Con đường xẻ dọc một vùng quê (*)

(Toquoc)- Vào một ngày đầu tuần của tháng mười một mới đây (năm 2010-BT), tôi và một anh bạn thân, hai người chung một xe gắn máy, bắt đầu làm một chuyến lãng du dọc đường gió bụi theo đường mới Nam sông Hậu, từ Cần Thơ tới Bạc Liêu, quay về Vĩnh Châu nghỉ đêm, để hôm sau trở về.

Chuyến đi này đã hình thành từ những ao ước xa xưa, hồi tôi còn thanh niên và đến năm 2005, khi nghe nhà nước triển khai, xây dựng đường Nam sông Hậu, trong tôi lại có một sự thôi thúc muốn thực hiện, để thỏa những mong muốn từ hồi xưa cũ. Còn một lý do nữa là hai anh em chúng tôi không ai nói, là cũng muốn tham quan một công trình tầm cỡ quốc gia với độ dài 147km, bao gồm 32 gói thầu và ngốn một ngân khoản đầu tư trên 3.200 tỉ đồng. Với đồng vốn bỏ ra lớn lao như vậy, nhưng mức độ thụ hưởng của bà con có tương xứng không, hai anh em chúng tôi định sẽ tìm câu trả lời riêng cho mình, chỉ mình mình biết!

Nhớ hồi những thập niên 70, 80 của thế kỷ nước, mỗi khi có dịp xuống bến tàu Cần Thơ, lúc ấy còn gọi là cầu tàu Đèn Ba Ngọn ở góc đường Ngô Quyền và bến Ninh Kiều, chúng tôi thường nhìn những chiếc tàu đò khách chạy đường sông mà ngẩn ngơ. Những địa danh ghi bên hông mấy chiếc tàu còn nằm chờ tài như Cái Cau, Cái Trâm, Rạch Vọp, Đại Ngãi… luôn gợi trong tôi hình ảnh những vùng quê cách trở, lạ mà quen, như ngầm thách thức cái máu giang hồ vặt trong chúng tôi, muốn tới đó thử một lần cho biết. Có xa xôi gì đâu, điểm đến xa nhất là Đại Ngãi, cũng chỉ hơn nửa ngày ngồi tàu đò. Nằm tàu đò thì đúng hơn, vì dưới những chuyến tàu đò này luôn có mắc võng sẵn để phục vụ hành khách suốt dọc chuyến đi. Ý muốn thật bình thường nhưng để thực hiện không đơn giản chút nào! Những vùng quê vừa kể vốn không tiện đường xe. Đi đường sông thì có thể thỏa thê ngắm những phong cảnh tuyệt đẹp, nhưng mà tàu đò hồi đó cũng hạn chế, mỗi ngày chừng vài chuyến tàu đò khách, với bao nhiêu nỗi bực mình. Hồi trước giải phóng, người bạn đi chung với tôi có mấy năm dạy học ở vàm Cái Sâu nên anh rất thấm thía những cảnh khổ phải “lụy tàu đò”. Theo lời anh thì ngôi trường ở vàm Phú Thứ hồi ấy chỉ cách bến Ninh Kiều chừng 4 km nhưng hôm nào đi dạy anh cũng bị trễ giờ. Mỗi sáng mới sáu giờ, anh và mấy thầy cô giáo khác đã ngồi chờ trên chuyến tàu đò tài nhất đi Cái Sâu (Phú Thứ). Nhưng chỉ có hành khách ngồi với nhau, không thấy chủ tàu đò. Ông ấy bận uống cà phê đâu đó trên bờ, rồi lo lên hàng xuống hàng cho mấy người khách quen, đến hơn bảy giờ tàu đò mới chịu nổ máy. Vậy mà vừa qua khỏi vàm Xóm Chài một đoạn, chiếc tàu đò đã ghé một bến nào đó để giao hàng. Đến vàm Cái Đôi lại phải ghé rước thêm người này người nọ. Thời gian ghé bến cũng tương đương với thời gian tàu đò chạy nên mãi đến hơn 7 giờ 30, anh mới tới được bến trường. Nhìn mấy em học sinh đang đứng chờ thầy cô mỏi mòn bên trên, lần nào anh cũng cảm thấy mình vô cùng có lỗi. Với lại hồi ấy dẫu máu giang hồ thôi thúc nhưng đâu phải cứ muốn đi là đi. Muốn đi xa phải sắp xếp công việc và chuẩn bị chi phí, mà tới đó để làm gì, hay chỉ loay quay uống ly cà phê rồi ôm mối thất vọng trở về. Mà đừng nói đâu cho xa, ngay cả những cái chợ nằm sát bên thành phố Cần Thơ như Ngã Sáu, Cái Cui, Mái Dầm… hồi chưa có con đường Nam sông Hậu, chúng tôi cũng chưa từng đặt chân tới. Vì thế, chuyến đi dọc tuyến lộ Nam sông Hậu lần này, có thể coi như chuyến đi chuộc lỗi cùng những bà con dọc theo bờ Nam sông Hậu, cái lỗi trễ hẹn và sẻ chia với họ những niềm vui trước một vận hội trăm năm.

Từ nhà tôi ở phường An Cư, chúng tôi phải vòng vào nơi giao lộ 9lB với quốc lộ IA, điểm bắt đầu của tuyến Nam sông Hậu tại thành phố Cần Thơ, để có một cái nhìn tổng quan về một trong những công trình có qui mô bề thế hàng đầu ở vùng đông bằng. Con đường nối quốc lộ 1A qua đường 30 tháng 4 rộng thênh thang với những căn nhà mới xây, dẫn chúng tôi qua cầu Hưng Lợi rộng rãi và khá qui mô (rộng 15 m và dài 780 mét) vừa hoàn thành, để đến vòng xoay dưới chân cầu Cần Thơ. Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi trước đầu đường Nam Sông Hậu là như thấy mình đứng trước một thành phố Cần Thơ của thì tương lai. Cảnh quan ở chung quanh đây đẹp như tranh vẽ với nhiều khu đô thị sang trọng và ngăn nắp như khu Hưng Phú, khu Nam Long, khu Công ty xây dựng 8 và khu Hoàng Quân 586… Những khu đô thị cứ nối tiếp nhau như một thành phố mở, trải dài. Nhìn mãi những khu nhà rộng rãi và xinh xắn như trong mơ, chúng tôi bỗng thấy tiếc cho những con hẻm quanh co với những dãy nhà chật hẹp, nhếch nhác thuộc một vài khu vực của phường An Hội, phường Thới Bình… ngay nội ô của thành phố Cần Thơ vẫn đang ở thì hiện tại. Càng đi xuống phía cầu Cái Sâu, không gian càng rộng mở và thoáng đãng. Những cái tên Cái Sâu, Bùng Binh, Bến Bạ nghe xa xôi quê mùa, một thời gắn chặt với hình ảnh những chiếc cầu khỉ chông chênh, nay chỉ còn một chút dấu vết, là bảng tên của những chiếc cầu đúc hiện đại, trên tuyến lộ thênh thang mới mở. Đặc biệt trên đường Nam sông Hậu là phố và đồng không còn phân cách. Kế bên những khu dân cư tân tiến, những nhà máy đồ sộ, vẫn còn đó những rẫy bắp, vườn cây và những thửa ruộng đang chờ ngày gặt. Cả tuyến đường dài 147 km đều có những nét đẹp vừa hiện đại vừa hòa hợp với khung cảnh thiên nhiên, tạo được một sự thân thiện đáng yêu về môi trường, trong mắt của những khách lữ hành.

Nếu khu vực Phú An là một khu đô thị được qui hoạch đồng bộ ngăn nắp, một mô hình thành công vượt trội, thu hút được sự tín nhiệm của đông đảo khách hàng thì cảng Cái Cui cách đó vài kilômét, cũng là một cảng lớn và được qui hoạch khá hoàn chỉnh trong khu vực. Cảng Cái Cui xây dựng giai đoạn 1 gồm cầu tàu dài 165m, rộng 30m, có thể cho tàu 10.000 tấn cập bến. Cảng có bãi chứa container, bãi tập kết xe, đường nội bộ và bờ kè sông Hậu có công suất khai thác từ 600.000 đến 650.000 tấn/năm. Theo qui hoạch chi tiết đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, cảng Cái Cui có thể tiếp nhận tàu hàng tải trọng từ 10.000 đến 20.000 tấn. Cảng Cái Cui khi hoàn thành sẽ là một bàn đạp cho sự phát triển các khu công nghiệp phía Nam thành phố Cần Thơ và rộng hơn, ra cả miền Tây Nam Bộ. Đầu cầu Cái Cui ở km 9,81 là điểm giới hạn cuối cùng của thành phố Cần Thơ, để đi vào địa phận của huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tuy chỉ có được một đoạn ngắn gần 7km trên tuyến Nam sông Hậu nhưng Hậu Giang có đến 6 chiếc cầu trên tuyến đường là cầu Cái Cui, cầu Cái Dầu, cầu Ngọn Ngang, cầu Ngã Bát, cầu Mái Dầm và cầu Ba Bụi. Trong đó có 3 cây cầu dài trên 200 mét là cầu Cái Cui, Cái Dầu và Mái Dầm. Hậu Giang cũng nhanh chóng đón đầu đường Nam sông Hậu bằng Khu Công nghiệp sông Hậu và một vài dự án về ngành giấy và công nghiệp đóng tàu… rất qui mô. Cầu Cái Côn dài đến 509 mét, cũng là điểm đầu tiên để ta vào địa phận tỉnh Sóc Trăng. Cầu Cái Côn là một trong những cây cầu có cảnh quan đẹp trên tuyến đường Nam sông Hậu. Chúng tôi dừng xe trên cầu, nhìn về phía chợ An Lạc Thôn thuộc huyện Kế Sách trên bến dưới thuyền, rồi nhìn ra vàm sông Hậu thấy cù lao Lục Sĩ Thành xa xa ngoài kia, giữa khoảng mênh mông sóng nước mà chạnh lòng. Xã An Lạc Thôn bây giờ và quận lỵ Phong Thuận ngày xưa chưa từng có tuyến đường ô tô. Có một thời có hai quận lỵ nằm đối diện nhau nhưng quận Trà Ôn bên bờ Bắc sông Hậu, xe ô tô có thể theo quốc lộ 54 đi nhiều nơi: Cái Vồn, Tam Bình, Trà Vinh; còn quận Phong Thuận bên phía bờ Nam này, ít được ai biết tới và chỉ có đường tàu đò. Dưới gầm cầu Cái Côn là con kinh Phụng Hiệp đổ ra sông Hậu, cắt ngang cù lao Lục Sĩ Thành, vào vàm Trà Ôn để qua sông Tiền, một tuyến đường thủy quan trọng bậc nhất, giao lưu giữa vùng Cà Mau với thành phố Hồ Chi Minh, từ thời Nam Kỳ lục tỉnh. Gần năm mươi năm trước, có lần ngồi tàu đưa dâu ngang vàm Cái Côn, tôi đã trong thấy những chiếc tàu kéo nhỏ nhoi nhưng có ống khói to đùng, dòng phía sau chừng vài mươi chiếc ghe chài (ghe vận tải lớn hàng trăm tấn) từ vàm sông đổ ra, nghe nói là chở lúa gạo từ miệt Cà Mau, Bạc Liêu lên những chành lúa ở Bình Đông, Khánh Hội.

Tạm biệt chợ Cái Côn, chúng tôi vượt luôn qua cầu Mương Khai l, cầu Cái Cau, cầu Cái Trâm, cầu Phèn Đen, cầu Lò Gạch rồi tới cầu Rạch Vọp. Đặc biệt nhũng cây câu từ phạm vi tính Sóc trăng trở xuống, đều hẹp bề ngang (6,5m) nhưng nhiều cây khá dài, trên 300 mét, như cầu Cái Cau, cầu Cái Trâm và cầu Rạch Vọp. Cầu Rạch Vọp ở km 29,3, dưới dốc có một xóm dân cư gồm nhiều hàng quán và vài ngôi biệt thự xinh xắn dễ thương. Sau khi ngồi uống cà phê với anh Sáu Khanh, một giáo viên về hưu có 10 công nhãn ở vàm rạch Vọp này, chúng tôi vượt qua hai cây cầu nữa là cầu Cau Trường, cầu Cái Trưng thì đến cầu Trà Ếch, nơi có đường rẽ vào thị trấn Kế Sách. Con đường từ Nam sông Hậu vào thị trấn Kế Sách còn hẹp và vòng vèo, phải qua nhiều cầu nhỏ. Nghe nói huyện đang triển khai đầu tư một tuyến lộ khang trang hơn để nối với đường từø ngã ba An Trạch dẫn vào.

Từ giã huyện Kế Sách, chúng tôi qua cầu Mương Khai 2, cầu Rạch Mọp (dài 322m) để đến cầu Đại Ngãi dài đến 476m ở km 48,11 thuộc huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Thị trấn Đại Ngãi, một trong hai thị trấn lớn của huyện Long Phú, từ xưa đã khá trù phú nhờ nằm trên tuyến đường thủy Cần Thơ - Sóc Trăng và đường bộ cũng quan trọng không kém, do nằm ngay bến phà vượt sông Hậu, thông qua Quốc lộ 60 đi Trà Vinh. Từ khi có tuyến đường Nam sông Hậu, Đại Ngãi như được tiếp thêm nguồn lực mới để cất cánh. Bến phà được mở rộng khang trang hơn, đưa ô tô qua lại huyện Cù Lao Dung, để tham gia nhũng tua (tour) du lịch sinh thái hấp dẫn hoặc tham quan, Khu di tích chiến thắng Rạch Già. Từ Đại Ngãi đi ra phía biển, những cây cầâu trên tuyến đường mới tương đối thưa hơn và có qui mô nhỏ, như cầu Bao Biền, cầu Long Phú, cầu Thầy Cai, cầu Xã Chỉ, cầu Bà Kẹp, cầu Quốc Hội, cầu Ngan Rô trước khi đến thị trấn Trần Đề ở sát bên chân cầu Kinh Ba (ở km 76).

Cầu Kinh Ba là cây cầu duy nhất còn lại trên tuyến lộ Nam Sông Hậu chưa xây dựng xong nên chúng tôi buộc phải đi vòng. Thị trấn Trần Đề là điểm cuối nguồn của sông Hậu nhưng lại là điểm đầu tiên tiếp giáp Biển Đông. Trước kia, thị trấn Trần Đề thuộc xã Trung Bình, huyện Long Phú, nay lại được tách ra thành một huyện riêng của tỉnh Sóc Trăng. Cảng Trần Đề hiện có khả năng tiếp nhận cùng lúc 30 tàu cá, năng lực xếp dỡ 240.000 tấn hàng hóa mỗi năm, trong đó có khoảng 38.000 tấn thủy sản, là một cảng cá quan trọng trong khu vực.

Đường Nam sông Hậu đoạn từ Đại Ngãi đến Trần Đề không còn vườn tược hai bên sum sê như ở địa phận huyện Châu Thành (Hậu Giang) hoặc Kế Sách (Sóc Trăng) nhưng lại là đoạn đường có nhiều tiềm năng. Từ Trần Đề qua cầu Bãi Giá, cầu Mỏ Ó tới sát chân cầu Mỹ Thanh là khu vực tập trung nhiều cơ sở nuôi trồng thủy sản qui mô lớn. Nhiều trại nuôi tôm bề thế nối tiếp nhau, với những căn biệt thự nguy nga, lộng lẫy của các ông chủ vuông tôm gần khu vực Mỏ Ó cho thấy mức độ thành công của mô hình làm ăn này. Những vuông tôm công nghiệp thi nhau mọc lên, cũng có nghĩa là những khu rừng chà là ở vùng này đang bị thu hẹp dần. Ngày trước, các con đuông trên những đọt chà là đầy gai góc, đã góp phần đắc lực vào việc xóa đói giảm nghèo cho nhiều hộ dân nơi đây; bởi đuông chà là vốn là một món đặc sản bổ dưỡng trên các bàn nhậu của khách sang ngoài thành thị. Anh Danh Sên, một người làm công trong trại tôm đang ngồi hút thuốc bên vệ đường, đã tâm sự khi chúng tôi tới làm quen: “Mấy ông chủ vuông ở đây mỗi lần trúng vụ tôm còn vô hơn trúng vé số nguyên cặp”. Vâng Mỏ Ó ngày nay không còn ngậm cá nữa mà đã ngậm vàng.

Rời thị trấn Trần Đề, con đường Nam sông Hậu bẻ ngoặt một vòng cung, dẫn chúng tôi qua cầu Bãi Giá ở km 80, cầu Mỏ Ó ở km 86, cầu Sáu Quế trước khi đến cầu Mỹ Thanh 2. Cầu Mỹ Thanh 2 là một công trình khá qui mô trên tuyến Nam Sông Hậu với chiều dài 611 mét, mặt cầu rộng 12 mét, mới nhìn có nét giống như cầu Bến Lức ở Long An. Tuy hai bên đầu cầu khá vắng vẻ nhưng dòng sông Mỹ Thanh bên duới rộng mênh mông, mang một vẻ đẹp rất riêng khiến ai cũng muốn dừng lại hóng mát và thỏa thuê ngắm cảnh thiên nhiên. Theo một tài liệu trên mạng mà chúng tôi thu thập được, cây cầu Mỹ Thanh 2 này còn là tụ điểm của nhiều tay câu cá bông lau tài tử từ ngoài Sóc Trăng vô, từ bên Cù Lao Dung qua và nhiều nơi khác hẹn đến trổ tài. Cái tên Mỹ Thanh còn gắn với một truyền thuyết xưa về một vị công nương, con gái của chúa Nguyễn Ánh trong lúc chưa thống nhất giang sơn. Theo truyền thuyết này thì trong một lần lẩn tránh quân Tây Sơn, phải trú quân tại khu vực Cồn Nóc, Xâm Pha (thuộc xã Lạc Hòa ngày nay), người con gái yêu đi theo Nguyễn Ánh bị bệnh qua đời và được mai táng tại đây. Về sau, khi quân Tây Sơn truy đuổi ngặt quá, Nguyễn Ánh lại phải bôn đào. Thế nhưng, trước khi ra đi, ông có nhờ một số người ở địa phương nhang khói dùm ngôi mộ. Cám cảnh vị công nương yểu mệnh, bà con chung quanh đã lấy tên nàng đặt tên cho khúc sông chảy qua địa phương mình trước khi đổ ra cửa biển. Truyền thuyết này không biết thực hư thế nào nhưng ngày nay ở khu vực Xâm Pha vẫn còn một ngôi cổ miếu gọi là miếu Hoàng Cô, là người ta cả quyết là miếu thờ cô công nương Mỹ Thanh nói trên. Ở gần cầu Mỹ Thanh còn có một vũng biển có tên là Hồ Bế hiện là một điểm dã ngoại vui chơi và tắm biển thú vị. Hồ Bế là một vũng biển nhỏ nằm sâu phía trong đất liền, thuộc khu vực ấp Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải gần bên cửa biển Mỹ Thanh. Vũng này được tạo thành chủ yếu là do cát vàng bồi bên, mà những đụn cát cứ thay đổi thường xuyên theo mùa gió và sóng biển. Do còn giữ được những nét đẹp hoang sơ và môi trường trong lành, Hồ Bế hiện đang thu hút du khách gần xa vào những ngày cuối tuần đến nghỉ ngơi, thư giãn. Đoạn đường từ Mỹ Thanh về thị trấn Vĩnh Châu mang vẻ thuần phác, hồn hậu, nhưng lại có một bề dày văn hóa rất đặc trưng. Đặc biệt vài nơi có mấy điểm chợ nông thôn chồm ra hơn phân nửa lòng đường. Càng gần tới Vĩnh Châu, chúng tôi càng thấy có nhiều ngôi chùa Kh’mer và những đền miếu của người Hoa với kiến trúc và màu sắc sặc sỡ rất riêng.

Vĩnh Châu là một huyện có thế mạnh về nông nghiệp, đặc biệt trên lãnh vục trồng rau màu. Ngoài củ hành tím, được coi như một đặc sản độc quyền, chiếm hơn phân nửa diện tích đất canh tác, Vĩnh Châu còn có nghề trồng cây thuốc cá trên đất giồng cát và củ cải trắng. Từ cây rau màu, người dân Vĩnh Châu đã chế biến thành món củ cải muối ngon có tiếng và còn biết sơ chế nấm rơm, ớt muối xuất khẩu. Theo lời anh chủ khách sạn Kim Thu ở thị trấn Vĩnh Châu, gần đây, củ hành tím Vĩnh Châu còn được xuất khẩu sang thị trường Mã Lai và Ấn Độ, mở ra những triển vọng và cơ hội làm ăn mới cho nhiều người. Không chỉ đẩy mạnh sản xuất rau màu, Vĩnh Châu còn mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản rất bài bản. Tại một quán cà phê võng ở cách chợ Vĩnh Hải một đoạn, chúng tôi vô tình được dự khán một buổi hội thảo về mô hình nuôi cua biển do một nhóm cán bộ khuyến ngư đến hướng dẫn cho bà con. Sự có mặt đông đủ và phát biểu nhiệt tình của bà con trong buổi hội thảo, đã làm cho chúng tôi nhớ lại những buổi họp tổ dân phố lèo tèo miễn cưỡng ở địa phương mình và ngộ ra một điều: Không phải bà con mình lúc nào cũng ngán lội họp đâu nếu những buổi họp có nội dung phù hợp với những lợi ích của mọi người và đừng kéo dài lê thê thì vẫn được đông đảo bà con đồng thuận.

Từ giã Vĩnh Châu, con đường Nam Sông Hậu lại theo liên tỉnh lộ 38 vượt qua các xã Vĩnh Phước, Vĩnh Tân, Lai Hòa để vào địa phận xã Vĩnh Trạch và chợ phường 7, phường 5, phường 1 của thành phố Bạc Liêu. Càng gần Bạc Liêu đường có vẻ chật chội hơn vì lượng xe khá đông và nhà dân ở sát bên đường. Đoạn này có nhiều cầu nhỏ nhưng móng cầu cao như cầu Trà Vôn, Trà Vôn B, cầu Cần Thăng, cầu Vĩnh Trạch, cầu Thuận Hòa, cầu Thào Lạng… và cầu Tôn Đức Thắng. Hôm chúng tôi đến đây, nhiều mặt cầu còn trơ bê tông, vẫn chưa được láng nhựa hoàn chỉnh. Nhưng nhìn chung cả tuyến lộ Nam sông Hậu dài 147 km đã cơ bản hoàn thành, bao hàm nhiều ý nghĩa mà sau một chuyến khứ hồi hai ngày đêm, chúng tôi đã đúc kết được vài điều.

Thứ nhất, đường Nam Sông Hậu là một con đường dài và có nhiều tiềm năng. Ở đầu cầu Cần Thơ là những trường đại học, những khu công nghiệp, là cụm cảng hàng không và cảng hàng hải quốc tế. Những bệ phóng để phát triển Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ hai, đường Nam Sông Hậu có nhiều cảnh quan thú vị và cũng nhiều di tích lịch sử, văn hóa. Cảnh đẹp thì nhiều lắm. Từ những khu đô thị hiện đại liên kết ở gần đầu đường phía Cần Thơ cho đến những vàm rạch đổ ra sông Hậu, mỗi vàm đều có những cảnh sắc đặc trưng, dễ thu hút khách lữ hành. Vàm Cái Côn (xã An Lạc Thôn) sẽ là một điểm nhấn thú vị, nếu ta dừng chân trên chiếc cầu dài này, nhìn xuống khu chợ An Lạc Thôn nhộn nhịp liền bên, hay ngó thông thống qua cù lao Lục Sĩ Thành như một dải cây nhờ xanh bên kia sông Hậu. Vàm rạch Vọp (xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách) cũng là một vàm sông miệt vườn có sức lôi cuốn. Vàm Ngan Rô gần cảng biển Trần Đề phong cảnh cũng thú vị, nếu nhìn từ cầu ra hướng biển, ta thấy con rạch như bị rẽ đôi.

Tuyến đường Nam sông Hậu không chỉ đẹp về cảnh quan mà còn có nhiều trầm tích văn hóa, lịch sử khá đa dạng. Ở địa phận tỉnh Hậu Giang, cách chân cầu Mái Dầm không xa, có Khu Di tích tưởng niệm cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 và một trường học khang trang cùng tên. Ở địa phận tỉnh Sóc Trăng, ngoài ngôi miếu Hoàng Cô ở Xâm Pha, huyện Vĩnh Châu đã kể bên trên, còn có Di tích Chiến thắng Xẻo Me ở ấp Xẻo Me, xã Vĩnh Phước. Chùa Sêrây Crôsăng ở xã Vĩnh Châu và miếu Thiên Hậu Thánh Mẫu ở khu 4 thị trấn Vĩnh Châu được UBND tỉnh Sóc Trăng quyết định xếp hạng di tích về loại hình kiến trúc - nghệ thuật. Chùa Quan Âm ở ấp Ngãi Hội xã Đại Ngãi được xếp hạng vào loại hình Lịch sử cách mạng. Vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là một hiện tượng khá đặc biệt trong các danh nhân ở miền Nam. Trên tuyến đường Nam Sông Hậu này, ông được hương khói chính thức ở hai nơi: Điểm thứ nhất là ngôi đình thần Nguyễn Trung Trực ở thị trấn Long Phú (được UBND tỉnh Sóc Trăng xếp hạng vào loại hình Di tích Lưu niệm Danh nhân); Điểm thứ hai là đình thần Nguyễn Trung Trực ở vàm Cái Cau, xã An Lạc Thôn, huyện Kế Sách.

Rõ ràng có đi mới thấy mình còn thiếu sót vốn sống rất nhiều. Con đường Nam Sông Hậu xẻ dọc một vùng que, đã giúp anh em chúng tôi đi hai ngày đàng và học được mấy “sàng khôn” vốn sống. Nếu con đường Nam sông Hậu đã tạo điều kiện dễ dàng cho những người từ thành thị về thăm thú cảnh quê thì ở chiều ngược lại, nó cũng mở cửa cho những người nông dân ra chợ tiện lợi, giúp họ có cơ hội học tập tốt hơn để nhanh chóng tiếp cận với cuộc sống mới. Anh Tư Xứng ở dốc cầu Cái Cau đã hào hứng khoe khi anh em tôi ghé thăm: Tháng trước, nửa đêm bị tai biến, nhờ con nhỏ ở Cần Thơ bao tắc xi về đây rước đi bệnh viện tức thì, chưa đầy nửa tiếng đồng hồ. Thiệt! Nhìn con đường mới nầy đôi khi tôi thấy hình như nằm mơ!. Không phải chỉ mình anh mà suốt cả đoạn đường Nam sông Hậu, tôi còn nghe nhiều người cũng có những giấc mơ như vậy!

Nhìn trên bản đồ, tuyến dường Nam sông Hậu tựa như một parabol có đầu tròn hướng ra biển Đông. Nhánh trên của parabol là đoạn dọc theo sông Hậu, từ Cần Thơ xuống cửa Mỹ Thanh. Nhánh dưới bắt đầu từ cửa Mỹ Thanh (điểm tọa độ gốc) đi qua Vĩnh Châu về Bạc Liêu. Ở nhánh trên đường Nam sông Hậu xuyên qua những địa phương có diện tích trồng cây trái lớn trong vùng. Ở nhánh Parabol còn lại, do chạy dọc theo Biển Đông nên chủ yếu người dân nuôi trồng, khai thác hải sản, trồng rẫy và làm muối. Xã Phú Hữu A (Hậu Giang) là một xã nông nghiệp nhưng diện tích đất trồng lúa không đáng kể, trong khi diện tích đất trồng cây trái lên đến 800 ha. Do là vùng trái cây lớn nên việc vận chuyển trái cây từ vườn đến điểm thu mua là cả một vấn đề, ảnh hưởng đến giá thành và chất lượng sản phẩm. Từ khi có đường Nam sông Hậu, mấy ông chủ vườn bỗng “chảnh ngang”, cây trái được thương lái chạy xe đến “coi mắt” và chịu giá ngay tại vườn, không phải cực khổ chở đi xa như xưa. Do đất vườn, đất rẫy trở thành đất mặt tiền nên nhiều nông dân lên đời thành chủ đất, chủ tiệm. Người ít vốn liền mở tiệm cà phê, quán ăn, tiệm uốn tóc, điểm sửa xe; người khá hơn thì đầu tư mở cây xăng, làm doanh nghiệp. Từ Trần Đề đi xuống Bạc Liêu, những người làm nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản cũng thuận tiện hơn trong việc vận chuyển vật liệu và hàng hóa. Đất đai cũng có giá hơn giúp cho một số người có dịp đổi đời.

Dĩ nhiên bên cạnh những ưu điểm về phía chủ trương nhà nước và mức độ thụ hưởng của người dân, việc thi công con đường Nam sông Hậu vẫn còn lắm chuyện vấp váp phải bàn. Vấp váp thứ nhất là tiến độ thi công quá chậm làm ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của người dân. Công trình được chính thức khởi động ngày 19/5/2005 và dự kiến hoàn thành cuối năm 2008, nhưng đến nay, sau 5 năm sáu tháng, vẫn chưa thể khánh thành. Vấp váp thứ hai là ở phần giải phóng mặt bằng, nhiều nơi còn thiếu công bình làm một số bà con bất mãn. Thứ ba, do thi công chậm nên phải bổ sung nhiều lần làm hao tốn ngân sách nhà nước. Trong ba vấp váp nêu trên, có những vấp váp do khách quan nhưng cũng có những vấp váp do chính con người. Nhưng với một công trình lớn như đường Nam sông Hậu, có tổng vốn đầu tư là 3.233 tỉ đồng với 32 gói thầu và hàng trăm đơn vị thi công… thì những vấp váp kể trên là điều không thể tránh khỏi.

Nhìn chung, con đường Nam sông Hậu đã mang lại những lợi ích thiết thực cho hàng triệu người dân ở vùng đồng bằng này. Có thể nói con đường đường Nam sông Hậu như một mũi khoan, đã khoan đúng những vỉa quặng ngầm tạo thời cơ và điều kiện cho bà con mấy tỉnh trong vùng vững bước tiến vào tương lai.

Bút ký của Nguyễn Thanh Hội

--------

(*) Tác phẩm đoạt Giải khuyến khích cuộc thi Bút ký Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV - năm 2010

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác