Đầu năm con Trâu kể chuyện O Sửu

(Toquoc)- Thuở ấy, làng tôi có thầy đồ Nhân. Vợ chồng thầy sinh hạ được bốn người con trai tên là Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và một o con gái vì sinh năm trâu, được đặt tên là Sửu.

Sự đời nhiều khi thật tráy khoáy. Bốn cậu quý tử mà thầy đồ đặt kỳ vọng sau này sẽ thành đạt trên đường học vấn, làm sáng danh dòng họ Phan nhà thầy, thì cuyối cùng lại toàn một lũ lêu têu phá gia tri tử. Trong khi đó, đứa con gái thầy chẳng chút quan tâm rèn cặp, bao nhiêu công việc nặng nhẹ trong nhà đều dồn cả cho nó, biến nó thành đứa ở con đòi, thì lại là người “nối dòng nho gia”. Nhờ thèm khát kiến thức, nhờ cần cù nhẫn nại đến kinh người, Sửu đã tranh thủ học chữ thánh hiền mọi lúc mọi nơi. Năng nhặt chặt bị, mới chớm tuổi trăng tròn, Sửu đã làm cho mọi người trong đám môn sinh của thầy đồ phải nể trọng về học vấn. Hơn thế, O còn có biệt tài làm câu đối, làm thơ (cả chữ Nôm lẫn chữ Hán) nổi tiếng gần xa. Lắm câu đối, lắm bài thơ độc đáo của O, đến nay nhiều người còn truyền tụng.

Dưới đây xin dẫn vài ví dụ.


Đầu năm con Trâu kể chuyện O Sửu - ảnh 11.
Hôm đó, Sửu đang cùng con trâu trắng kéo một khúc gỗ to tướng qua truông Bồn. Đến chỗ dốc thì trời đổ mưa, mặt đường trơn nhẫy khiến cho khúc gỗ thoắt được kéo lên thoắt lại trụt xuống, trầy trật mãi.

- O Sửu đó hả? Có cần tôi giúp một tay không?

Nghe hỏi, o Sửu ngoái lại nhìn phía sau, thấy một anh chàng khỏe mạnh, lại có vẻ lầm lì chịu thương chịu khó. Thực ra đây không phải cuộc gặp tình cờ mà chàng trai đã bí mật bám theo Sửu từ sáng sớm. Anh ta tin chắc, đến lúc O Sửu kéo gỗ qua dốc thế nào cũng có sự cố. Và đây là thời cơ thuận lợi nhất cho chàng ra tay cứu giúp. Tuy vậy, trước khi làm việc đó chàng trai rất muốn cho cô gái nổi tiếng hay chữ kia biết anh ta cũng thuộc loại “tao nhân mặc khách”, chứ không phải hạng xoàng. Nói trắng ra, chàng trai nêu một vế thách đối, nếu O Sửu đối được thì anh ta sẽ giúp O dưa khúc gỗ về tận nhà.

Vế thách đối như sau:

Trâu trắng truông trơn trèo trầy trật

Không nói, chắc ai cũng biết đây là một vế thách đối rất rắc rối cả về ngữ nghĩa, cả về ngôn từ. Tuy vậy Sửu vẫn điềm tĩnh:

- Xin thưa, anh nho tuổi gì ạ? - O hỏi

- Tôi tuổi Hợi, tên cũng là Hợi - Chàng trai đáp.

- Vậy thì vế đối của tôi thế này:

Lợn lang lưng lấm lủi lầm lỳ

Nên nhớ, từ nhà ra đi chàng trai diện một bộ đồ lụa trắng tinh. Không may lúc nãy, anh ta ngã đánh oạch vào vũng bùn, bị lấm loang lổ. Anh ta lại tên là Hợi, nên bị ám chỉ là “Lợn lang” để đối với “Trâu trắng” thì tài tình quá còn gì. Ngoài ra, trong vế đối Sửu còn tả đúng cái diện mạo lầm lỳ của Hợi, nên anh chàng phục O sát đất.


2.
Lại một năm “trâu” nữa đã đến, và O Sửu đã hăm nhăm tuổi. Thời ấy cô gái nào đến tuổi này mà chưa có chồng thì đã lo sốt vó, nhưng Sửu vẫn bình chân như vại. Thậm chí có chàng trai mới đến mạnh dạn “ướm lời”, O vẫn lắc đầu chối như mấy chàng trai gặp O năm trước: “Em ít tuổi, anh tìm đám khác”.

Thực ra, lần này thì Sửu không phải cho mfinh chưa đến tuổi lấy chồng, mà vì O chê gã đàn ông kia “quá già” (vì gã tuổi Tỵ, hơn Sửu những tám tuổi, dáng người lại thô tháp cục mịch). Để chữa thẹn, gã cố tình hiểu khác và gửi cho Sửu một vế thách đối:

Sửu đúng tuổi Trâu, Trâu đích thị là Trâu, trách Sửu Hĩm cưa sừng làm nghé.

Ngay chiều hôm đó, anh chàng Tỵ đã nhận được vế đối của Sửu:

Tỵ ấy Rắn, Rắn chừng như quá Rắn, khuyên Tỵ Cò bấm bụng leo xà.

Quả tình đây là một vế đối quá sắc sảo ranh ma.


Đầu năm con Trâu kể chuyện O Sửu - ảnh 23.
Chiều hôm đó, Sửu đang cày với một con trâu cái ở thửa ruộng ven đường thì có hai thầy trò nhà sư nọ đi ngang qua. Bất thình lình, nhà sư dừng lại, hắng giọng đọc oang oang hai câu thơ chữ Hán:

Nhất ngưu, nhất nữ tại đồng điền

Nhất âm tai hậu, nhất âm tiền

(Dịch nghĩa: Một con trâu, một người đàn bà ở giữa ruộng, một cái “âm” quay về phía sau, một cái “âm” quay ra phía trước)

Nghe thơ, Sửu biết gã kia chỉ là sư hổ mang. O rất ghét hạng người này. O họ trâu lại, làm thêm hai câu thơ để nối với hai câu kia cho thành một bài hoàn chỉnh, rồi ngân nga thánh thót:

Nhất ngưu, nhất nữ tại đồng điền

Nhất âm tái hậu, nhất âm tiền

Lộ thượng khả lân sư dữ đệ

Lưỡng đầu chỉ địa, lưỡng đầu thiên.

(Dịch nghĩa hai câu sau: Đáng thương cho hai thầy trò nhà sư trên đường.Hai cái “đầu” trỏ xuống đất, hai cái “đầu” trỏ lên trời).

Phải nói, hôm đó gã sư hổ mang được một bài học đích đáng. Không dưng gã đã tạo ra cho O Sửu một cơ hội để đêm “âm” no, “đầu” kia đánh đồng với nhau, thì còn ra thể thống gì nữa!

Hoàng Bình Trọng

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác