Chị tôi

Những câu chuyện về tình người xưa nay vẫn giành được sự ưu ái của độc giả. “Chị tôi” của tác giả Phạm Văn Thuý cũng không nằm ngoài quy luật đó, một truyện ngắn giới thiệu về những mảnh đời tật nguyền nhưng họ vẫn cố gắng vươn lên mưu cầu hạnh phúc cho những người gần với họ, luôn cố gắng sống một cuộc sống có ích. Vượt lên trên tất cả, đó là tình yêu, là lòng nhân ái của con người với con người.


Chị tôi

Chị tôi - ảnh 1Không hiểu sao, chị tôi cả ngày hầu như không nói với ai một lời, kể cả tôi, đứa em thân thiết. Đôi khi mẹ mắng có miệng mà như câm, chị cũng chỉ ậm ừ lấy lệ. Do mặc cảm hay nguyên nhân nào khác? Càng lớn chị càng ít nói. Chị chỉ mở miệng phản ứng quyết liệt khi ai đó vô tình hay cố ý đụng vào nỗi đau của chị. Thực ra chị tôi không có tên. Bởi suốt ngày chị lặng lẽ như người câm nên bà con lối xóm kêu chị là cô Câm, cô Cậm. Do phát âm không chuẩn nghe na ná như cầm, cẩm gì đó. Dần dà chị tôi được dân làng định danh là Cẩm. Cái tên nghe thật đẹp, dịu dàng và đầy nữ tính.

Ông trời thật bất công! Cùng mẹ sinh ra, vậy mà tôi lành lặn vẹn nguyên, còn chị tật nguyền khiếm khuyết! Lớn lên tôi không thấy cha! Tôi chỉ thấy mẹ và chị Cẩm khốn khổ của tôi. Mẹ bệnh mất khi tôi mới mười tuổi, còn chị tôi 20. Kể từ đó hai chị em tôi bíu ríu nhau vượt qua bao mưa nắng cuộc đời và lớn lên trong ngôi nhà xẹo xọ cùng mấy công vườn cằn cỗi của mẹ để lại.

Chị tôi mang tật từ thuở lọt lòng. Lưng gù. Gù như không thể gù hơn! Trông cứ như có “con rùa” bám trên lưng. Đã vậy chân chị còn bị thọt. Thật tội nghiệp! Mỗi bước đi cà thửng cà thọt, giống như chú hề trong rạp xiếc.

Tôi còn nhớ sau khi mẹ mất, chị ôm tôi khóc rưng rức. Những giọt nước mắt xót xa thấm da thịt tôi nóng hổi, khiến tôi cũng khóc theo. Tiếng khóc hoà tiếng khóc nghe mà thắt ruột thắt gan! Khóc cạn nước mắt, chị xoa đầu tôi, bảo: “Mẹ mất rồi, nhà chỉ còn hai chị em. Hàng ngày chị đi làm thuê làm mướn. Dù có thiếu thốn cực khổ mấy em cũng phải ráng học. Không học sau nay khổ lắm nghen!”. Nghe chị nói nước mắt tôi lại ràn rụa. Bỗng tôi giật mình khi bắt gặp ánh mắt vừa thương yêu vừa nghiêm khắc của chị. Tôi biết những lời chị nói không phải nói chơi. Thương chị thắt lòng, tôi bảo em học buổi sáng, chiều về em đi làm tiếp chị. Tay chị gõ gõ đầu tôi nói như ra lệnh: “Em lo học cho giỏi. Đừng xí vô công việc của chị nghen!”.

* * *

Chị tôi đã xui xẻo, vậy mà trong ngôi nhà giáp ranh đất nhà tôi có một người còn xui xẻo hơn. Trong ngôi nhà xập xệ ấy có một “cậu bé” 25 tuổi, tên là Tửng. Đầu anh như trái dừa khô. Mắt trố. Môi trề. Đôi chân bại liệt. Chỉ đôi tay còn khả dĩ. Mỗi khi đi, mông anh gắn với chiếc ghế, hai bàn tay mang đôi dép. Chiều chiều anh lết ra ngõ ngóng trời, ngóng đất bằng ánh mắt vô định, chán chường. Hoàn cảnh anh thật nghiệt ngã! Chị em tôi có nhau để nương tựa. Còn anh không có ai chăm lo, nuôi dưỡng. Vậy mà anh vẫn sống được mới lạ!

Từ ngày cha mẹ anh mất, anh có thói quen, khi cần gì anh thường kêu: “mua- bán-đói-đau”... Dường như mỗi khi bất lực, với bản năng sinh tồn đơn giản nhất, con người ta thường phát ra tiếng kêu gọi sự giúp đỡ của đồng loại. Anh cũng vậy, bằng phản xạ tự nhiên, mỗi khi cần sự giúp đỡ, anh thốt ra những âm thanh cầu khẩn vọng sang, dội vào lòng chị tôi như những gáo nước mùa đông, khiến chị chạnh lòng không thể làm ngơ, ngoảnh mặt. Mỗi lần nghe, chị tôi lại chạy sang, bà con chòm xóm cũng chạy sang. Họ vội vã giải quyết những nhu cầu của anh. Xong, họ lại vội vã ra về, để lại sự trống vắng đến nao lòng trong ngôi nhà bất hạnh ấy. Riêng chị tôi nấn ná ở lại. Nguyên cớ gì tôi cũng không biết. Có lẽ do chị sống đơn giản nên không bị sự tất bật, lo toan của cuộc sống chi phối, ràng buộc! Ở lại, chị chẳng ngồi không. Chị cặm cụi quét nhà, quét sân rồi dọn dẹp trước sau cho sạch sẽ. Hai ba ngày chị lại gom quần áo hôi xì của anh mang về nhà giặt giũ phơi phong. Lâu lâu chị tôi lại nhặt nhạnh, vơ véo những ngọn cỏ rối bời đang bò quanh mép sân nhà anh Tửng.

Dạo này tôi thấy lạ. Mỗi khi đi làm về hoặc những ngày không có việc, chị tôi hay sang nhà anh Tửng chơi. Có bữa tôi phải sang kêu chị về ăn cơm. Về nhà, vừa ăn chị vừa trầm ngâm bảo: “Anh Tửng sống một mình. Thấy anh nấu cơm sống sít, vương vãi thật tội nghiệp! Hay là, mỗi bữa chị em mình nấu thêm lon gạo là đủ cho cả anh Tửng ăn, chẳng tốn kém bao nhiêu, mà lại tiện cho cả hai nhà. Em chịu không?”. Tôi nhìn chị với ánh mắt trong veo, cười: Chị bảo sao em chịu liền hà. Từ đó, ngày hai bữa chị mang cơm sang cho anh. Hình như nhu cầu ăn uống của người khuyết tật chẳng bao nhiêu. Đồ ăn chị em tôi kiếm được gì anh ăn nấy, không câu nệ rau dưa, mắm muối. Anh cũng dễ nuôi, chẳng eo xèo đòi hỏi gì hơn. Ngày nào anh cũng bảo chị nấu cơm ngon, canh ngọt hơn cả mẹ anh ngày trước. Nghe anh khen chị tôi thấy mát lòng mát dạ.

Thấy chị tôi chăm lo chu đáo cho anh Tửng, bà con lối xóm mừng thầm. Họ coi việc chị tôi lo cho anh Tửng là lẽ đương nhiên, là trách nhiệm, là định mệnh của hai số phận bất hạnh trên cõi đời này. Từ đó dường như họ ỉ lại, họ phó mặc, họ “khoán trắng” cho chị tôi. Điều đó chị tôi không quan tâm, không cần biết. Chị bảo không ai lo thì chị lo, xấu xa gì mà ngại. Quả thật, chị tôi lo cho anh Tửng như thói quen, như bổn phận, như trời xui đất khiến vậy!

Ngày mẹ anh Tửng còn sống, chị tôi ít sang chơi. Nay trực tiếp chăm lo cho anh, chị tôi thấy anh không đến nỗi. Anh là người có nghị lực, biết chịu đựng. Chưa bao giờ anh đòi hỏi hoặc làm điều gì để chị tôi buồn. Càng gần gụi chị càng thương và cảm mến anh hơn! Chị tôi có thể nghe được, hiểu được từng ánh mắt chán chường, từng tiếng thở dài não nuột của anh. Những điều anh cần, anh muốn, trước sau cũng chỉ xoay quanh mấy âm tiết: “mua-bán-đói-đau” mà thôi.

Thật bất ngờ, từ ngày chị sang chăm lo cho anh Tửng, tôi thấy chị tháo vát, hoạt bát hẳn lên. Chị hay cười hay nói, không lầm lì, nín câm như trước. Không những thế, chị còn hay soi kiếng, chải tóc, mặc áo nịt ngực. Tôi ghẹo dạo này chị đẹp quá ta! Mặt đỏ bừng, chị cười, con nít biết gì mà xía vô chuyện người lớn. Từ ngày được chị quan tâm chăm sóc, tôi thấy anh Tửng luôn vận quần áo đàng hoàng, không còn cảnh ở trần, mang xà lỏn như trước nữa. Chiều chiều anh lết ra ngõ trông những đám mây hồng lơ lửng treo trên nền trời xanh thẳm.

Thời gian này tôi thấy chị tôi không được khoẻ, người xanh xao. Thỉnh thoảng chị ôm bụng kêu đau. Đau đến nỗi bỏ bữa. Thực tình tôi khômg quan tâm mấy đến chuyện đau của chị, nên tôi bảo không sao đâu, chắc chị bị giun nó hành. Chị gượng gạo cười: “Chị cũng nghĩ như vậy, mong sao không có chuyện gì xảy ra!”.

Thêm nữa, mỗi khi trái gió trở trời, anh Tửng kêu đau khắp mình mẩy. Đau đến độ đổ mồ hôi. Toàn thân run lẩy bảy, sốt rét lại hành anh. Chị tôi vơ véo mùng mền, quấn áo đắp lên người anh, vậy mà anh vẫn run cầm cập. Người anh lạnh ngắt, làm chị tôi sợ hết hồn. Chẳng đắn đo, chị ôm anh vào lòng như tơ bọc kén. Hồi lâu bớt sốt, chị đụng chỗ nào anh cũng kêu đau. Chị lấy chai dầu Trường Sơn đánh gió cho anh. Trúng gió quá trời! Đánh chỗ nào bầm tím chỗ đó. Một lúc sau người anh nóng dần trở lại. Chị tôi mỉm cười, đăm đắm nhìn anh. Đột nhiên anh xiết tay chị rồi nức nở như con nít. Những giọt nước mắt đắng cay và biết ơn rớt trên tay chị tôi nóng hổi. Thấy vậy, chị cũng rưng rưng. Chị tôi khóc không biết xót thương anh hay thương xót cho số phận hẩm hiu của mình! Có lẽ khi nỗi đau cộng hưởng nỗi đau thì nước mắt lại trào ra để nỗi đau nguôi ngoai, dịu bớt.

Đêm mưa tầm tã, tôi giật mình tỉnh giấc, quờ tay không thấy chị. Mưa gió thế này chị đi đâu? Chẳng lẽ chị sang nhà anh Tửng? Tôi vội choàng áo mưa chạy qua. Trong nhà ánh đèn mờ ảo, vàng vọt hắt ra. Cửa không khép, bước vô, tôi trượt chân chút xíu té bổ ngửa. Tôi sững sờ thấy nền nhà ướt trơn như ngoài ngõ. Sống lưng tôi rờn rợn khi thấy trong nhà vắng lặng, không một bóng người. Tôi hốt hoảng kêu nhà có ai không? Từ trong góc nhà tiếng chị tôi run rẩy: “Hà đấy à, em giúp chị kéo mảnh áo mưa sau lưng. Mưa lớn quá trời! Nhà dột tùm lum, ướt ráo trọi, anh Tửng không còn chỗ ngả lưng”. Lúc này tôi mới thấy chị cùng anh ngồi thu lu trong góc giường. Chiếc áo mưa không đủ che kín hai người, lưng chị tôi ướt sũng. Thấy cảnh dở khóc dở cười, tôi nghèn nghẹn bảo sao chị không đưa anh về bên nhà? Anh chị cứ thế này, nước mưa thấm vô người, cảm lạnh nguy hiểm lắm nghe! Chị bảo: “Trời mưa, lầy lội, làm sao anh lết sang được? Thôi, Hà về ngủ ngon mai còn đi học”. Ngần ngừ một lúc, tôi cởi áo mưa choàng kín cho hai người. Về nhà, tôi không sao ngủ được. Bao nhiêu câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu: Vì sao chị tôi lại tốt với anh Tửng đến vậy? Có phải họ có tình ý với nhau? Hay vì một lý do nào khác? Những câu hỏi không lời giải cứ bồng bềnh trôi trong giấc ngủ của tôi.

Một hôm đi học về ngang qua nhà dì Năm. Dì kéo tôi vô nhà, thỏ thẻ: “Hà à, con đã biết chuyện gì chưa? Chuyện chị con”… Tôi sững sờ: “Dạ, chưa”. “Chuyện chị Cẩm con có bầu với thằng”… Nghe chuyện động trời, chân tay tôi bủn nhủn, mồ hôi tươm lã chã, miệng lắp bắp: “Có thiệt… không dì Năm? Chị con là người… khuyết tật. Chẳng lẽ?”. Dì Năm nhìn tôi vẻ ái ngại: “Không tin con về hỏi chị con khắc biết”…

Nửa tin nửa ngờ, tôi hớt hải chạy về. Chị không có nhà. Bóng đã đứng, chị còn đi đâu? Tôi chạy sang nhà anh Tửng, thấy chị đang giác cho anh. Tôi đứng chết lặng, chăm chắm ngó bụng chị. Thấy tôi không vui, chị bảo: “Em ngó gì mà dữ vậy!”. Tôi không kìm được, giọng nóng hực: Chị không nghe người ta đồn ầm lên sao? Chị còn sang đây. Chị không biết mắc cỡ à. Mặt chị bỗng tái mét. “Chú rùa” trên lưng chị hình như đang động đậy! Chị ấp úng như có vật gì nghẹn trong cổ: “Anh Tửng đang bệnh… đợi chị giác xong. Có gì… về bên nhà nói nghe coi”. Anh Tửng thấy vậy bảo thôi Cẩm về đi, giác vậy được rồi.

Về nhà, tôi giật mình khi thấy bụng chị hơi lùm lùm. Tôi gay gắt: Người ta đồn chị có bầu với anh Tửng. Hai người tật nguyền, mai mốt sinh con khuyết tật. Hậu quả khôn lường. Chị có hiểu không? Chị đứng chết trân, đôi mắt đỏ hoe bảo: “Em phải tin chị. Chị chẳng có bầu bí gì đâu. Họ nói mặc họ”. Tức muốn trào máu, tôi hậm hực: Tôi không tin! Chị bảo không có gì, sao cái bụng lại lùm lùm thế kia. Chị phải chấm dứt ngay quan hệ với anh Tửng. Không tôi bỏ nhà đi bụi cho chị coi. Miệng chị méo xẹo, nghẹn ngào: “Chị cũng không hiểu sao mỗi ngày cái bụng lại bự ra. Thỉnh thoảng chị thấy quặn đau. Em bỏ đi, chị làm sao sống nổi!”. Bất ngờ chị tôi ôm bụng gục xuống. “Con rùa” trên lưng hình như cũng nhấp nhổm theo tiếng nấc của chị. Thấy vậy, lòng tôi bỗng trào dâng niềm xót thương vô hạn. Nâng chị dậy, dìu lên giường. Dầu còn giận chị, song tôi không nỡ nặng lời thêm.

Hôm sau đi học về, không thấy chị, tôi hớt hải hỏi xóm ngõ. Không ai biết chị đi đâu. Hoảng quá, tôi chạy qua hỏi dì Năm. Dì bảo, Cẩm nó dặn con, chiều mai nó về. Ở nhà con nhớ mang cơm sang cho Tửng.

Tôi ngóng hoài, chiều hôm sau chị về thật. Chân cà thửng cà thọt, vậy mà tay xách một giỏ đầy. Buông giỏ, lấy ra hai đòn bánh tét, chị bảo đòn này phần em còn đòn này mang sang cho anh Tửng. Chị mang về mười mấy thang thuốc nam. Tôi hỏi thuốc gì, chị ậm ừ bảo thuốc chữa bệnh đàn bà ấy mà. Mỗi ngày chị nấu một thang uống. Chẳng hiểu sao xóm ngõ biết, họ xầm xì chị tôi uống thuốc phá thai. Thật quá đáng! Tôi về mách chị. Tức nước vỡ bờ, chị tôi nổi máu bà chằn, la om xòm xóm ngõ. Dì Năm khuyên mãi chị mới nguôi.

Theo chỉ dẫn của thầy, chị tôi uống mấy đợt thuốc liền, vậy mà cái bụng vẫn bự ra. Đó là đều chị tôi lo lắng nhất. Một hôm về học sớm, tôi thấy chị dùng vải nịt bụng lại. Nịt chặt đến nỗi bụng nhỏ như người bình thường. Tôi hỏi sao chị phải làm vậy? Chị bảo nịt lại cho gọn, để xóm ấp còn kêu chị đi làm, đồng thời để họ khỏi xầm xì chuyện này chuyện nọ... Buông cặp, tôi ôm chầm lấy chị, hai hàng nước mắt ứa ra.

Hôm sau chị nhờ tôi viết dùm tờ đơn. Cầm đơn, chị xăng xái cứ như người thắng kiện ai không bằng! Chị tìm ông ấp trưởng. Coi xong đơn, ấp trưởng ký cái rẹt. Ông bảo việc này cô phải lên xã, lên huyện mới giải quyết được. Chị lại lên gặp ông chủ tịch xã. Ký xong, ông nhìn chị tôi vẻ thương cảm bảo, cô sang hội Chữ thập đỏ họ sẽ hướng dẫn thêm.

Sáng hôm sau chị tôi lật đật đón xe lên huyện. Chị hỏi mãi mới gặp được bà chủ tịch hội Chữ thập đỏ. Sau khi coi đơn và nghe chị tôi trình bày, bà chủ tịch cảm động bảo cô yên tâm, đợt tới chúng tôi sẽ giải quyết trường hợp cá biệt này. Vô cửa công quyền thường lắm nhiêu khê. Không hiểu sao chị tôi đi đợt này lại xuôi chèo mát mái đến vậy. Có lẽ bởi chị tật nguyền nên người ta nể, hay do sức mạnh huyền bí nào giúp đỡ?

Về nhà không kịp tắm rửa ăn uống, chị tôi chạy sang báo tin cho anh Tửng. Anh nghi hoặc bảo Cẩm chớ vội mừng. Họ hứa môi hứa mép, khi nào nhận được mới chắc ăn. Chị cười: “Họ nói thiệt đó. Làm cán bộ, không lẽ họ nói dóc!”.

Chị tôi và anh Tửng cũng không phải chờ lâu. Mấy tháng sau, hội Chữ thập đỏ huyện gửi tặng anh chiếc xe lăn. Bữa ấy có mặt ông chủ tịch xã, ông trưởng ấp và đông đủ bà con xóm ngõ. Người ta chúc mừng. Người ta đặt anh Tửng lên xe lăn. Người ta hướng dẫn anh tiến tới tiến lui, quẹo trái quẹo phải một cách tỷ mỉ, rồi họ lại tất bật ra về. Họ đâu có biết: đặt anh lên xe, ai là người giúp anh xuống? Không ai khác, người đó đương nhiên là chị tôi. Chị tôi đẩy xe vòng vèo trong sân mấy vòng. Bỗng anh Tửng quay người lại cầm tay chị tôi nói trong thổn thức, cám ơn Cẩm đã hết lòng giúp tôi. Không biết lấy gì đền ơn Cẩm, tôi áy náy lắm! Chị tôi dịu dàng: “Cẩm giúp Tửng có đáng gì mà ơn với huệ. Tửng có biết tôi xin xe cho Tửng là nhằm mục đích gì không?” Tửng ngơ ngác, lắc đầu. “Cẩm muốn Tửng có việc phù hợp để làm. Có xe, hàng ngày Tửng ra đại lý lấy vé số đi bàn dạo. Có việc làm vừa khoẻ vừa vui, lại có đồng ra đồng vào tiêu xài. Bọn mình khuyết tật, ăn không ngồi rồi buồn chịu sao thấu! Mà nhờ vả bà con hoài cũng không nên. Tửng thấy thế nào. Có đồng ý không?”. Tửng xiết chặt tay chị tôi, run run: Tôi không ngờ Cẩm tốt với tôi đến vậy! Cẩm không chỉ xin xe mà còn tạo cho tôi một công việc… Bất chợt chị tôi bắt gặp ánh mắt rạo rực của anh. Chị bối rối, quay mặt giấu một nụ cười hạnh phúc.

Ngày đầu chưa quen, chị tôi phụ giúp anh Tửng, đẩy xe khắp làng khắp xã bán vé số dạo. Cứ chỗ nào đông người là chị tôi đưa anh đến, như: chợ búa, hàng quán, bến đò… để anh làm quen. Sau một thời gian anh Tửng đã thông thạo đường đi nước bước, chị tôi lại trở về với công việc làm mướn của mình.

* * *

Ngày tháng mải miết trôi. Tôi linh cảm, thời gian đối với chị đầy bất ổn. Sự bất ổn rất gần, gần tới mức tôi có thế nắm bắt được. Dầu có nịt chặt đến mấy bụng chị vẫn cứ bự ra. Số trời không thể nào khác được!

Đang ngủ say, tôi giật mình tỉnh giấc khi thấy chị ôm bụng kêu rên vật vã. Mồ hôi tươm lã chã, người chị lạnh ngắt. Tôi hoảng hốt sang kêu dì Năm và lối xóm. Họ lấy dầu gió và nước nóng chườm bụng chị tôi cả giờ đồng hồ mà không thấy đỡ. Chị tôi vẫn ôm bụng lăn lóc kêu đau. Xem chừng mỗi lúc mỗi đau hơn. Cuối cùng mọi người đưa chị tôi đi bệnh viện. Sau khi chụp chiếu, xét nghiệm và hội chuẩn, bác sĩ kết luận: Bệnh nhân có khối u lớn trong ổ bụng, cần phải mổ. Người nhà chuẩn bị khoảng dăm triệu… Nghe xong mọi người chiếu ánh mắt về phía tôi. Tôi hiểu cái nhìn đầy thương cảm và lo lắng. Như cánh diều gặp bão, tôi ôm chầm dì Năm, nức nở. Bàn qua bàn lại, cuối cùng dì Năm đứng ra bảo lãnh. Lòng tôi như có sóng! Số tiền lớn thế, kiếm đâu ra?

Mấy đêm thức trắng chăm sóc chị, tôi thiếp đi trong mộng mị. Tôi mơ thấy chị tôi được mổ ngon lành và hết bệnh. “Con rùa” trên lưng chị bỗng dưng biến mất. Bữa ra viện, tôi, dì Năm và anh Tửng đón chị về trong nắng chiều vàng như mật…

Truyện ngắn của Phạm Văn Thuý

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác