Chiến trường, nơi tôi luyện ý chí, nghị lực và ước mơ

(Toquoc)- Đó là tâm sự của nhà thơ thương binh Hoàng Cát, người đã trải qua biết bao thăng trầm trong cuộc đời. Chính những năm tháng sống và chiến đấu nơi bom đạn đã tôi luyện cho ông có được ý chí, nghị lực và nâng cánh cho thơ ông toả sáng ?

Chiến trường, nơi tôi luyện ý chí, nghị lực và ước mơ - ảnh 1

   Nhà thơ Hoàng Cát

Thơ Hoàng Cát là thơ tuôn chảy từ trái tim đã chín yêu thương, cay đắng. Văn chương Hoàng Cát cháy bỏng một tình yêu Tổ Quốc, nhân dân, đồng đội” (Ngô Minh).


- Có người nhận định: “Hoàng Cát sống được đến bây giờ một phần là nhờ… thơ”. Ông nghĩ gì về điều này?

- Ngay từ nhỏ thơ ca đã là niềm đam mê trong tôi. Lớn lên, tôi mang hoài bão trở thành nhà thơ chân chính, được đóng góp cho cuộc sống, cho đời. Đó gần như một lẽ sống, một mục đích mà tôi tự xác định cho mình. Sau này, cuộc sống gặp nhiều thăng trầm, nhiều lúc tưởng không đi tiếp được con đường thi ca, tôi đau đớn vô cùng, nhưng tôi vẫn cố gắng vượt lên và coi nó như ngọn đèn hướng cho mình. Nói thật, đúng là không có thơ tôi không sống được.

Theo tôi, mỗi con người nên có ước mơ dù chỉ là thầm lặng trong mình, bởi nó sẽ giúp cho cuộc sống con người thêm ý vị, là động lực giúp con người vượt qua mọi khó khăn. Khi cuộc sống của mình nhiều cay đắng, đau khổ, thì hơn tất cả mình cần được tâm sự, giãi bày. Và tốt nhất là gửi tâm sự vào thơ, đối diện với chính mình trên trang giấy. Có nhiều nhà văn chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng khi có tâm sự lại thường làm thơ dù chỉ để dành riêng cho mình. Thơ giúp con người tự mình giải toả, tự mình an ủi, tự đối diện với chính mình.

- Thế còn nhận định: “Thơ Hoàng Cát cũng chính là cuộc đời Hoàng Cát” ?

- Banzắc đã từng nói: “nhà văn là thư ký trung thành của thời đại”, vậy thì cuộc đời của mình gắn với thời đại nào, xã hội nào thì mình ghi lại thời đại ấy, xã hội ấy. Thơ tôi ghi lại cuộc đời tôi. Thời đại tôi có chiến tranh, tham gia chiến tranh, tôi làm thơ về người lính, về hy sinh mất mát. Đó là nhu cầu tự thân, nó không mang tính ràng buộc, tuyên truyền. Văn học mang tính người, thể hiện mọi cung bậc tình cảm của con người là vì vậy. Tôi luôn ý thức với ngòi bút của mình, cố gắng đừng viết cái gì để người đọc phải “nhăn mũi”. Đỗ Phủ có câu: “Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu”, tức lời thơ, ngôn ngữ nói chưa khiến con người kinh ngạc thì ta chết chưa yên. Tôi học những cái đấy, tự mình thu lấy, suy ngẫm và viết.

- Chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm nhưng khi viết về nó, những vần thơ của ông vẫn đem đến cho người đọc sự xúc động, day dứt… ?

- Con người khác động vật ở chỗ có ngôn ngữ, có văn hoá, có trí tuệ để đối thoại với nhau. Hàng trăm quốc gia, hàng nghìn dân tộc cùng chung sống, bất đồng tư tưởng là điều hiển nhiên. Sự sống tồn tại bởi “quy luật so le” mà. Tiêu diệt quy luật này là tiêu diệt sự sống. Nhưng khi bất đồng tư tưởng mang màu sắc chính trị thì lại khác. Con người nên ngồi lại với nhau để đối thoại. Và chiến tranh là hành động khi con người hoàn toàn bất lực với chính mình, tức con người đã làm hành động của động vật. Tại sao lại có thể giương súng bắn vào ngực nhau, đem bom ra mà ném vào thành phố hàng trăm triệu người. Đau đớn vô cùng khi con người phải lâm vào chiến tranh. Chui ra từ trong khói lửa chiến tranh, đã từng chôn bạn, bỏ lại một phần thân thể mình ở chiến trường, chứng kiến cái chết đến đơn giản hơn bất kỳ việc gì, nên tôi luôn viết về chiến tranh trong sự da diết. Chiến tranh còn cướp đi của tôi những người thân yêu nhất, mẹ tôi, em trai tôi. Với tôi, viết về chiến tranh như để thể hiện niềm khao khát hoà bình, mong muốn cuộc sống thanh bình cho con người.

- Sống và chiến đấu, người lính luôn phải đối mặt với cái chết có thể đến bât cứ lúc nào. Kỷ niệm nào đáng nhớ nhất đối với ông khi tham gia chiến đấu?

- Đáng nhớ nhất là lần “chết hụt” năm 1969. Đó là trưa ngày mùng 2 Tết Kỷ Dậu, tức ngày 20/2/1969. Tôi đang chuẩn bị từ Quảng Nam trở về Thừa Thiên Huế, khói lửa ngút trời tôi thấy mình bị hất tung lên rồi rơi xuống một sườn đồi. Chân trái tôi bị nát ra như một cái bắp cải bị đập dập. Đau tê dại!

Khi vết thương tuy chưa lành hẳn, tôi được anh em đồng đội cáng dần ra Bắc. Nhưng vừa cáng rời khỏi bệnh xá một ngày thì gặp một trận càn rất lớn của hỗn hợp liên quân Mỹ- Nguỵ- Nam Triều Tiên. Một chiến sĩ tên Linh, cán bộ quản lý đại đội vận tải, quê ở Yên Thành - đồng hương với tôi, cùng một chiến sĩ vận tải, người dân tộc Tà Ôi, chúng tôi lọt đúng vào điểm đổ quân của máy bay cánh qụạt Mỹ. Địch bắn như vãi trấu hàng ngàn quả cối 60 ly và bắn hàng trăm băng đạn đại liên. Linh đi trước cáng gục chết ngay tại chỗ. Người lính dân tộc Tà Ôi bỏ chạy xuống suối. Cái võng cáng tôi bị cánh quạt máy bay thổi tốc lên trời. Tôi nằm trong vòng quay của cánh quạt, nghe một loạt đạn để chờ chết! Lúc đó tôi chỉ nghĩ đến mẹ, không sợ chết mà chỉ thương mẹ nuôi mình bao năm mà chưa trả ơn được gì. Nhưng rồi máy bay địch đổ quân ra hướng khác. Chúng sợ, nên nằm sát rạt bên kia thân máy bay, không dám ngóc đầu dậy một lúc khá lâu. Đằng nào cũng chết, tôi liều bò và lăn xuống sườn dốc. Bấy giờ đang mưa dầm, tôi rơi vào những bụi cây rậm.

Đêm đến, tôi nghe tiếng ám hiệu “tróc chó” “đó óc, tờ róc” của anh bộ đội người Tà Ôi đang đi tìm. Anh lay gọi, thấy tôi còn sống, liền cõng tôi từng bước trong đêm ra trạm chuyển thương. Cái chân trái của tôi bị mất từ trận ấy.

Sau này, tôi đã viết nhiều về cái chân bị mất của mình, đặc biệt là truyện ký “Hoài Thu bây giờ em ở đâu?” viết về người y sĩ tên Hoài Thu đã chăm sóc tôi khi tôi ở trạm xá. Đó là ân nhân của tôi, tôi rất mong gặp lại mà chưa được.

- Cảm xúc của ông khi trở lại chiến trường xưa?

- Trong thời gian chiến tranh, cây cối, nhà cửa xơ xác, chúng tôi luôn sống trong cảm giác lo lắng, phòng tránh và sẵn sàng chiến đấu. Địa bàn tôi hoạt động là trung tâm của cuộc kháng chiến (Quảng Trị- Thừa Thiên Huế). Hoà bình, trở về đây tôi xúc động vô cùng trước sự đổi thay của quê hương. Dẫu đã để lại nơi đây một phần thân thể và tuổi trẻ của mình… nhưng so với hàng trăm ngàn đồng đội của tôi thủa ấy… tôi vẫn còn là người may mắn hơn họ rất nhiều. Trời đã cho tôi được sống đến hôm nay, lại còn cho tôi được trở về đây, “Thăm lại miền thương nhớ” - một miền thương nhớ mà không phải ai cũng có được trong suốt cuộc đời mình. Với tôi, đó là cả một điều: vô- cùng- diễm- phúc! Diễm phúc đến tưởng chừng nghẹt thở… Nó còn hơn cả những điều tôi có thể nằm mơ và tưởng tượng, ngay giữa ban ngày…

- Thật xúc động khi được nghe ông nói về chiến tranh. Vậy, một lời khuyên của ông dành cho những cây bút trẻ muốn viết về chiến tranh và người lính là gì?

- Bản thân việc viết về chiến tranh vừa dễ lại vừa khó. Dễ bởi có nhiều hình tượng, nhiều sự việc, nó sẽ rất dễ có hình hài tác phẩm. Nhưng rất khó để có tác phẩm mang dấu ấn, lưu lại cho thế hệ sau. Các bạn trẻ không trực tiếp đi qua chiến tranh nhưng có nhiều thuận lợi: có ngoại ngữ, có kiến thức, tiếp cận thông tin nhanh và dễ dàng. Để viết được về chiến tranh hay cần phải hiểu về chiến tranh. Người viết về chiến tranh phải đọc nhiều về chiến tranh, thông qua những người đi trước, các tác phẩm cổ điển của thế giới như: Leptônxtôi; Alêxăng Tônxtôi; Rơmác… Đó là những kho tư liệu vô giá, những ông thầy lớn sẽ giúp cho thế hệ trẻ trưởng thành về nhận thức. Sự từng trải là vô giá. Nhưng tôi tin nếu có ước mơ, có hoài bão chân chính, thế hệ trẻ sẽ viết tốt.


Chúc nhà thơ mạnh khoẻ và sáng tác những vần thơ đẹp!

MINH KHUÊ (thực hiện)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác