Đá trắng

Tên làng tôi thật đẹp - Xuân Mai, không rõ ai đặt hồi nào. Đó là một làng tính đến nay đã trên bảy trăm năm tuổi với đình, chùa, cổng làng, cây đa, bến nước… nghĩa là cũng đầy đủ lệ bộ của một làng ra làng, có điều lại không phải đất văn hiến.

Các làng bên thời nào cũng có người học hành đỗ đạt ra làm quan, hoặc có mỹ nhân mắt phụng mày ngài tiến cung mang về bao nhiêu phúc lộc cho làng. Riêng Xuân Mai trống trơn, giỏi lắm cũng chỉ lác đác mấy vị tú tài gõ đầu trẻ kiếm cơm với cuốn Tam tự kinh; thành hoàng làng cũng phải thỉnh hồn thiêng một vị tướng tài thuở Nam chinh từng có lần cho quân lính hạ trại qua đêm ngoài bãi đầu làng về để thờ, chứ người làng chẳng ai xứng đáng.

Sở dĩ vậy, là vì làng nằm trên một mảnh đất hình mai rùa, đã thế còn bị nước con sông Đại Giang rất hung hiểm từ Trường Sơn đổ về, đến đầu làng thì bỗng nhiên bẻ gập thước thợ xói ngay vào, nên làng lúc nào cũng y như con rùa già lóp ngóp giữa sình lầy khó nhấc nổi mình để đi tới. Người làng Xuân Mai truyền nhau cảm giác đêm nằm cứ nghe chông chênh, chao đảo; ai ở xa đến dĩ nhiên không nhận ra điều này, còn lũ chúng tôi thì đã được rỉ tai từ tấm bé, lẽ nào lại không thấy bất an khi đặt lưng xuống giường, vắt tay lên trán!

Nhưng làng tôi vẫn còn nguyên đó một tia hi vọng xanh rờn. Tương truyền rằng ngoài bờ sông, hướng ngay trước cửa đình, có một hòn bạch thạch lục diện ẩn náu đâu đó; ai nhặt được, thì chẳng những bản thân hiển đạt, mà cả một thế hệ đồng thời cũng sẽ thành danh, từ đó mọi hi vọng mở mày mở mặt với thiên hạ mới thành sự thật.

Thế là bao thế hệ dân làng đã cất công lặn tìm; người ta chia nhau từng mét vuông đáy nước mò kĩ cả mấy trăm năm, lớp cha trước lớp con sau, chưa hề nản chí. Rất nhiều hòn đá đẹp được nhặt lên, nhưng đều không phải viên đá thần, chứng cứ là con dân của làng vẫn lẹt đẹt đường công danh, u ám nơi cửa Khổng sân Trình; trong khi hòn bạch thạch vẫn trốn đâu đó với trò ú tim ma mị của nó. Thật đau thương là nhiều thanh niên trai tráng của làng vì mò tìm bạch thạch mà bị thuỷ thần bắt cống mạng.

Xung quanh việc tìm viên đá thần, người ta đã tô vẽ ra bao nhiêu là chuyện, cúng bái tốn rất nhiều xôi chè hương oản. Người làng truyền nhau, rằng phải có “cơ trời”, hoặc phải gặp thời mới mong thành đạt, chứ làm gì có chuyện bỗng dưng. Vậy tức là suốt trường kì năm tháng, cái then máy của con tạo xoay vần không một lần mở ra cơ hội cho dân Xuân Mai, và thời vận cũng theo đó bỏ qua? Song dân làng vốn kiên trì, nên không hề nhụt chí. Có anh đăng lính, bị triều đình nhốt vì tội phản nghịch, chỉ chờ chết; lúc vợ dắt đứa con trai lên bảy tới thăm, nhìn vào đôi mắt sáng tựa sao của thằng con, mà rằng “ Đến thời rồi, nhìn mắt con, cha biết”. Nói xong, cười rung xiêng xích, nhưng đó cũng chỉ là liều thuốc an thần tự dối mình và người thân mà thôi!

Chúng tôi lớn lên, không hề nguội lạnh ước mơ bao đời, tiếp tục lặn ngụp đến bợt người giữa sóng gió của dòng sông chảy xiết. Quả thực đứa nào cũng có lúc trông thấy trong bóng tối vực thẳm một tia sáng lạ; nhưng khi tiến lại gần, thì nó lại biến đâu mất. Thế nên càng ngày tôi càng cho rằng đây chỉ là cái bẫy của thiên nhiên, không nên theo đuổi; có đứa lại nói đó là câu chuyện bịa của một gã cà chớn nào đó, như làng nọ truyền nhau chuyện hũ vàng trong núi, vậy rồi bao đời hì hục đào thủng núi, và chỉ có vàng mắt!

Vậy nhưng vào phút cuối, lúc đã quá mỏi mệt, thất vọng, niềm mơ ước bao đời của làng bỗng mỉm cười với chúng tôi. Không phải một ai, mà cả tốp năm đứa đều đồng thì trông thấy báu vật lúc chúng tôi lần đầu tiên cùng nắm tay nhau lặn xuống vực sâu. Hòn đá nằm trên một mặt cát vàng mịn màng, đúng trước hướng cửa đình.

Đó là một khối đá trắng vuông vức sáu mặt, to bằng khối vuông rubic ngày nay, cũng là thứ để thử tài năng trí tuệ con người.

Cả làng xôn xao, mất ăn mất ngủ trong phấp phỏng niềm tin mặt trời sẽ rọi tới nơi tăm tối cả nghìn năm. Thế rồi người ta cho quét dọn sân đình, rửa hương án, ban thờ, mổ lợn, thắp nhang rước khối đá thần vào hậu cung đình làng. Các bậc cao niên, các vị trưởng họ khăn áo tề chỉnh khấu đầu vái tạ, kể lể công lao khó nhọc của dân làng và ân ưu của trời đất; còn dân làng thì vòng trong vòng ngoài chen chúc, ai cũng mong được tận mắt trông thấy báu vật, các làng bên nghe tin kéo tới, thế là ầm ĩ cả lên, cuối cùng dân quân phải vác súng trường ra bắn mấy phát chỉ thiên, mới dẹp yên được.

Làng bàn nhau cúng tế ba ngày, rồi đóng tủ gụ hương khảm trai để đặt ngài vào mà thờ. Đến cuối ngày thứ ba, thì từ trong hậu cung đình làng nghe vọng ra tiếng nói trầm đục, rằng thời đã đến, trời cũng đã ngó tới, con em trong làng gắng công học hành đi. Mọi người rập đầu dạ ran. Thần lại phán tiếp, rằng một lần xuất hiện, đá thần đã trao hết linh khí cho một thế hệ rồi đó; hãy trả đá thần về chốn cũ, cho hồn thiêng sông núi khắc khảm vào để vận may lại còn cơ hội trao tiếp cho các thế hệ mai sau… Nghe vậy, dân làng bèn chọn ngày hoàng đạo, làm lễ hạ giang tiễn ngài về với đáy sông. Bến đình hôm đó cờ xí tưng bừng trong nắng mai, lại cho đua thuyền có mời nam thanh nữ tú các làng bên tham gia, trông quá vui.

Đá trắng - ảnh 1
Y như ngày nay các đội tuyển bóng đá quốc gia mang trọng trách trước mùa World Cup; lũ chúng tôi hiểu rõ gánh nặng trên vai, là phải học thật giỏi, cả bọn rồi phải lẫy lừng trong vị trí ông to bà lớn chứ không thể lơ mơ được. Niềm sung sướng biến thành nỗi lo. Cha mẹ chúng tôi gầy mòn, phen này phải bán ruộng bán nhà là cái chắc! Làng xóm, họ mạc động viên, lại góp gạo góp tiền cho bọn tôi lên huyện học. Chúng tôi biết không còn đường lui nữa, nhảy vô lửa phen này cũng phải nhảy, chuyện đèn sách chỉ phải coi nhỏ như con thỏ!

Quả nhiên chúng tôi học tập rất tiến bộ, năm thằng thi đậu cấp ba cả năm, rồi đều học khá và giỏi. Thằng Nhị và thằng Hà cọt đến năm cuối cấp còn được chọn đi thi học sinh giỏi quốc gia; vinh dự nhất và cũng xứng đáng nhất, là Nhị đã đoạt giải cao môn Toán, được vị Bộ trưởng Bộ Giáo Dục trao bằng khen, bắt tay.

- Làng chuẩn bị võng lọng mà rước quan nhá - Dân làng bàn luận thâu đêm bên ấm chè xanh, dưới vầng trăng sáng - Phen này có đứa làm quan to là cái chắc.

- Thời đại mới, sao còn nói chuyện quan quyền, làm chi có. Ông phong kiến quá. Phải nói là rồi làng ta sẽ có lớp người thành đạt, sẽ làm rạng danh quê cha đất tổ.

Ông cãi có quan, đứng phắt dậy, chìa hàm răng vẩu ra:

- Có quan chứ.

- Ai gọi ai quan đâu nào?

- Có. Quan cách mạng ấy mà lị.

- Nên gọi là nhà lãnh đạo cho nó đúng.

- Không! Gọi quan mới sang. Làng chưa thời nào có ai làm quan, đừng làm mọi người mất vui. Tôi là cứ bảo làm quan; tôi từng mơ làm quan. Ngay mụ vợ hay nhăn nhó của tôi, nếu bảo làm quan, con ta rồi làm quan, mới cười ra được.

Nhưng rồi chúng tôi không đứa nào làm quan cả. Vì học hành dang dở. Chiến tranh nổ ra, được vài năm, tất cả đều ra trận lúc đang ngồi trên ghế các trường đại học. Năm chàng trai, da trắng, môi đỏ, ria mép non xanh, đều vào chiến trường. Chúng tôi dai dẳng hành quân dọc Trường Sơn, rồi toả về đồng bằng, lăn vào đánh giáp lá cà với giặc có ngữ cao gấp rưỡi trang bị tận răng… Mộng đẹp một thời cháy thành ngọn lửa trên đầu nòng B.40, trên tháp pháo xe tăng, trên từng đường lê lấp lánh… Đánh giặc mười năm, vỗ bàn tay vào báng súng thấm máu đồng đội và cả máu của mình hát vang bài ca hi vọng!

Thế rồi hoà bình về, ngoảnh lại, bỗng giật mình. Thằng Nhị nằm lại đâu đó trên Trường Sơn, không tăm tích, thằng Hà cọt có mộ chí ở Tây Ninh, thật may, một thằng bị chất độc da cam đi đứng ngất ngơ, một thằng là thương binh nặng!

Người đời tung hô chúng tôi, đứa chết và cả đứa sống, đều là những anh hùng; lại nói anh hùng hay quan viên đều vinh hiển như nhau. Vậy có nghĩa là linh khí của hòn đá trắng ông xanh đã trao không nhầm địa chỉ?!

Tôi về lại trường đại học, tiếp tục lên giảng đường, trong lòng ngấm một nỗi buồn thương không rõ căn nguyên, rồi ra trường với tấm bằng kĩ sư loại thường. Tôi thấy mình như có lỗi với làng, với người ngã xuống, là vì tôi trời để sống, mà không làm nên danh phận gì!

Sau chiến tranh, làng xóm tiêu điều, đói kém. Dân làng quên chuyện hòn đá trắng. Có kẻ chọc giận mọi người rằng mấy thằng tìm ra đá thần năm nọ có đứa nào làm nên công chuyện chi đâu, đứa chết cũng như đứa sống, vô danh cả thảy. Nực cười thay hòn đá dỏm! Niềm tin thần thánh bị giải thiêng. Cái ông cãi có quan năm nào, hẳn bạn đọc còn nhớ, chìa hàm răng vẩu ra, bảo dẹp mộng đẹp đi, bớ dân làng Xuân Mai! Không ai bảo ai, dân làng lầm lì bước qua mặc cảm thua thiệt trước bàn dân thiên hạ. Trẻ con vẫn học hành, lớn lên vào lính, cày ruộng, cũng có đứa làm này làm nọ làng nhàng; mưa nắng bốn mùa dần rửa trôi hình ảnh viên bạch thạch từng được trịnh trọng đặt vào hậu cung đình làng. Thì ra đó chỉ là giấc mơ, chắc chắn rồi, chỉ là mơ. Không có hội hè bái tạ, không ai từng sờ tay vào hòn bạch thạch lục diện nào hết. Té ra có chuyện cả một làng đêm nằm nghe chòng chành số phận, rồi cùng mơ chung một giấc mơ đẹp. Ghê quá!

*

Nhưng rồi khoảng vài chục năm lại đây, việc khuyến học khuyến tài chưa bao giờ được coi trọng như thế. Nhiều địa phương công bố chương trình rải thảm đón nhân tài rất hấp dẫn, tỉ như một vị tiến sĩ về quê làm việc, sẽ được nhận năm mươi triệu đồng, lại cho đất làm nhà… Theo đó, khắp nơi lại đua nhau cho con học quên cả ăn, ngủ, vui chơi.

Hình ảnh hòn đá trắng lại hiện về trong đáy mắt người làng tôi. Lũ trẻ lại đua học, và đua nhau lặn tìm đá thần. Dòng sông vẫn như xưa, lúc hiền hoà, lúc nổi phong ba, và sâu thẳm với nhiều hấp lực cùng thách đố.

Tôi ra sông nhìn đám trẻ hăng hái nhào lộn. Chúng nó reo hò, vùng vẫy, gọi nhau í ới như các ông cố ông kị của chúng thuở nào. Đến bao giờ đá thần lại về với dân làng? Dòng sông trả lời tôi bằng sóng gió ầm ào. Tuy thế, tôi vẫn tin tưởng, bởi chính tôi đã từng khi nâng báu vật trên đôi tay này dưới ánh sáng mặt trời!

Mà vậy chứ nếu còn chiến tranh loạn lạc thì cũng gay.

Đồng Hới, tháng 7-2010

Nhà văn Hoàng Thái Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác