Chính Hữu và bài thơ “Đồng chí”

Chính Hữu tên là Trần Đình Đắc quê ở Can Lộc- Nghệ Tĩnh. Ông sáng tác ít nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. Bất kể ai trong chúng ta đều rất quen thuộc với những vần thơ mộc mạc giản dị ở bài “Đồng chí”.

Vậy bài thơ “Đồng chí” ấy được ra đời trong hoàn cảnh nào? Đó là câu hỏi không ít người đặt ra khi đọc bài thơ này. Sau đây chúng ta hãy cùng lắng nghe tâm sự của Chính Hữu qua từng vần thơ.

Vào quân đội, ông làm chính trị viên đại đội, đơn vị toàn là dân Hà Nội, học sinh sinh viên thành thị, mãi tới khi lên Việt Bắc mới thực sự tiếp xúc với nông dân, lắng nghe tâm sự của họ và dần dần ông đã tìm cho mình một cách nhìn khác trung thực hơn. Đó là cơ sở để ông có thể cất lên những vần thơ mộc mạc về những con người nơi “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá”. Chính Hữu trực tiếp tham gia chiến dịch ở Thái Nguyên. Đơn vị của ông có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến bám sát địch không cho chúng tiến sâu vào căn cứ của ta. Vì truy kích địch thường phải cắt rừng đi tắt nên cấp dưỡng theo không kịp, nhiều khi phải nhịn đói, ăn quả, củ rừng. Ông bị sốt rét ác tính nhưng không có thuốc men gì cả. Đơn vị vẫn hành quân và để lại một đồng chí chăm sóc. Sự ân cần của đồng chí đó khiến ông nhớ đến những lần đau ốm được mẹ được chị chăm sóc. Đấy là những gợi ý đầu tiên cho bài thơ “Đồng chí”. Tất cả những gian khổ thiếu thốn mà người lính phải chịu đựng trong bài đều xuất phát từ chính cuộc đời thực.

Kết thúc bài thơ là hình ảnh đẹp và lãng mạn “đầu súng trăng treo”. Buổi đêm rừng núi Việt Bắc rét mướt, sương muối thấm lạnh tê tái, còn chưa kể đến các loài thú độc, hổ báo rắn rết. Đơn vị phải phân công nhau canh suốt đêm ở các vị trí khác nhau. Bầu trời miền rừng núi bao giờ cũng có cảm giác trong hơn, rộng hơn và thấp hơn so với bầu trời các miền khác. Lúc ấy ánh trăng thật trong và thật sáng. Người lính canh giữa ánh trăng bao giờ nòng súng cũng hướng lên chuẩn bị sẵn sàng. Họ thường đứng hai người cạnh nhau. Khi đó người đồng chí sẽ có ba người bạn: Người đồng chí đứng bên cạnh khẩu súng và ánh trăng. Ba hình ảnh đó tạo nên cái khung của hình ảnh “đầu súng trăng treo”.

Nhà thơ hoàn toàn không có ý tưởng từ trước, câu thơ viết ra một cách tự nhiên. Ông thường hay đi kiểm tra và thấy hình như luôn luôn có mảnh trăng treo trên đầu ngọn súng. Hình ảnh ấy tạo một cảm giác kì lạ, như mảnh trăng luôn đung đưa trên ngọn súng. Không phải là đầu súng rung rung mà chính là cái cảm giác mảnh trăng đung đưa như quả lắc trên bầu trời. Khi viết, trong ông sống lại hình ảnh ấy và câu thơ năm chữ hiện ra tức thì “đầu súng mảnh trăng treo” nhưng sau này bỏ chữ “mảnh” đi để tạo ra câu thơ bốn chữ “đầu súng trăng treo” như nhịp một, hai vừa cân đối giữa hai hình ảnh vừa là nhịp lắc của đồng hồ. Mặt khác nhà thơ muốn dùng hỉnh ảnh này để nói lên nhịp đập “trái tim đồng chí”. Trong đêm thanh vắng người nọ sẽ nghe rõ tiếng trái tim người kia đập… Nhịp một, hai của mặt trăng “lắc” trên đầu súng cũng là nhịp tim chan chứa của hai người lính cảm nhận được nơi nhau. Nhịp tim đó gắn với họ làm một, làm nên “con người đồng chí” với nhịp đập nhanh hơn, nồng nàn hơn. Nhịp “một, hai” của ánh trăng cũng chính là nhịp đập vĩnh cửu của tình đồng chí.

Đó cũng là ý nghĩa mà ông muốn gửi gắm xuyên suốt cả bài thơ.


TÙY ANH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác