thủ đô có mấy điểm diễn sáng đèn? Hơn ba triệu dân, có bao nhiêu địa điểm, bao nhiêu người tới các tụ điểm văn hoá, văn nghệ? Xem ra, mải mê chạy theo làm kinh tế, phát triển đô thị, các cơ quan chức năng thủ đô đã quên lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Văn hoá soi đường cho quốc dân đi. Hình ảnh nổi bật dễ thấy nhất là Hội sách ở 2 thành phố. Trong khi thành phố Hồ Chí Minh là hàng vạn người chen chúc thì Hội chợ ở Vân Hồ Hà Nội vắng vẻ, quạnh hiu đến đau lòng.

Cũng nhờ sự năng động của các doanh nghiệp văn hoá tư nhân mà những năm gần đây, trong giao lưu và hội nhập với thế giới, một số tác phẩm, công trình, nghệ sĩ Việt Nam được giới thiệu ra thế giới: Các tác phẩm văn học, sân khấu truyền thống, điện ảnh, nghệ sĩ biểu diễn được thế giới biết đến với những mức độ khác nhau, dù nhiều hơn là đối tượng người Việt ở nước ngoài. Thành công nổi bật hơn chính là nhờ mở rộng giao lưu, thiết lập được các mối liên hệ tin cậy mà nhiều tác phẩm VHNT hay của thế giới được giới thiệu rất sớm ở VN. Chỉ cần nhớ lại bao nhiêu năm, tên tuổi và tác phẩm được giải Nobel Văn học hàng năm rất xa và lạ với cả những nhà văn trong nước, thì mới thấy sự kiến mấy bộ phim lớn được phát hành ở VN cùng lúc với các nước trên thế giới, 1 cuốn sách được dịch ra tiếng việt phát hành cùng lúc với nguyên bản ở nước họ, có bước tiến xa đến mức nào!

Một điểm cần ghi nhận cho đóng góp của các doanh nghiệp VHNT đó là đem lại công ăn việc làm đúng ngành đúng nghề cho một số lượng Văn nghệ sĩ thuộc nhiều ngành nghề: Hàng trăm diễn viên sân khấu, cũng hàng trăm diễn viên điện ảnh và truyền hình, hàng trăm ca sĩ, nhạc công, nghệ sĩ múa quanh năm làm không hết việc. Và chính trong hoạt động nghiệp vụ ấy mà họ trưởng thành rất nhanh.

Nhưng một nền nghệ thuật lớn, đỉnh cao cả về tác phẩm và tác giả, không thể chỉ có những sản phẩm giải trí, đáp ứng nhu cầu thất thường và luôn thay đổi của thị trường.

Sự năng động, phong phú các sản phẩm VNHT có tính chất hàng hoá đáp ứng nhu cầu cái dạ dày tinh thần vô lượng của công chúng, không làm chúng ta quên đi một sứ mệnh thường trực làm nên sự cao cả và thiêng liêng của VHNT và văn nghệ sĩ: Sáng tạo những tác phẩm làm bất tử thời đại chúng ta đang sống. Những tác phẩm như thế chỉ có thể xuất hiện trên nền một nguồn nhân lực tài năng được đào tạo, rèn luyện, và tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất cho họ sáng tạo.

Một chiến lược về đào tạo nguồn nhân lực tài năng cho sáng tạo văn học nghệ thuật trong thế kỷ mới chính là nguyện vọng, mơ ước và kiến nghị của giới văn nghệ sĩ hôm nay gửi đến những cơ quan có trách nhiệm với sự phát triển của quốc gia, trong đó có vị trí xứng đáng của văn hoá nghệ thuật. Bởi vì, chỉ có những thành tựu văn hoá ở đỉnh cao mới giúp vẽ nên chân dung tinh thần một đất nước, một thời đại.

27.09.2008

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác