Chuyện làng tôi

Bút ký của Mai Ngọc Thanh

Làng tôi rất đẹp. Cái đẹp vừa rất riêng lại vừa hao hao như nhiều làng quê ven biển của dải đất miền Trung. Ấy là sự tổng hoà giữa nhà ở, đình chùa với cây xanh và sông, núi cận kề.

Dòng sông Yên (thường gọi là sông Ghép) cắt ngang quốc lộ 1A khi tới phía đông nam làng thì lượn một vòng cung mềm, ngắn rồi vọt thẳng lên phía đông bắc chạm chân núi Lau mới ngoặt lại để phóng dòng chảy ra biển Đông qua cửa lạch Mom. Như vậy là làng tôi nằm giữa một bên là con đường xuyên Việt một bên là sông Yên mà bãi triều nó cho thì một phần đã thành cánh đồng muối có tên gọi Ngọc Diêm (là muối ngọc).

Chuyện làng tôi  - ảnh 1Cái màu xanh tre trúc của làng đã quá quen thuộc, thì còn gì nữa để mà nói. Vậy mà không hiểu sao cho mãi tới bây giờ khi tuổi đã lớn, nó vẫn cứ ám ảnh da diết trong tâm tưởng tôi. Màu xanh ngút ngàn, tràn ra, dâng lên ngồn ngộn. Nhiều đoạn đường làng, nhiều lối sang nhà nhau hai bên tre trúc giao cành, nom chẳng khác chi những đường vòm lục diệp thẳm sâu, hun hút. Nhà người anh con bác tôi ở ngay phía sau nhà tôi, chỉ cách một lối ngõ nhỏ. Thế mà khi có việc gì tôi ngại sang, đứng bên này gọi, gọi rát cổ mà anh vẫn không nghe. Tre ken nhau dày đặc, còn các loại cây đan quấn lấy tre ấy nữa, làm thành một bức tường xanh của vườn nhà tôi và một bức tường xanh của vườn nhà anh, ngăn không cho tiếng nói lọt sang bên ấy.

Có một lũy tre mà ngày nhỏ tôi và những bạn cùng lứa rất thích rủ nhau ra đấy chơi, nhất là mùa hè ở đấy mát và vui lắm. Luỹ tre hình cánh cung ôm lấy gần hết cái ao của bác tôi. Tre đã ken dầy xít xịt còn thêm lớp lớp cây mây leo luồn chằng chịt, tưởng con rắn cũng không chui qua được. Trừ một chú chim bói cá thường trực suốt ngày trên một cành tre, còn thì vô số là cò tá túc hoặc làm hẳn tổ để trú ngụ và sinh đẻ ở đây. Đủ loại cò. Cò trắng, cò hương, cò bợ, cò lửa… Sáng ra, chúng thức dậy xáo xác gọi nhau đi kiếm ăn. Lúc sau là bay vù hết. Chiều xuống, lại đàn đàn lũ lũ kéo về, lại dáo dác cãi cọ nhau ầm ĩ để giành nhau một chỗ đậu, chỗ ngủ.

Nhưng cách một cánh rọc về phía bắc làng thì quanh bờ hai cái ao của hai nhà khác lại chỉ trồng toàn dừa. Việc trồng cây này, không trồng cây khác chung quanh ao là tuỳ nhu cầu khác nhau của mỗi chủ nhân. Như lời giảng giải của bác tôi: “Nhà mình còn là tranh tre thì phải trồng tre trồng mây phòng khi sửa chữa có cái mà thay mà buộc chứ. Ông Biên, ông Tân bên ấy đã có nhà xây lợp ngói rồi thì các ông ấy trồng dừa”.

Ngoài cái ao của bác tôi, trong làng còn có đến sáu cái nữa, chưa kể chuôm. Ao là những chiếc gương của trời cả ban ngày và ban đêm. Ao là những dàn lạnh tự nhiên làm dịu bớt cái nóng của gió tây nam mùa hạ. Cảnh quan làng nếu không có ao sẽ nghèo đi biết mấy.

Nói đến làng không thể không nói đến vườn tược. Những khuôn vườn của làng tôi được cắt ngắn bởi hàng rào của những cây duối, cây găng, cây cúc quì, râm bụt, cây chè mạn. Hàng rào bằng cây chè mạn thì ít thôi, chỉ thấy ở khuôn vườn các nhà giàu có.

Ở làng tôi gần như không có vườn tạp. Bởi lẽ, có chợ Ghép là chợ vào loại lớn nhất trong huyện. lại có bến phà Ghép nữa, nên bao nhiêu các loại trái quả cũng chẳng khi nào lo ế. Các vườn chuyên trồng cây lấy quả. Nhiều nhất là na, cam, chanh. Chuối và ổi cũng nhiều nhưng trồng ở góc vườn và ven hàng rào để tiết kiệm đất cho cây khác. Quả ổi ở vườn làng tôi thì ngon lắm, thơm lắm. Mỗi quả to lắm cũng chỉ bằng cái trứng gà thôi. Và chỉ có hai giống chính là ổi đào và ổi mỡ. Nếu lạc vào một cây ổi nghệ (ruột quả vàng màu nghệ) là chẳng ai chịu để nó trong vườn vì giống ổi này vỏ thì chát mà ruột thì nhạt hoét. Vào tháng bảy tháng tám âm lịch thì các lối ngõ nẻo đường trong làng thơm lừng mùi ổi chín. Mùi ổi chín cũng quyến rũ chim về, những loài chim thích ăn ổi chín như chào mào, sáo đen. Quanh năm làng tôi mùa hoa thì thơm hoa mùa quả thì thơm quả.

Và còn có một mùi thơm nữa rất đặc trưng cho mùa hè làng tôi là mùi thơm của hoa dẻ. Ba nơi trong làng nhiều hoa dẻ nhất là chung quanh giếng đình, chung quanh nghè Thánh Cả và nghè Ông. Hoa dẻ thơm ngọt và nồng nàn lắm. Những cô gái đến tuổi yêu rất thích hái hoa dẻ bỏ túi áo. Để khi có gặp chàng trai đã lọt mắt xanh thì mùi thơm ấy có thể nói dùm những điều khó nói. Nhưng bọn trẻ con làng thời nào cũng thích hoa dẻ ở nghè Ông. Vì ở nghè Ông có rất nhiều hoa dẻ nếp, hoa có cánh dài, to mà hương thì ngào ngạt, ngọt hơn. Ở đây lại có cả khu rừng rậm rạp rộng chừng bốn sào Trung Bộ với bao nhiêu loại cây. Một cây si cổ thụ cao vọt lên mọi cây mà đường kính của tán lá dễ đến ba mươi mét. Đông đúc nhất là cây các, chiều cao cũng phải mươi mười hai mét. Thấy cả những thị, ổi, khế, núc nác… Cây như thế nên nơi này cũng là một vườn chim với rất nhiều màu lông, nhiều âm sắc và cung bậc của tiếng kêu, tiếng hót.

Chuyện làng tôi  - ảnh 2














Làng tôi rất đẹp. Quả là như thế chứ chẳng phải khoe khoang. Nhưng… Từ ngày đi làm xa, vài ba năm tôi mới về thăm làng một lần. Các ông anh họ cứ trách: “Chú sống ở thành phố sung sướng quên mất làng rồi”. Đâu phải vậy. Làm sao có thể quên nơi mình đã được sinh ra và lớn lên. Song, có điều là mỗi khi về nhìn thấy làng lại day dứt buồn. Buồn vì tất cả cái đẹp tôi kể ở trên đã vĩnh viễn lùi vào quá khứ, đã thành chuyện “Ngày xửa ngày xưa…” rồi!

Cây đa ao đình tuổi phải đến vài trăm năm, đâu rồi! Cây đa vừa già lụ khụ đeo đầy những ông bình vôi, vừa non tơ với bao nhiêu rễ phụ phân thân đã cắm vào đất để đời đời vẫn cứ xanh tươi, đã bị chặt hạ tự bao giờ. Cây đa đầu làng nữa, đâu rồi! Cây đa mà bóng của nó mát cả đồng. Cây đa mà tôi có phần bóng mát ở lại có cả cái phần hồn làng ở đó. Những ngày phải đi học trọ, những ngày đã ra làm việc ở nơi xa, mỗi khi về cách làng ngót cây số đã nhìn thấy tán xanh hoà của nó. Và thế là xao động, và thế là hồi hộp: Làng kia rồi! Vậy mà cũng đã bị chặt hạ. Cây là cảnh quan, là môi trường. Cây cũng là văn hoá, là tâm linh của người nữa đấy.

Làng tôi hôm nay xem ra giàu có hơn rất nhiều. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ có 7 căn nhà xây lợp ngói. Mà nay số nhà tranh tre chẳng còn đáng kể. Ngả nào cũng thấy sừng sững nhà xây mái bằng, có cả nhà tầng. Chỉ nhà và nhà… Những nhà cứ đứng nghệt ra, nhìn sang nhau thông thống. Khách lạ tới khó mà tìm được một chỗ tương đối kín đáo cho đầu ra của… Gần như chẳng còn tre pheo gì nữa. Na, chanh, cam… đã nhường chỗ cho cây thuốc lào. Vườn tược của các gia đình đều thuốc lào hoá tuốt tuộn tuột. Hàng rào ngăn cách vườn, ngăn cách nhà cũng đã phát quang hết để nới rộng đất cho thuốc lào.

Ở làng tôi bây giờ một nải chuối cho ngày giỗ kỵ ngày tết, đã thành của hiếm. Có lẽ phải chờ đến khi trở lại ngày xưa!

Thuốc lào là thứ cây phàm ăn phân, chủ yếu là phân bắc tươi. Trong những tháng trồng, chăm thì nhà nào cũng một cái bể ngâm đầy phân bắc tươi. Mùi phân bắc tươi lại thêm mùi rất nặng của lá thuốc nữa, khiến không khí trong làng nồng nặc, tức tưởi.

Hết rồi mùi thơm của na, của chanh của cam của ổi. Cũng không còn nữa những ngày mùa hè ướp đằm trong mùi thơm hoa dẻ. Từ lâu nghè và đền đã phá dỡ đi để chứng tỏ là không mê tín dị đoan thì khu rừng nhỏ ở nghè Ông cũng hết được lây cái thiêng của thánh thần, nên dần dà đã hoá củi hoá than tất tần tật. Mãi mãi tắt lặng tiếng chim cu gáy ở đây mà mỗi khi cất lên lại xui lòng dễ xúc động của những đứa trẻ như tôi ngày ấy cảm thấy bâng khuâng giữa sự cô tịch của buổi trưa sâu thẳm, mênh mông vắng mẹ. Và cũng hết đồng vọng tiếng con chim vịt kêu chiều khiến mấy người quê tận đồng bằng Bắc bộ đi tha phương rồi đỗ hẳn lại đây nghe được, lại nao nao một nỗi nhớ nhà. Những con trĩ hoa, dải phướn có bộ lông sặc sỡ như công cũng biến hết rồi. Luỹ tre vườn cây đã trụi thùi lụi thì chim cò phải bán xới rủ nhau đi là điều dễ hiểu.

Thuốc lào và dân số tăng nhanh dẫn đến việc lấp hết ao chuôm và cả cánh rọc trước đình làng (vốn chỉ để trồng rặt một giống nếp thơm hoa vàng) để làm thổ canh thổ cư. Không còn chỗ chứa nước, cứ mùa mưa đến là làng ngập ngụa. Năm nhiều mưa bão, nhiều áp thấp nhiệt đới thì nước ngâm làng bốn năm ngày liền. Thêm nữa, con sông Yên đã lở vào phía làng, ngoạm mất bãi sú vẹt và cánh đồng muối. Bây giờ làng nằm chẹt vào giữa một bên là quốc lộ 1A một bên là con đê ngăn mặn. Thế là việc tiêu nước ra sông chỉ còn trông vào vài cái cống dưới chân đê, nên tiêu rất chậm. Phải lúc triều cường mực nước ngoài sông và trong làng ngang nhau thì khốn khổ gấp bội. Và cũng từ có con đê lù lù dựng lên đó thì những luồng gió đông nam mát rười rượi từ biển từ sông thổi vào đã bị chặn lại. Mà gió tây nam hầm hập lửa thì tha hồ quần đảo như muốn rang người đến quắt queo. Dẫu làng có điện rồi nhưng không phải nhà ai cũng đã có quạt điện. Vả lại, cái mát nào bằng mát của gió trời, mát của cây xanh và mặt nước.

Từ buổi ông tổ của một chi họ Mai Ngọc dời quê gốc Nga Sơn kéo bầu đoàn thê tử vào mảnh đất cát pha ven sông Yên này dựng làng lập nghiệp, đã gần 350 năm. Mà nay nhìn lại ngỡ một vùng của những di dân vừa từ đâu đến, mới chỉ kịp cất nhà, chưa kịp trồng cây để thành làng.

Làm thế nào đây để có lại cảnh quan làng như tôi đã biết.

Chuyện làng tôi  - ảnh 3Làng ngày nay không còn là đơn vị hành chính cuối cùng của quốc gia với hương ước nghiêm ngặt ai cũng phải tuân theo. Đó là cái khó. Nhưng cái khó ấy chẳng thể cản ngăn những người hôm nay muốn làm cho làng mỗi ngày một đẹp lại. Phải huy động trí tuệ và công sức của chính dân làng để bắt đầu làm lại như hơn ba trăm năm trước tổ tiên đã bắt đầu. Ví như bắt đầu trồng lại một cây đa, hai cây đa thì một trăm năm sau con cháu làng mới có tán xanh mà ngắm, có bóng mát mà ngồi. Bắt đầu làm lại trong hoàn cảnh, điều kiện bây giờ ở tầm “vi-mô-làng” và cả ở tầm “vĩ-mô-xã”. Tại sao lại cứ để cảnh sân trường với mấy cây lơ thơ thế kia nhỉ? Tại sao lại cứ để sân trụ sở uỷ ban, đảng uỷ xã cứ trống huênh trống hoang thế kia nhỉ. Sân trạm y tế cũng vậy. Cây cũng là thuốc cho sức khoẻ con người đấy chứ?

Là đứa con của làng, dẫu đã ở xa, lòng tôi vẫn cháy bỏng một mong ước làng sẽ hồi sinh nét đẹp truyền đời. Có như vậy thì cái mới cái giàu ngày nay mới trở thành mảng màu duyên dáng hoà nhập được vào bức tranh làng sâu đậm và thấm đẫm hồn quê.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác