Đoản khúc cho quê

(Toquoc)- Nói đến Lệ Thuỷ mỗi người hình dung ra một kiểu, người thông tường địa lý gọi đây là một lòng chảo khổng lồ, người ví von hơn coi như một chiếc nón để ngửa. Còn trong tôi, Lệ Thuỷ là hiện thân của một người đàn bà đang độ sung mãn. Con đường thiên lý bắc nam vô tình ngăn chia Lệ Thuỷ rạch ròi thành hai vùng thổ nhưỡng, bên tây là ruộng, bên đông là cát. Bên tây phì nhiêu màu mỡ, bên đông tinh khiết mênh mông.

Lệ Thủy không phải là quê hương tôi nhưng tôi “phải duyên, phải số” với nơi này… và bây giờ tôi đã về đây, chiều tàn, cô liêu trên đồng đất quê người “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát/ đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông”.

Đoản khúc cho quê - ảnh 1
Lệ Thuỷ- Quảng Bình ngày nay đang dần khởi sắc
















Cánh đồng sau vụ gặt nằm trải ra trong nắng chớm thu, thư nhàn đến trễ nải, vắng vẻ đến hoang vu! Mặt ruộng trơ gốc rạ, xa xa bốc lên những vầng khói đốt đồng. Trong đời nếu ai đó trong lòng có bão xin hãy tìm về với những cánh đồng. Đẫm mình trong làn khói mỏng thơm tho, no đủ bỗng thấy một nỗi buồn mênh mang dân ngập hồn và nhớ… thấp thoáng dáng quê nghèo nàn hiền hậu, thấp thoáng dáng mẹ mảnh dẻ như bóng cò, thèm có ai đó bên mình lúc này để nói những chuyện bâng quơ, không phải chuyện minh triết của những kẻ tự coi mình lắm chữ thỉnh thoảng ta vẫn ra vẻ hùa theo, không phải chuyện cơm áo đau đáu lo nghĩ hàng ngày, không phải chuyện tình yêu muôn đời làm tan nát trái tim nhân thế, không phải chuyện bình chọn ai làm tuyển thủ các môn thể thao tái quái “chọc gậy bánh xe”, “qua cầu rút ván”, “gắp lửa bỏ tay người”… để dự thi trên đấu trường cuộc sống, chỉ nói những chuyện đơn sơ chẳng động đến ai, như về thân phận mộc mạc của cây lúa. Đời lúa ngắn, một đời chỉ mấy mươi ngày! (mà gần đây trên tivi ta thường nghe nhà nông được khuyến khích canh tác các loại giống lúa ngắn ngày, thậm chí cực ngắn nữa để tăng vòng quay của đất, để tiết kiệm công chăm bón) nhưng lại dài. Mạ non. Con gái. Đứng cái. Ngậm đòng. Đơm bông. Vào chắc. Chín vàng. Rồi lại mạ non… con gái… đứng cái… lúa có sự sinh, không có sự chết. Đời lúa kết thúc bằng sự tái sinh, tái sinh vào đời lúa và tái sinh vào đời người. Bây giờ đâu đâu trên đồng đất Lệ Thuỷ nhà nông cũng để lúa tái sinh. Đời lúa giống đời người đàn bà, lận đận một đời dâng hiến, long đong thân phận rủi may. Vì thế mà dân gian ta ví người đàn bà “mỏng mày hay hạt” như hạt lúa. Chị tôi là nhà nông. Chị như cây lúa, chân tay ố vàng màu phèn chua nước mặn nhưng dáng dấp mặt mày nhỏ nhắn. Về quê, ngồi bên thềm nắng, nhìn chị khom lưng đảo lúa trên sân. Đôi tay mềm như lúa. Màu lúa vàng. Màu nắng cũng vàng. Sóng sánh và ngọt ngào, tựa hồ ông trời đang rót mật xuống trần gian. Bóng chị trở nên lung linh trong cái màu vàng huy hoàng ấy. Đẹp đến huyền ảo. Chỉ có vành khăn trắng chị đang đội trên đầu là có thật. Một nỗi đau có thật. Ba chúng tôi vừa “đi”. Ngày vu lan ba đi. Không phải thủng thẳng ra đâu đó thăm ló ngó đồng, không phải nghe mấy ông bạn già cù rủ sang hàng xóm đánh cờ tam cúc, ba đi về cõi hư không. Chỉ là một sự vô tình nhưng mùa vu lan lại đúng vào lúa cúi đầu, mùa những đứa con báo ân cha cũng là mùa lúa trả ơn công cấy trồng của nhà nông. Vừa luôn tay đảo lúa, chị vừa nói: Ngày ba mệt hung lúa cũng vừa chín tới. Lúc tỉnh lúc mê nhưng vẫn nhắc chị gặt cho đúng lứa. Lúa vàng quá thì hột cơm mất thơm. Lúa nỏ quá thì hột cơm mất dẻo. Ba thích ăn cơm gạo mới rứa mà mùa vô ba lại đi!. Và chị khóc, dấm dứt một mình trên sân nắng, chị ân hận đã không kịp nấu mời ba một bát cơm lúa mới, phải là bát cơm nấu bằng rơm mới. Người ăn cơm không phải đợi đến khi lên mâm lên bát mới cảm nhận được hương thơm của cơm trắng quyện với mùi khói nồng nồng của từng sợi rơm khô, mà ngay từ khi nồi cơm vừa liu riu sôi trong nhà đã nồng nàn dư vị hạt nắng… hạt mưa… hạt sương… hạt mồ hôi người trồng cấy thánh thót rơi trên mặt đất, lặng lẽ kết tinh vào hạt lúa. Chị thầm thì một mình “Ôi chao! E kiếm việc chi mần, trồng lúa một đời không ngoi đầu lên được!” nhưng chị chỉ nói thế thôi, chị yêu cây lúa, chị nói để giải toả mọi nhọc nhằn, mắt chị ầng ậc nước, mênh mang như đồng đất Lệ Thuỷ mùa lụt. Hôm rồi tôi về đã thấy chị tất tả ra đồng làm đất. Dáng nhỏ nón trắng trên đường vắng, đôi mắt buồn thăm thẳm niềm mong ước, chị mong mùa tới lúa lại mẩy bông chắc hạt, chị lại có bát cơm mới dâng cúng ba. Chị đừng lo. Cây lúa chẳng phải kẻ bạc tình, với lại đất Lệ Thủy lụt lên, lụt xuống, kiểu gì cây lúa cũng vươn dậy tươi xanh được. Như người đàn bà ấy, sướng vui buồn khổ mấy, nước mắt chưa khô nụ cười cũng đã rạng.

Sự tận hiến đem lại niềm hạnh phúc cho người đàn bà và cây lúa!

*

Mới đây gặp tôi, bạn hỏi “Hạnh phúc không?” hỏi chi khó nói vậy.

Biết hạnh phúc của bạn và hạnh phúc của tôi có giống nhau không. Tôi cười cười “Ừ, cũng tằng tằng tháng qua ngày lại”. Thực lòng khi đó tôi đang vui, muốn huyên thuyên kể chuyện quê nhà mới gom góp được với bạn, nhưng bạn thích nói chuyện ông này bà nọ quyền cao chức trọng, bạn thích nói chuyện áo đẹp- quần đẹp- điện thoại xịn- xe đẹp, bạn thích kể chuyện thiên hạ, bạn thích vô ra chốn quan quyền… tôi chỉ toàn chuyện “lăn tăn” (từ của bạn) ví như chuyện bùn đất đồng áng, chuyện xúc rạm bắt tôm, chuyện bẫy chim bắt chuột… nên nói ra tôi sợ bạn lại buông thõng một câu như mọi bận “Tưởng chi…” làm tôi mất hứng. Chẳng trách được bạn, tưởng chi cũng phải, trên đời này hạnh phúc làm gì có tiêu chí mà định giá?! Vợ chồng con cái dắt díu nhau về quê là chuyện thường ngày, nhiều khi là chuyện lễ nghĩa, nhiều khi là chuyện ép buộc nữa. Chuyện nhà quê ai còn lạ, dân Việt Nam ta hơn 90% gốc gác nông thôn, mới mẻ chi mà kể! Nhưng tôi, thành phần xuất thân bần nông, đến lúc này vẫn há mồm ra nghe những câu chuyện nông thôn và bây giờ mới biết Lệ Thuỷ không chỉ có… gạo trắng nước trong.

Nhà văn Nguyễn Thế Tường- một người Lệ Thuỷ cội, trong bút ký “Ký sự Lạc Hải” đã kể lại rằng “băng qua vùng đầm phá này có hàng nghìn, hàng vạn thân phận trẻ thơ như tôi: cắt cỏ, vớt rong, cắt lác, đánh cá, vớt rạm, xúc tôm, bẫy chim… làm mọi nghề kiếm sống qua ngày trong hàng thập kỷ giêng hai đói xanh mắt, để được đến trường. Chúng tôi, nhiều thế hệ vùng dân cư rộng lớn lưu vực sông Kiến Giang, ven đồi cát duyên hải, vùng chân thềm Trường Sơn đều được học qua cái trường đời nghiệt ngã trên mặt phá. Và cũng chính từ mặt nước lạnh lẽo hoang sơ đầy năn, lác, cỏ dại và vô vàn động vật nước lợ, đi đến ngày hôm nay, học những điều cao siêu của ngôn ngữ, của khoa học, nhân văn, đạo làm người để lớn lên thành người…”, người đàn ông của đời tôi là một trong hàng nghìn, hàng vạn thân phận trẻ thơ ấy. Trong những câu chuyện không đầu không cuối, anh thường kể về ba mẹ, về kỷ niệm tuổi thơ, về quê hương hai mùa mưa lụt nắng hạn với một niềm thương nhớ đằm địa. Tôi nghe và ngỡ ngàng. Không ngờ những câu chuyện anh kể về quê lại thú vị đến thế. Không ngờ con người ngang tàng nhiều khi đến liều lĩnh “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” này lại có những giây phút lãng mạn sâu kín đến vậy. Mới hay trong mỗi con người còn có một con người khác. Chính con người ẩn dật ấy mới đáng để cho ta khám phá, cho ta yêu hay ghét, gắn bó hay phân ly.

Mạ anh là người đàn bà có trái tim can đảm. Mạ, gái Huế móng hồng, gót son, xương mai, mình hạc, dám về xứ đồng chiêm “ruộng sâu trâu nái, lụt bão bốn mùa, phèn chua đĩa dắt, Trường Sơn ngất mây, dữ dội và Hạc Hải sóng gió xô thuyền”. Mạ, con gái trâm anh, đâu beiet cong lưng úp mặt vào ruộng cấy dắm từng dẻ lúa, nhưng mạ thương ba nên thương luôn đất Lệ Thuỷ. Ngọn rau má bên bờ ruộng, con tôm con cá dưới đồng sâu giúp mạ neo cuộc đời mình lại với nơi này. Thương mạ, thương bao người đàn bà Lệ Thuỷ, Hạc Hải giúp họ ấp ủ những đứa con qua biết mấy mùa đông. Trong lòng Hạc Hải ngày ấy chứa rất nhiều tôm cá và cả rạm (nay con tôm con cá ngộ độc thuốc sâu lúc nào cũng lừ đừ như vừa bị triệt sản, con rạm chỉ sống ở vùng nước lợ nhưng cái đập Mỹ Trung to kềng càng ngăn đôi dòng nước, ngọt ra ngọt, mặn ra mặn, rạm hết dần cơ hội sinh sôi. Nhưng dẫu sao thì tất cả chưa đến hồi xếp hàng ghi tên vào sách đỏ. Khoảng tháng tư đến tháng sáu hàng năm, rạm vẫn được bán đầy chợ). Cuối xuân tiết trời bắt đầu ấm áp, cơn mưa chào mùa hạ thoắt rơi thoắt tạnh là rạm “xuất đầu lộ diện” kiếm ăn và kết tình. Rạm lớn, rạm bé, rạm mẹ, rạm con lâu nay trốn biệt trong hang ven bờ dọc bãi nghe tiếng mưa, cắn càng nhau bò ra “trẩy hội”. Không cần bơi, chỉ cần bám lấy nhau thành bè nổi lên trên mặt nước là thong dong xuôi theo dòng lưu thuỷ ngắm mây bay, nghe gió thổi. Cả một cuộc diễu hành rầm rộ và nên thơ vậy nhưng gặp triều cường, nước mặn xâm nhập là cả bầy rạm bắt đầu lả dần và đội hình coi như tan rã. Con rạm cũng chung gốc gác với con dam (cua đồng), con cáy. Con rạm ruộng sâu, con dam ruộng cạn, con cáy ven sông. Nhưng con rạm lớn hơn, đôi càng và các que khoẻ, chiếc mai bẹt và có những đường vân lõm chứ không tròn bóng như mai con dam. Ngày mồng một và rằm tháng tư, rạm ở đâu từ trong lòng đất đàn lũ trào lên, cả làng đi xúc, chỉ cần chiếc đèn và cây vợt thậm chí tay không là tha hồ bắt. Chiều, ngày vừa tắt, mạ chuẩn bị cơm nước, ba và cả mấy anh em ăn xong, nghỉ ngơi một chốc là đêm đã đen. Ba đốt chiếc lốp xe đạp cũ lên làm đuốc, anh cả chèo đò ra chống sào giữa dòng là cũng đến lúc rạm trôi. Vào mùa gặt trên một sợi toóc có cả chục con rạm bám theo. Con nào con nấy óng vàng, căng mọng. Rạm đực có bầu mỡ dưới yếm. Rạm cái có bầu trứng trong mu. Vừa bắt rạm vừa chuyện trò, mặt sông sáng rỡ ánh lửa, râm ran tiếng nói cười, trời vừa khuya mấy chiếc thùng được ba gò từ vỏ pháo sáng đã đầy mặp rạm. Cha con về, mạ thắp đèn chờ sẵn đầu chái bếp, cặm cụi, tỉ mẩn cho đến sáng, mớ để ăn ngay, mớ để dự trữ. Cọng que giã nhỏ nấu canh, mình rạm bóc mai, lột yếm hấp chín để có nắng là đem phơi làm thực phẩm cho ngày mưa dầm gió bấc. Nhiều năm qua, nhiều mùa đông qua… cứ thế mạ nuôi đàn con phổng phao lớn dậy.

Bây giờ, đàn con đã tung tẩy trong đời, ba chuyển cõi, chỉ còn lại mạ với cánh đồng- nơi có những vạt rau má xanh rì bò lan man, có dòng sông năm nào cũng đón đưa những cuộc chu du ngắn ngủi của bè rạm. Thỉnh thoảng mạ vẫn thì thầm kể lại chuyện cũ, ngày ấy thương ba, mạ thương luôn đất Lệ Thuỷ, dẫu có phải ăn rau má trừ bữa mạ cũng ở lại đất này. Chừ mạ tóc trắng, thân gầy nhưng con mạ đã phương trưởng.

Đất này trả ơn mạ!

Đoản khúc cho quê - ảnh 2














Nói đến Lệ Thuỷ mỗi người hình dung ra một kiểu, người thông tường địa lý gọi đây là một lòng chảo khổng lồ, người ví von hơn coi như một chiếc nón để ngửa. Còn trong tôi, Lệ Thuỷ là hiện thân của một người đàn bà đang độ sung mãn. Con đường thiên lý bắc nam vô tình ngăn chia Lệ Thuỷ rạch ròi thành hai vùng thổ nhưỡng, bên tây là ruộng, bên đông là cát. Bên tây phì nhiêu màu mỡ, bên đông tinh khiết mênh mông.

Quê anh nằm hết về bên đông. Đứng trên động cát cao ngó xuống, quê anh xanh biêng biếc trên cái eo lưng căng nhức và phồn thực của nàng. Bao đời rồi con người nơi đây sống trong cát, chết vùi trong cát. Cát đẻ ra nước. Không uống nước trời, người quê anh uống nước đất. Cách mỗi quãng trên động cao có một điểm nước trào lên từ lòng cát. Người ta gọi là “mội”. Ngày trước cả làng gánh thùng lên mội lấy nước về dùng. Bây giờ đã có ống dẫn đưa nước từ mội về tận mỗi nhà như nước máy. Nước ngọt được chắt ra từ lòng cát, tinh khiết như màu cát, con gái uống tóc dài da trắng, con trai uống cao ráo ngang tàng. Về Lệ Thuỷ tôi được ăn toàn đặc sản. Đặc sản “chạy rông” chứ không phải đặc sản nuôi nhốt. Vâng! Cá tôm, cua, ốc, ếch, niềng niễng, bọ vừng, chôông và cả chuột nữa là của thiên nhiên. Người vùng cát đặc biệt thích món thịt chôông. Con chôông còn gọi là con dông vì khi nghe dông là nó chạy trốn. Chôông có hai loại: chôông ngấn và chôông huê, ta có thể phân biệt được nhờ vào màu sắc hai bên lườn của nó. Con đực gọi là thềm. Con cái được gọi là mắm. Đây là một loại bò sát chỉ kiếm ăn vào mùa hè. Thức ăn của nó là côn trùng, cỏ, lá dương và… chiếc đuôi. Mùa đông lạnh giá trốn miết trong hang, nhâm nhi chiếc đuôi cầm hơi. Hè về, những tia nắng ấm đầu tiên vừa chạm vào mặt đất, chôông đã lò dò lấp ló nơi cửa hang và một chiếc đuôi mới múp míp ngắn cũn cỡn sẽ mọc lại. Mùa hè con nít lon ton chạy mải trên những động cát cao, mùa đông đứa nào đứa nấy chùm hum đào bới, tay chân tóc tai lùi trong cát. Chôông được lột da, nhồi tí ớt, muối vào bụng rồi nướng trên ngọn lửa cháy rật rật của những cành dương khô nỏ. Dương liễu vừa cháy vừa reo, vừa thơm vừa vui tai. Thịt chô ông nướng với dương liễu khô là hạp! Thơm lừng, ngọt xớt! Đó là một bữa tiệc “vương giả”!

Tuổi thơ anh đã có biết bao kỷ niệm từ những buổi chiều mải chạy theo đuổi chôông, mặt mày lấm lem than củi nhưng miệng cười tí tởn và cái bụng căng tròn. Hôm nào như vậy cơm mạ coi như ế. Ngày nay chôông trở thành đặc sản, chôông vô resort, khách sạn, nhà hàng nằm trên bàn những bữa tiệc sang trọng và được chế biến cầu kỳ bằng lò vi sóng, bằng máy nướng điện… lũ trẻ bắt được chỉ nướng ít con ăn cho đỡ thèm, còn để dồn lại đem nhập lấy tiền giúp mạ. Thời của anh, bao giờ anh cũng để phần ba mạ. Mạ đem lột da nấu với bầu tươi, chuối chát cả nhà ăn với cơm nóng, không thì nướng lá lốt để ba nhâm nhi chén rượu cuối ngày. Trong ngôi nhà đơn sơ nhưng ấm cúng, thơm mùi thịt chôông ngọt, nồng nồng hơi rượu cay, anh tíu tít chạy tới chạy lui, lấp lánh ánh mắt vui vui của ba hiền lành thanh thản ngắm nhìn bầy con đang mỗi ngày mỗi lớn.

*

Bữa trước gặp bạn, bạn chạy như bay trên phố, mặt mày đỏ như tôm luộc, miệng tở mở khoe: “Mới vô nhà hàng ăn đặc sản: rạm rang muối, dông nướng lá lốt. Hấp dẫn đỉnh luôn!”.

Không có ý làm bạn mất hứng như bạn thường vô tình làm tôi mất hứng, nhưng tôi chỉ buột miệng: “Tưởng chi, mấy thứ nớ lên Lệ Thủy…!” 

Đồng Hới, 10/2008

Trương Thị Thu Hiền

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác