Chợ biển mênh mông ký (*)

Nói đến nông dân đi chợ, cái đầu thiển cận của tôi nghĩ ngay đến chuyện đi chợ thế giới mà choáng váng. Không choáng váng làm sao được khi tai ta, mắt ta, chân ta đã quen thuộc với cảnh chợ bên lũy tre làng, rồi đến chợ huyện, chợ tỉnh. Nay không phải người nông dân đi chợ quốc gia mà còn đường hoàng có cả một gian hàng to, cao ở cái chợ quốc tế.

Ấy là tôi nói thế bởi tôi đã đọc trên báo đâu đó nói rằng Việt Nam gia nhập với 21 nền kinh tế APEC một Tổ chức kinh tế của 40% dân số thế giới, chiếm 56% GDP và 48% kim ngạch thương mại thế giới. Bây giờ ta lại gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, là thành viên thứ 150.

Mỗi cái chợ có nền nếp của nó theo sự điều hành của Ban quản lý chợ, Trung tâm, Tập đoàn quản lý chợ. ở đây tôi chỉ nói đến cái chợ trên biển, phương tiện là những cái tàu, nên ta thường gọi là “Tàu chợ”. Tàu chợ mà tôi nói không phải là những tàu chở hàng đi bán dạo theo kênh mương, sông rạch. Chợ trên sông ta đã nghe và thấy nhiều. Cái tàu chợ mà tôi muốn nói ở đây là tàu chợ biển.

Sau này có đông lên không thì tôi chưa dám chắc, nhưng bây giờ tôi đang trên chiếc tàu một thân một mình giữa biển cả để mua, để bán mà tôi có vinh dự được tháp tùng đi theo. Tôi xin viết ra đây “Chợ biển mênh mông ký” để hầu bạn đọc .

Hãy khoan nói về cái chợ mênh mông này, tôi xin vòng vo một chút về cái chợ thế giới. Theo nhiều Tập đoàn thương mại của nhiều quốc gia thì “Việt Nam là ngôi sao đang lên của khu vực”; “Việt nam là điểm tựa của các nhà đầu tư”; “Gia nhập WTO Việt Nam hấp dẫn hơn”…

Ngôi sao, điểm tựa, hấp dẫn…. đến cỡ nào thì người nông dân cũng thấy tất cả đều trong tầm tay. Bởi nó là gạo, là trái cây, điều, cà phê, mít, dứa, cam, xoài, quýt, nhãn, hồng, lê, thủ, lựu trong vườn nhà mình và là tôm, là cá, là nghêu, là sò… trên biển của quốc gia mình nhiều vô số kể.

Người nông dân Việt Nam hiểu hơn ai hết về những sản phẩm mà mình làm ra chứ quyết không thể từ những lời khen, khoa trương, tâng bốc nào để có thể làm cho hột gạo tròn thành hột gạo dài hay con cá nhám thành con cá thu được.

Bấy lâu nay làm chuyên mục khuyến nông, khuyến ngư cho Đài phát thanh truyền hình Bạc Liêu, thường thì tôi chỉ theo nhà nông lội mương, lên vườn chặt cây hái quả hoặc quẩn quanh với mùa thu hoạch tôm nuôi theo vuông theo khoảnh, dạn dĩ lắm thì ra tới bờ biển dọc theo rừng mắm từ Nhà Mát đến Gành Hào hoặc ngược lên phía Vĩnh Châu thuộc tỉnh Sóc Trăng viết về mấy bãi nuôi nghêu, nuôi sò, giăng mực, câu cua ven bờ.

Những chuyến đi như thế, thường là tôi theo các tàu nhỏ có cánh buồm nâu như chiếc lưỡi cày chìa vôi lật ngược vạch lên trời xanh, ngâm mình dưới biển mặn mà kiếm sống.

Lần này thì tôi bước lên chiếc tàu lớn có trọng tải hàng trăm tấn, lấy tàu làm nhà, lấy biển khơi xa làm bầu làm bạn. Tàu tách bến lúc tám giờ sáng ngày 10 tháng 8 năm 2010 nhằm ngày mùng một tháng bảy năm Canh Dần.

Chợ biển mênh mông ký (*)  - ảnh 1
Tàu về trên cảng Gành Hào
Cái gạch nối giữa đất liền với biển là bến cảng Gành Hào ngày mỗi lắc lơ xa dần trong đôi mắt cận của tôi. Tàu tôi chẻ dọc những ngọn sóng ngổn ngang tiến ra khơi xa. Sóng gần bờ thì chồm lên mạn tàu
, nhưng khi tàu ra xa thì sóng chỉ vập vồ thân mật.

Sau hai tiếng đồng hồ, giữa khoảng trời xanh, biển xanh, tôi thấy mình nhỏ bé như con kiến bò trên sa mạc. Thuyền trưởng Đức Lợi I Văn Phước cho tôi biết với trời quang mây tạnh như thế này thì phải sau ba mươi tiếng đồng hồ, nghĩa là phải hai giờ chiều ngày mai, ngày 11 tháng 8 tàu mới đến được với ngư trường.

Ngư trường là nơi tàu đánh cá của ngư phủ. Phần lớn là tàu của các tỉnh từ Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu đều có mặt. Nơi ấy sẽ diễn ra một cái “chợ”, tôi tạm gọi là chợ vì là nơi diễn ra mua, bán theo truyền thống trao đổi hàng hoá. Ngư phủ cân cá cho tàu chợ và tàu chợ chuyển giao cho họ dầu, các nhu yếu phẩm. Sau khi đối trừ, phần tiền còn chênh lệch, tàu chợ về đất liền thanh toán cho gia đình chủ tàu cá chứ không phải giao tiền mặt. Có khi còn thanh toán theo chuyển khoản hoặc chuyển vào tài khoản ATM cho người bên phía tàu cá.

Tôi thầm phục anh thuyền trưởng Văn Phước, đúng hai giờ chiều ngày 11 tháng 8, có thể sớm hơn mươi mười lăm phút, tôi thấy Văn Phước nói rổn rảng qua máy bộ đàm để nối liên lạc với các tàu đánh cá.

Qua cách nói của Văn Phước, tôi biết anh đang thăm dò xem tàu nào đánh được bao nhiêu cá, theo thói quen thì tàu nào đánh được nhiều cá sẽ được trao đổi trước, việc này do tàu chợ tự quyết định theo kiểu xử lý thông tin đơn tuyến.

Văn Phước biết là đầu tuần trăng, mới mùng hai tháng 7 âm lịch, thời điểm này đánh bắt không trúng là đúng rồi. Nghề nghiệp của người đi mua cá cũng như người đi đánh cá, ai cũng biết thế, nhưng như thế không có nghĩa là bỏ nhau. Làm ăn thì có khi này, khi khác chứ ai đâu chỉ biết cho riêng mình.

Các thông tin đáp trả cho anh biết là có tàu chỉ mới được trăm ngoài ky-lô cá, mà là cá kém, có thể phải chờ vài ba lần bủa lưới nữa. Mỗi lần tìm cá và bủa lưới phải mất một ngày một đêm, có nghĩa là nhanh cũng phải đợi bốn mươi tám tiếng đồng hồ nữa mới gặp nhau giao dịch được.

Chiều ngày 13 tháng 8 tàu Đức Lợi I mới có cuộc giao dịch đầu tiên trong chuyến đi với tàu lưới của Bình Định. Đây là tàu lưới bao hay còn gọi là lưới rút. Một thuyền viên của tàu Bình Định không nói tên giải thích cho chúng tôi biết loại phương tiện này sử dụng lưới dày, lưới dày là lưới có mắt nhỏ, chỉ thả xuống được ở tầng nước lửng. Tầng nước lửng thường là chỗ di trú của cá lớn lẫn cá nhỏ, mà cá nhỏ nhiều hơn cá lớn. Cá nhỏ không xuống tầng nước sâu hơn được do áp suất của nước có muối nặng làm váng đầu.

Cuộc giao dịch đầu tiên này không lấy gì làm thoả mãn cho cả hai bên, nhưng nó lại mở hàng cho các cuộc giao dịch tiếp theo sôi động hơn và kết quả cao hơn.

Máy bộ đàm của Văn Phước liên tục nhận được tín hiệu trao đổi hàng. Anh phải ghi vào sổ để trả lời tiếp nhận trao đổi hàng, nhưng phải theo thứ tự truyền thống kẻ trước, người sau. Cái luật bất thành văn của “chợ” biển dựa vào chữ “tín”. Anh nói tôi tin.

Có một tàu chợ mà nhiều tàu cá, nên xem ra những người trên tàu chợ phải làm việc liên tục cực nhọc hơn. Tàu cá chỉ sau trao đổi hàng xong là họ thảnh thơi về với ngư trường của mình. Còn tàu chợ cứ phải liên tiếp với những cuộc trao đổi nối đuôi nhau.

Quan sát, tôi thấy tàu cá áp sát vào tàu chợ khi nhận được tín hiệu cho phép. Những sợi dây thừng được các thuyền viên tung qua, tung lại, cột chặt vào những trụ cố định của hai tàu. Những con tàu có trọng tải cả trăm tấn, bồng bềnh trên sóng biển, được những sợi dây thừng bằng ngón chân cái giằng néo dựa sát vào nhau.

Tuy sóng không lớn, hai tàu lại dựa vào nhau, nhưng tàu vẫn lắc lư, chao đảo. Người trên tàu đi lại phải lựa theo chiều lắc lư của tàu mới không bị ngã. Khi viết bài ký này, giở sổ ghi chép, tôi mới thấy chữ nào chữ ấy cũng chao qua đảo lại như con tàu trên sóng biển. Trong trường hợp ấy, tôi thấy chỉ anh chàng vác camera quay phim là giỏi. Người anh và máy thì cứ chao nghiêng đi, nghiêng lại, vậy mà khi hình ảnh đưa lên trong chương trình chuyên đề kinh tế thì đố thấy sol nào bị trao đảo. Chả thế mà có lần nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã căn dặn:Nhà báo phải cần có sức khoẻ” là vậy.

Khi tàu chợ và tàu cá đã cặp chặt vào nhau, các thuyền viên của hai tàu nhanh chóng chuyển cá sang tàu chợ. Mặc dù không có một thiết bị bảo hiểm nào, những động tác “thẩy - chụp” được vận hành như một dây chuyền công nghệ thuần thục.

Cá từ tàu khai thác chuyển sang tàu chợ không cần phải đưa qua cân mà được tính bằng “két” (loại két đựng bia chai) nếu là cá nhỏ. Mỗi két cá như thế được tính bình quân tương đương mười ki--gam. Đối với cá cỡ lớn thì phải qua cân. Cá sang tàu chợ được xếp vào các hầm có chứa sẵn đá lạnh để giữ tươi.

Cá được phân loại từ tàu khai thác. Loại cỡ nào phải qua cân, loại cỡ nào thì cho vào két. Khi chuyển sang hầm tàu chợ, các loại cá cũng được để riêng theo kích cỡ đã phân loại để tiện cho việc bảo quản.

Hàng hóa được luân chuyển hai chiều, dứt điểm xong từng giao dịch. Sau khi nhận cá, tàu chợ chuyển ngược sang tàu cá những mặt hàng theo yêu cầu để tàu cá có đủ điều kiện tiếp tục công việc khai thác của mình.

Vô số là những thứ hàng như dầu, đá lạnh, gạo, thịt heo, gà vịt, rau tươi các loại, nước ngọt… có cả bia và thuốc hút…

Không biết giữa tàu chợ và tàu cá có giao kết với nhau như thế nào hay không chứ thực tế tôi thấy tàu chợ sau khi tính gía trị toàn bộ các loại sản phẩm, họ chỉ khấu trừ của tàu cá số tiền dầu, còn lại toàn bộ các nhu yếu phẩm, các thứ để các thuyền viên ăn uống sinh sống trên tàu cá đều được tàu chợ đãi thọ miễn phí, gọi là chút lộc biển “trời cho”.

Ba tàu Đức Lợi mỗi chuyến “đi chợ” như thế phải đầu tư cho mỗi tàu từ một trăm đến một trăm hai mươi triệu đồng. Chứng kiến cảnh trao đổi hàng hoá trên biển, tôi ngẫm nghĩ : Đất nước mình được phân chia một cách ước lệ rằng “tam sơn - tứ hải - nhất đẳng điền” có nghĩa là ba phần núi, bốn phần biển, một phần đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp thì chỉ có một mà nông dân lại chiếm tới 85% nên thiếu việc làm là phải. Theo kế sách người xưa khuyên cháu con nên mở mang bờ cõi về phía biển, ra biển mà làm ăn, mà khai thác, mà kinh doanh mới là thượng sách. Mỗi con người phải biết không sợ nghèo mà chỉ sợ mình không ráng sức làm việc cho tự cường thôi. Người ta tìm cá chứ cá làm sao mà tìm được người.

Anh Liên Văn Lợi, chủ doanh nghiệp tư nhân Đức Lợi, (Doanh nghiệp có ba chiếc tàu chợ Đức Lợi I, Đức Lợi II, Đức Lợi III) đưa tay xoa bụng làm một con tính như thế này: Chỉ một tàu chợ đầu tư vốn lưu động hơn một trăm triệu đồng đã có thể khắc phục cho từ 30 đến 35 tàu cá không phải cất công vào ra giữa đất liền với ngư trường, giảm chi phí nhiên liệu khoảng 40.000 lít dầu cho mỗi tàu cá. Số dầu này sẽ được đưa vào khai thác liên tục, kết quả ấy thật khó tính là bao nhiêu. Tàu chợ của tôi mỗi tàu, mỗi chuyến như thế nhận bình quân 50 tấn cá các loại. ở đây không chỉ nói nhận được cá ít hay nhiều mà là cá tươi. Cá tươi mà lại lớn mới có giá trị kinh tế cao, khách hàng quốc tế rất ưa chuộng.

Muốn mua cá lớn thì tàu chợ phải cất công tìm kiếm với các chủ ghe lưới cản. Lưới cản là loại phương tiện đánh bắt với hình thức cố định một đầu lưới, đầu còn lại được thả trôi theo chiều nước chảy. Loại lưới này có mắt lưới kích cỡ tương đối lớn, mỗi mắt có đường kính khoảng từ tám phân đến một tấc. Lưới được thả ở tầng sâu dưới mặt nước biển. Cá hoạt động dưới tầng sâu so với mặt nước biển là loại cá ngừ, cá chim, cá nhám hoặc là cá cờ. Các loại cá này không ưa sống trôi nổi trên tầng nước cạn, nó có ưu thế là cứng đầu, chịu đựng được với độ áp suất cao của nước biển.

Cá ngừ, cá thu là loại cá hợp khẩu với khách hàng Nhật Bản, Trung Quốc. Họ thường xuyên đặt mua hết các loại cá này với bất cứ nhiều hay ít.

Sinh hoạt của anh em thuyền viên trên tàu chợ không phải lúc nào cũng tất bật. Những khoảng thời gian chờ tàu cá đến trao đổi, anh em túm tụm bên nhau ngay ở trên sàn tàu. Họ cụng ly côm cốp một trăm phần trăm theo khẩu lệnh một… hai… ba… dô. Ai không uống bia thì thảnh thơi ngồi bên lề câu mực. Mực mới câu còn tươi rói, cứ thế bỏ vào nồi nước dấm chua trên chiếc bếp ga nhỏ đỏ lửa chờ sẵn… Cách ăn mực kiểu này vua chúa thời xưa mơ cũng chẳng có. Rau xanh các loại trộn với hoa chuối sắt nhỏ làm thức độn với mực luộc nước dấm chua. Hoa chuối có khi chỉ cần lấy tay cầm đập vào mạn tàu rồi xẻ đôi… Món này đúng ra là phải uống rượu đế đựng trong chai nút lá chuối khô mới bắt miệng.

Chủ tàu không cho uống rượu mà chỉ cho uống bia thôi. Theo chủ tàu thì: Sức vóc này uống bia, đái cái là hết chứ còn “tích thủy” ở đâu nữa mà say với xỉn. Chứ uống rượu á! Nó ngấm, nó nghía vào trong người, gặp mưa, thấy sóng, chỉ có mà “bai”.

Chủ tàu thường khích tướng mấy anh em khi thấy mực luộc, cá thu hấp tương còn lưng tô:Rau muống còn ăn vã được, mực cá là của trời của biển mà bỏ là tội chết nghe chưa ?”. Nghe giảng giải thế, anh em nhìn nhau mà thấy sợ! Sợ cái nhân tình thế thái, sợ cái linh khí của trời biển, sợ tiền oan nghiệp chướng. ăn vã mực, cá riết cũng thành quen, hợp thung hợp thủy. Tiếng của trời biển âm dương hòa hợp, tôm cá giao hoan.

Đang lúc hứng chí, một thuyền viên tàu Đức Lợi I chừng ba mươi ngoài tuổi, nước da ngăm rám nắng nhưng không làm mất đi cái dáng vẻ thư sinh. Anh từng thi tú tài trượt về nhập cuộc làm nghề tàu chợ. Anh lý sự: Đặc tính của thời gian trôi chảy là tuần hoàn, tượng trưng cho cái sự tuần hoàn đó là cái vòng tròn. Anh em thử nhìn lên trời xem nó có tròn không nào? Thế cho nên cụ Nguyễn Du nói trong truyện Kiều rằng :

Trăm năm tính cuộc vuông tròn

Phải dò cho tới ngọn nguồn lạch sông.

Thế ta chẳng đã ra tới biển mà buôn mà bán rồi chứ còn “ngọn nguồn” với “lạch sông” cái gì nữa. Có đi như vậy mới biết trời tròn là sao, đất vuông là sao để còn tính cái chuyện trăm năm chứ!

Anh còn kể lúc chưa lên tàu Đức Lợi này, anh hành nghề xe ôm. Đời cũng lắm chuyện cười mà không dám cười. Anh nói: Mình đi biển có nghề đi biển. Có người sinh ra chẳng học nghề gì mà chỉ học độc một nghề “hỏi”. Để nhớ lại coi, lúc xe đi qua trạm kiểm soát; anh đi, hỏi giấy; anh về, hỏi giấy. Vừa qua khỏi trạm quên mũ quay lại lấy cũng hỏi giấy rồi mới cho vào; cho xe ra lại hỏi giấy. Nhận giấy trình thì phải đọc. Mươi mười lăm phút đánh vần mới đọc xong cái giấy cũng chừng ấy chữ.

Anh ta đơn giản hóa câu chuyện bằng một triết lý vì sao anh bỏ nghề xe ôm : Học cách kiếm sống thì không khó mà cái khó là học cách sống. Mỗi chuyến đi biển như thế này mình chả học được khối điều đấy sao.

Dứt lời, anh còn tính như ông chủ tàu cá Trọng Tuyết Lê Hữu Triệu đã từng tính: Về phía tàu đánh cá, có thể tiếp tục bám lấy ngư trường đang đánh bắt, nhất là khi gặp luồng cá đang di trú. Không bỏ lỡ thời cơ luồng cá đông ken. Không phải bỏ phí thời gian vào ra đất liền tầm ba bốn ngày; mà đã cho tàu cập bến thì muốn hay không cũng phải giải quyết tâm lý cho thuyền viên xả hơi ở nhà từ một đến hai ngày. Mỗi lần vào ra như thế thiêu đốt nhiên liệu cả ba mươi, bốn mươi ngàn lít dầu… nói chung là lợi, lợi vô số kể.

Còn tàu chợ Đức Lợi như ông chủ mình đây, mua được cá tươi về bỏ mối cái rụp rồi nhắm chừng mà ra khơi nữa, mỗi tàu bỏ túi ba, bốn chục triệu cho một chuyến đi là cái chắc.

Cứ tính đi, mỗi tàu mười lăm thuyền viên, một ngày, dài ngày, một tàu, ba tàu, cứ thế mà nhân lên xem doanh nghiệp tư nhân Đức Lợi đã thu hút được bao nhiêu ngày công lao động. Như anh em mình đây, mỗi tháng đi ba, bốn chuyến, mỗi chuyến ba đến bốn triệu đồng một người, lương thế có mà nằm mơ.

Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu từ năm 2011 đến 2015 về thủy sản biển là “Tăng cường đánh bắt thủy sản xa bờ. Chú trọng phát triển đa dạng các dịch vụ phục vụ kinh tế biển”. Phục vụ là gì à? Đâu phải chỉ tàu to tàu nhỏ, tàu có công suất cao; cũng đâu phải chỉ có tiền ở các nhà băng hay kho bạc mà vấn đề là phải biết tiêu tiền như thế nào ? Tiêu vào các loại dịch vụ nào để phục vụ cho kinh tế biển?

Sẽ là hiện thực, trong thời gian này, Bạc Liêu đã và đang đầu tư cho phát triển “Khu kinh tế Gành Hào”; “Cảng biển Gành Hào”; “Cảng cá Hiệp Thành”; “Cảng cá Cái Cùng”… tạo một vành đai đô thị ven biển trên dưới năm chục ki--mét từ Gành Hào giáp tỉnh Cà Mau đến Nhà Mát thuộc Thành phố Bạc Liêu.

Một vành đai đô thị tiếp giáp với vành đai xanh rừng mắm là con đê Trường Sơn hùng vĩ nằm sóng soài án ngữ sóng biển Đông.

Trong các cửa biển của Bạc Liêu thì cửa biển Gành Hào là cửa biển lớn nhất, có độ sâu trong sông từ mười lăm đến mười sáu mét, là cửa ngõ quan trọng cho tàu cá biển Đông ra vào mua bán và trú bão.

Hiện toàn tỉnh có 346 tàu khai thác biển xa bờ, trong đó riêng Gành Hào của huyện Đông Hải đã có 191 tàu. Biển xa bờ là biển có độ sâu từ ba mươi mét trở lên.

Sẽ là một thiếu sót khi nói về tàu chợ mà không nói đến Cảng cá Gành Hào. Đây là một dự án của tỉnh, tháng 3 năm 2005 tỉnh bàn giao cho huyện với tổng vốn đầu tư gần 28 tỷ đồng. Cảng cá chính thức đi vào hoạt động từ tháng một năm 2007.

Cảng cá Gành Hào hiện có mười chín vựa để thu mua thủy sản. Các tàu thường vào Cảng để mua bán phần lớn là tàu của các tỉnh Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, Bình Định, Kiên Giang. Phương thức mua bán ở Cảng có khác so với tàu chợ là thường thì các chủ vựa ứng trước cho chủ tàu cá từ hai mươi đến năm mươi triệu đồng, gọi là tiền đặt cọc cho chuyến ra khơi. Các vựa chỉ hoạt động ban ngày, đêm tàu về phải neo đợi vì các vựa đều nghỉ cả. Tàu đợi vựa chứ vựa không đợi tàu.

Chủ vựa Thanh Tâm cho biết: Sau khi cá được cân giao thì vựa phải phân loại:

- Tôm thì đem gia công tại Công ty chế biến sau đó mới bán lại cho ngay chính Công ty chế biến nơi nhận gia công ấy.

- Loại cá phân đem bán cho Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc.

- Loại cá có giá trị thì vựa thuê xe đem bán cho các chợ lớn ở các tỉnh.

- Riêng về mực, chủ tàu cá muốn bán cho ai thì tùy.

Nếu vận hành trôi chảy thì cung cách làm ăn cổ truyền này cũng tạm gọi là “xuôi chèo mát mái”. Nhưng cái vướng lại ở ngay chỗ vựa cá. Sau khi thu mua được mà đưa đi tiêu thụ thì gặp không ít khó khăn. Khó ở chỗ khi xây dựng thị trấn Gành Hào, người ta chỉ làm những cái cầu theo dạng “tiểu nông”, nghĩa là chỉ phục vụ cho những chiếc xe có trọng tải từ ba tấn trở lại. Nếu vậy thì riêng trọng tải xe cũng đã nặng khoảng 1,5 tấn, còn lại hàng hóa chỉ được chở tối đa là 1,5 tấn. Đối với chở cá, tôm thì phải có đá để ướp làm lạnh mới tránh được hư hao. Trong số 1,5 tấn hàng này đã có 400 kg đá lạnh, như vậy một chuyến xe chỉ chuyên chở 1,1 tấn cá hoặc tôm mới được qua cầu.

Sau nhiều lần cầu được gia cố để khắc phục khó khăn, nay cầu cho xe có trọng tải 5 tấn lăn qua. Với phép tính như trên thì mỗi xe cũng chỉ chuyên chở được 2,6 tấn tôm, cá là nhiều nhất.

Mỗi vựa hoạt động trên Cảng cá cũng phải gồng mình cõng đủ thứ phí. Thuê mặt bằng 100m2/vựa, chủ vựa tự xây dựng theo mẫu mã quy định của Cảng, hàng tháng đóng phí thuê mặt bằng 375.000 đồng. Vựa phải thuê xe chở hàng, mỗi lần xe vào ra Cảng cũng phải nộp phí 10.000 đồng; cá qua Cảng cũng phải nộp phí 10.000 đồng/tấn. Do vậy mà tàu cá phải chi phí tăng, tốn kém, hao phí đủ thứ vì vựa cá có nộp đi chăng nữa thì tất tần tật vẫn đổ lên đầu tàu cá. Nhưng ngược lại là cái vòng luẩn quẩn :Nếu tàu cá xuống thì chủ vựa chúng tôi cũng chuyển nghề theo”. (Chủ vựa Thanh Tâm nói vẻ bi đát).

Chủ vựa cá Ba Chư thì cho rằng có Cảng cá rất thuận tiện, lợi ích cho từ người khai thác biển đến người tiêu dùng. Nhưng cái khổ sở thì vẫn còn đó,Cái cầu mới là đầu nỗi khổ”, rồi đến cái cân. Có 19 vựa thì không vựa nào có cân giống cân vựa nào. Tàu cá có người còn mang theo cân đi để cân cá. Làm riết thành quen. Quen rồi rên cũng quen luôn. Rên quá tàu cá nản không vào Cảng nữa. Suy cho cùng, khổ còn là ở cái… cân không bằng.

Ông cha ta đã dạy: cùng thì bí; bí thì thông; không thông thì tử!

Tàu chợ đã khai thông cái cùng, cái bí của lề thói làm ăn chỉ biết đến lãi mà không vì cái lợi. Vì lãi nên họ đối phó nhau để vì mình. Còn nếu vì lợi thì người ta đã không trưng ra cái lý thuyết “thiệt hơn” mà là hợp sức làm ăn sao cho mọi người đều có lợi, mọi người cùng có ăn.

Thật ra mô hình tàu chợ này không phải lần đầu tiên mới có ở Bạc Liêu mà nó đã hình thành từ hơn mười năm trước ở Minh Hải. Tàu chợ lúc đó chỉ hoạt động ven cụm đảo Hòn Khoai, hòn Đá Bạc… Cái kiểu như đón chặn để mua cá bên ngoài cửa biển trước khi tàu cá vào đất liền.

Bây giờ tàu chợ Đức Lợi là một trong nhiều các tàu chợ khác vận dụng phương thức “mua tận gốc, bán tận ngọn”, tức là mua cá ngay tại ngư trường, bán trực tiếp cho nhà chế biến xuất khẩu hoặc người tiêu dùng là đầu mối ở các chợ trong và ngoài tỉnh.

Anh Liên Văn Lợi nắm chặt tay tôi nói như một lời nhắn gửi: Làm ăn bây giờ không thể chậm chạp như tập thể dục dưỡng sinh được. Thường thì “nhân bần tật trọng” (người nghèo thường bệnh nặng). Mình bây giờ phải cố gắng sao cho dẫu có nghèo cũng không lâm trọng bệnh, có như thế mới làm ăn được, đi lên được.

Từ giã Cảng cá Gành Hào, xe tôi lao nhanh giữa hai hàng thông reo vi vút. Xen lẫn tiếng thông reo là tiếng sóng biển Đông vượt qua rừng phòng hộ và theo chúng tôi mà hoan hỷ, mà tiễn biệt, mà hy vọng, mà đợi chờ./.

Thanh Thuỷ


--------

(*) Tác phẩm đoạt Giải Đặc biệt cuộc thi Bút ký Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV - năm 2010

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác