Cầu Tắc Thủ - mảnh hồn quê yêu dấu!

(Toquoc)- Cầu Tắc Thủ bắc ngang con sông Ông Đốc (sông có tên Khoa Giang thời chúa Nguyễn) khởi nguồn từ ngã ba sông Cái Tàu, tiếp nhận nước từ hai con sông Cái Tàu và sông Trẹm, dài 44 km, rộng khoảng 1km nơi vàm sông.

Vẫn những chuyến đi đi, về về thăm quê, đặc biệt vào những ngày cận kề Tết Nguyên đán Nhâm Thìn, đứng trên cầu đúc Khánh An ngắm nhìn cây cầu Tắc Thủ tôi cảm thấy lòng càng thêm bồn chồn, thao thiết. Bởi, cây cầu đen cũ kỹ được sơn phết lại thành màu trắng xám lung linh trong nắng chiều - Cầu thay áo mới - Cầu già nua vẫn lẫm liệt, lam lũ, đong đưa, từng lúc gồng lên khi xe và người qua lại lũ lượt - Cầu thành nét biểu trưng ấn tượng như mách bảo con người hướng về cội nguồn. Tôi nghĩ qua thời gian năm tháng, cho tới một lúc nào đó, cây cầu sắt mỏng manh, yếu ớt nơi này không còn nữa! Nhưng bóng cầu Tắc Thủ sẽ hòa tan vào những đám lá dừa nước, thảm lúa, đầm tôm, quyện chặt vào bóng cau, bóng dừa, bóng cây lụa, có cả cây vừng hiếm hoi với những chiếc lá non đỏ chót chỗ Mẹ tôi ngày xưa thường dừng xuồng bẻ lá mang về cặp với bánh xèo mỗi lần bà đi sông. Tất cả những cái đó, với tôi, đã biến thành mảnh hồn quê yêu dấu để thương, để nhớ!

Cầu Tắc Thủ - mảnh hồn quê yêu dấu!  - ảnh 1

Địa điểm xây cầu Tắc Thủ: Xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình (phía từ TP Cà Mau đi vào), xã Khánh An, huyện U Minh (tiếp giáp đầm tôm, đồng lúa và rừng tràm U Minh Hạ). Cầu xây dựng theo nguyện vọng, ý tưởng của ông Đoàn Thanh Vị (Ba Vị), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải sau ngày đất nước hoàn toàn được giải phóng cách đây trên dưới 27 năm.

Khi có con đường trải nhựa dẫn tới Khánh Bình, mỗi lần đi đi, về về thăm quê, tôi thường dừng xe hon-da trên cây cầu mới - cầu đúc bê tông Khánh An - nằm sóng đôi với cây cầu Tắc Thủ, cách nhau non cây số đường sông, ngắm nhìn cây cầu cũ tự nhiên nghe lòng bồn chồn, bâng khuâng khó tả: Trong mắt tôi thời kháng chiến đánh Mỹ nơi này nằm sát đồn Tắc Thủ, hang ổ của đại đội 974 do tên thiếu tá Phan Văn Hứa khét tiếng gian ác, chỉ huy. Gần chân cầu, một vàm rạch Bến Gỗ nặc mùi tốp lính 974 thường ẩn náu trong bụi rậm rình rập những chiếc xuồng giao liên, bắn giết người sang sông lớn rẽ vào vàm Bến Gỗ về Bàu Nhàn, Rạch Giồng, kinh Thị Phụng, xã Tân Lợi… Còn phía bên kia bờ Tây Nam, chỗ vạt cây xanh gần vàm kinh Hội Đồng Thành, thường treo lủng lẳng những chiếc đầu lâu bị thiếu tá Hứa giết hại. Chạy về mạn trên là con sông Cái Tàu bên rừng tràm, bên vườn dâu xanh ngăn ngắt điêu tàn trong chiến tranh. Kẹp giữa dòng sông Cái Tàu và kinh xáng Minh Hà là vạt rừng tràm bạt ngàn nơi những Làng rừng đã từng cưu mang quân, dân Tam Khánh: Khánh An, Nguyễn Phích, Khánh Lâm trường kỳ kháng chiến…

Buổi chiều. Ráng chiều đỏ lựng nơi chân trời làm nền cho mấy nhịp cầu Tắc Thủ giống như chiếc võng mắc qua hai bờ lá dừa nước xanh thăm thẳm. Cây cầu sắt cũ kỹ, lầm lũi, chênh vênh, chốc chốc gồng lên khi người và xe qua lại lũ lượt, có cả những chiếc xe khách, xe chở kỹ sư, công nhân đi đi, về về khu nhà máy Khí - Điện - Đạm Cà Mau và hai huyện U Minh, Trần Văn Thời. Đứng ở đây nghe rõ tiếng gió sông thổi vời vợi trên hai biền lá dừa nước ven sông. Gió gợi nhớ sông - con sông ôm ấp nguyên vẹn tuổi thơ tôi và người Mẹ già đi sông gặp phải cơn giông mưa lớn không một lần về với anh chị em tôi nữa! Nhìn cầu Tắc Thủ, nhìn sông lớp lớp sóng bạc, nhớ Mẹ cồn cào gan ruột, nhớ Làng rừng Khánh An, nhớ ông già góp công lớn xây dựng cầu Tắc Thủ…

*

Do ấp ủ viết về một cây cầu sắt ở chốn quê khá lâu, tôi đi tìm gặp ông già có ngôi nhà riêng trên đường Nguyễn Tất Thành, TP Cà Mau. Đó là ông Đoàn Thanh Vị (Ba Vị), người tôi mới vừa nhắc nhủ bằng tất cả tấm lòng thương yêu, quí trọng.

Được tin tôi sắp tới nhà riêng, ông Ba ngồi chờ sẵn bên chiếc bàn con thấp la đà đặt tại góc sân dưới bóng mát cạnh nhà ông. Ông già ngồi thư thả như đang ngẫm ngợi chuyện người, chuyện đời. “Ngồi đây với chú Ba chuyện trò luôn thể”. Ông cất giọng ấm áp. Lại tiếp: “Muốn uống rượu, nhấm với chú chút rượu. Trong bàn tiệc rượu sắp tàn có đứa giơ tay xin uống, chú can. Đứa xin uống là đứa đã say xỉn”. Ông Ba mào đầu, sau đó tự nhiên nói: “Mấy cháu muốn hỏi gì tụi cháu cứ mạnh dạn hỏi. Nhớ bao nhiêu, chú nói bấy nhiêu. Hôm nay không nhớ hết, mai mốt nhớ tiếp. Riêng chuyện bắc cây cầu Tắc Thủ là việc hi hữu, thủng thẳng chú nhớ lại, kể sau. Còn anh em làm việc chung với chú như Đặng Thành Học (Ba Thám), Bảy Trị, Bảy Tĩnh, còn Quang Gẫm, Chín Phinh hồi trước ở U Minh… nhớ tiếp, lo gì!”.

Ông Ba dừng. Vài giọt nắng xuyên qua dàn dây leo từ nhà bên cạnh chiếu thẳng về phía ông. Phơi ra trước mắt tôi mái tóc bạc, râu bạc và đôi chân mày ngả bạc. Đôi vai gầy. Dáng đứng lẫn khi ngồi chậm chạp, yếu ớt khác xa năm tôi gặp ông Ba ngoài Hà Nội sau hơn một năm khởi công xây cầu Tắc Thủ.

Ông Ba bắt chuyện sau khi uống hết một chung rượu. Ông kể có thôi có hồi toàn chuyện kháng chiến: Chuyện thời niên thiếu ông đi nhặt nhạnh từng tấm thiếc cũ mang về cuốn lại làm ống loa phát đi tin tức cùng làng, khắp xóm. Chuyện dùng một nông cụ - cây cào - chế ra cán dài, cán dắn, giành giật với địch, với bầy quạ đen mang ra khỏi trận địa trên 80 xác người hy sinh trong một trận đánh chiếm căn cứ của giặc chốt tại Khai Hoang trên tuyến sông Cái Tàu. Chuyện gia đình vợ con ông phải dắt díu nhau vào Làng rừng Khánh An nơi đặt nhà máy Khí - Điện - Đạm bây giờ để lánh giặc, buổi đầu chân ướt chân ráo tới láng trại gập ghềnh cầu khỉ, phải dùng miểng dùa, tước nhánh cây làm đũa ăn cơm; đặc biệt người vợ sống hết mình với ông từng lội rừng gùi mật ong, bứt dây choại, đốn lá mật cật chầm nón bán kiếm tiền, sống bữa no, bữa đói. Chưa dừng. Chuyện đau buồn, nghiệt ngã đời người ập tới gia đình ông trong năm 1972 đen đủi: 2 đứa con trai và thằng con rể của ông hy sinh; kế đến, cha ông mất vì không may vướng phải trái nổ trong lúc ông bận việc ở xa không về kịp lúc tiễn cha về cõi vĩnh hằng…

Tất cả sự kiện nghiệt ngã đến với gia đình ông dường như diễn ra trên đất Tam Khánh nơi nuôi dưỡng tâm hồn, ý chí ông, theo ông trên nhiều nẻo đường hoạt động Cách mạng. Nhưng thực ra không chỉ có một vùng đất Tam Khánh, ngọn rạch Ông Sâu, con sông Cái Tàu với rặng dâu xanh ngăn ngắt cưu mang ông từ hồi tấm bé, mà còn có thêm hai huyện lúa, tôm, rừng tràm và một bờ biển khá dài nằm trong vịnh Thái Lan, chưa kể nhiều cửa sông thông ra biển, nhiều tuyến đường bộ xuống tận thị tứ Sông Đốc, cửa Khánh Hội, Hương Mai, điểm du lịch Hòn Đá Bạc… giục giã ông và lãnh đạo tỉnh Minh Hải xây cầu Tắc Thủ nối liền giữa vùng đất trù phú, căn cứ địa Cách mạng với các huyện trong tỉnh và thị xã cuối đất cùng trời này.

Tôi cất công tìm người dự vào công trình xây cầu Tắc Thủ được ông Ba Vị nhắc tên. Trên dưới 27 năm, một bộ phận thuộc Tổng công ty xây dựng TP Hồ Chí Minh - đơn vị thi công cầu Tắc Thủ - nay phân tán, lắp ghép vào nhiều bộ phận xây dựng khác; kỹ sư, công nhân dầm mưa, dang nắng làm cầu nay người còn, người mất, người về hưu, người nghỉ việc; nguyên Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Minh Hải, Bảy Tĩnh đã chuyển chỗ ở về TP Hồ Chí Minh… Lần nữa mãi, tôi tìm tới ông Phạm Thạnh Trị (Bảy Trị), nguyên Phó Văn phòng Tỉnh ủy, thư ký riêng của Bí thư Tỉnh ủy sau lên làm Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau; gặp Lâm Quang Gẫm, Chánh Văn phòng HĐND tỉnh, người dưới quyền Chủ tịch huyện U Minh Hai Tòng chỗ chăm sóc và khai thác cây củi dành tiền xây cầu; gặp Chín Phinh người “thổ địa” - Bí thư xã Khánh An - nay làm Phó ban Dân vận tỉnh sắp sửa về hưu tại nơi làm việc của ông…

Bảy Trị kể: “Tính chú Ba Vị, anh biết: nói ít, làm nhiều. Khi làm, chú Ba làm tới tới…”. Bảy Trị dừng, tay dịch ly cà-phê về phía tôi, lại tiếp: “Bây giờ nhớ lại càng thấy thương chú Ba: Nhiều lúc mãn giờ làm việc buổi chiều, chú Ba gọi tôi í ới, bảo Văn phòng bố trí ngay chiếc vỏ lãi, người lái máy, có mặt ông giao thông Bảy Tĩnh, chạy một mạch tới vàm Tắc Thủ, lại dừng. Khi dừng thật lâu, khi lui tới hai bên bến sông chốc lát lại quay về thị xã. Có chuyến mấy chú cháu vượt sông Cái Tàu vào Biện Nhị làm việc với Huyện ủy U Minh”. Bảy giải thích: “Đó là lúc mới có chủ trương xây cầu. Còn sau đó đang trong công đoạn thi công, không may, chú Ba đổ bịnh dạ dày nặng phải chuyển ra Bịnh viện Việt - Xô ngoài Hà Nội chữa trị. Nhân dịp ra Hà Nội dự họp, tôi tới thẳng Bịnh viện Việt - Xô thăm chú. Trông thấy tôi trờ tới cửa, đang nằm, chú Ba cố gượng dậy, tay nắm chặt tay một bác sĩ người Cà Mau theo phục vụ Bí thư, anh Phạm Lai (Tư Lai), hỏi tôi ngay việc xây cầu Tắc Thủ nay tới đâu rồi? Đường dẫn lên cầu hai bên làm xong chưa? Phía Khánh An, Rạch Giếng?...

Qua câu chuyện tâm tình của người phục vụ trong Văn phòng Tỉnh ủy, rất dễ nhận ra việc xây cầu Tắc Thủ trong niềm mơ ước, lo toan, khắc khoải của nhiều cán bộ lãnh đạo tỉnh Minh Hải, của ông Đoàn Thanh Vị (Ba Vị) lúc bấy giờ…

Nói về việc xây cầu bắc qua sông rạch, nhìn ra cả nước, có nhiều cây cầu đáng nhắc, đáng nói: Chẳng như sau trận lũ lịch sử tháng 9/2009, có 7 cầu treo bắc qua hai bờ sông Pô-Kô, Kon-Tum, bị mưa cuốn trôi. Theo tính toán của giới chuyên môn, muốn xây dựng mới một cây cầu treo phải tiêu tốn không dưới 1,5 tỷ đồng nhưng Chính quyền địa phương vẫn phải lần lượt xây lại cầu nhằm đáp ứng nguyện vọng chung của dân chúng trong vùng sông Pô-Kô. Thêm một cây cầu quay bắc qua sông Hàn của thành phố Đà Nẵng khánh thành năm 2000 trở nên “độc nhất vô nhị” ở chỗ do phần lớn công sức của nhân dân, cán bộ, công chức thành phố đóng góp xây dựng cầu. Không còn gì phải nghi ngờ vì nơi đây có gắn tấm bảng đá ghi danh sách tên cá nhân, tập thể đóng góp. Và chính vì việc bắc cầu quay qua sông Hàn hợp lòng dân, khởi đầu cho một giai đoạn tăng tốc chỉnh trang đô thị Đà Nẵng. Khi đó, không phải trên đất nước này không có những nhịp cầu làm để “báo công, tranh chức” xuất hiện vội vội, vàng vàng. Cầu xây xong để đó. Cầu buồn. Cầu ngẫm ngợi “làm thơ”. Dân chúng qua sông phải bắc thang lên đỉnh trời, thẫn người, gặp cầu “Mơ Ước!”…

Điểm qua vài cây cầu xa, gần, để ngẫm lại cầu Tắc Thủ. Cầu hình thành một cách rất riêng: Cầu khởi công xây dựng vào thời điểm đáng nhớ, 1985, năm cuối một thời bao cấp thóc cao gạo kém, thiết kế theo tiêu chuẩn cầu giao thông nông thôn, 5 nhịp, tổng chiều dài 158m (không tính đường vào cầu), chiều rộng mặt bằng lưu thông 3,5m, tải trọng 3,5 tấn, mố trụ bằng bê tông cốt thép… Sau 20 năm đưa vào sử dụng, cầu được sửa chữa, duy tu một lần: Tháo dỡ toàn bộ mặt cầu, hàn tăng cường các phần hư hỏng trên khung, đà dọc, đà ngang, cao rỉ toàn bộ dàn thép, tận dụng tole cũ 70% mặt cầu, bổ sung 30% tole mới, sơn lại hai lớp sơn chống rỉ, lắp lại mặt cầu bằng bulong đk20…

Không kể một lần sửa chữa nâng cấp cầu kể trên, trước đó, lúc cầu còn nằm trong dự tính ngay thời điểm ngân sách tỉnh không cho phép làm cầu vượt qua con sông lớn như sông Ông Đốc, mặc dù chỉ là cầu sắt đơn sơ. Vì lẽ đó, chủ trương xây cầu không mấy suôn sẻ. Có một vài ý kiến cho rằng tỉnh nóng vội, chủ quan, quên liệu cơm gắp mắm. Kết thúc những cuộc họp bàn cãi, căng kéo, ông Đoàn Thanh Vị (Ba Vị) kết luận bằng chất giọng trầm và ấm, dân dã, dứt khoát: “Phải làm cầu Tắc Thủ! Khó khăn, ta khắc phục. Trước tiên vì đời sống nhiều mặt của mấy trăm ngàn dân hai huyện căn cứ địa Cách mạng. Sau đó ta còn phải tiến ra biển… Là người đứng đầu tỉnh hiện tại, Ba Vị này hoàn toàn chịu trách nhiệm!”.

Theo hướng đó, vốn liếng xây cầu Tắc Thủ xoay xở từ nguồn tiền bán cây củi tới độ tuổi khai thác trên diện tích trên dưới 300 hec-ta của một số Lâm trường huyện U Minh. Cơ sở, nền tảng xây dựng giao thông nông thôn dựa vào tuyến đê ngăn mặn lâu đời từ vàm Cái Tàu xuống thị tứ Sông Đốc, tuyến đê giữ nước Khánh An - Nguyễn Phích - Khánh Lâm… Tiến độ thi công làm đường chậm hơn xây cầu vì đường phải qua sông rạch chằng chịt, qua mương vườn, ao đầm và nhiều vùng đất thấp…Thực ra lúc bấy giờ không phải chưa có phương tiện cơ giới nhập từ nước ngoài về, nhưng do túi tiền nắm trong tay không cho phép làm việc gì cũng thuê, cũng mướn. Thế nên việc xẻ kinh mương làm đường dẫn lên cầu, bồi đắp mấy tuyến đê kết hợp giữa cơ giới và sức dân. Nhà nước và Nhân dân cùng làm. Còn việc bồi thường giải phóng mặt bằng tạm bằng nhiều cách: dùng đất công xa, gần, vật liệu xây dựng đổi lấy đất tư nhân, đổi nhà, hỗ trợ nhiều phương tiện di dời chỗ ở cho dân theo hướng quy hoạch chung của tỉnh…

Chuyện giải tỏa mặt bằng làm cầu, nguyên Bí thư xã Khánh An- Chín Phinh dành cho tôi câu chuyện nhỏ - chuyện ông Bùi Văn Hốt (Tám Hốt) - người Rạch Giếng, Khánh An. Chín kể: “Nhà ở, đất ở đối với người nông dân quan trọng đến cỡ nào? Đằng này, vạt đất dành cho con tôm có trồng sẵn lá dừa nước của ông Tám Hốt có tới hai mặt tiền nằm gọn trong phần đất làm đường dẫn lên cầu. Giữa lúc chuyển dịch kinh tế trên đất nuôi trồng linh tinh sang nuôi con tôm ôm cây lúa, ông Tám Hốt làm sao không khỏi đắn đo, tiếc rẻ những đầm tôm trong dự định? Gia đình 7 đứa con, 5 trai, 2 gái, ngoài thằng Út còn nhỏ, còn bao nhiêu tới tuổi dựng vợ, gả chồng… Thấy ông Tám thường lui tới vạt đất lá lấp đầy ụ đất trống hoang trống hoác, tụi này không yên. Mãi cho tới khi cầu Tắc Thủ xây xong, trông thấy người, xe, qua lại con sông rộng rinh tính thời gian bằng phút, đặc biệt năm rừng U Minh bị cháy lớn (2002), cán bộ, bộ đội, dân công trong vùng ĐBSCL, kèm thêm phương tiện máy móc, xăng xe qua cầu Tắc Thủ đi cứu lấy cánh rừng vùi trong biển lửa, chưa kể quá trình xây dựng nhà máy Khí - Điện - Đạm Cà Mau trên đất Khánh An, ông Tám Hốt tự nhiên thốt lên rằng, từ đời ông sở ông sơ tới nay xứ sở ông mới có được con đường trải nhựa, thêm cây cầu bắc qua sông lớn, đối với một người nông dân như ông, có gì sánh bằng!...”.

Lâm Quang Gẫm nhớ lại… Ngoài chuyện 2 lần Gẫm tham dự bữa cơm Tết nguyên đán, tiệc liên hoan khánh thành cầu đơn sơ, đạm bạc với anh em công nhân làm cầu, Gẫm kể ngắn: “Ước gì anh Hai Tòng còn sống biết nhiều chuyện xây cầu Tắc Thủ hơn tôi. Làm việc chung với anh Hai hồi còn ở huyện lúc xây cầu chúng tôi mới biết quỹ xây cầu từ nguồn thu nhập bán cây củi nhưng trong dự toán kinh phí chưa trừ ra khoản thuê mướn nhân công khai thác, nên theo chỗ tôi biết, ngân sách tỉnh có đóng góp vào công trình một phần. Rốt lại, tỉnh không lâm nợ khi làm xong cầu Tắc Thủ…”.

Trở lại người làm việc lâu năm trong văn phòng Tỉnh ủy Cà Mau, Bảy Trị cho biết thêm cầu Tắc Thủ mới vừa xây xong liền đưa đón tất thảy người đi bộ trong vùng, có cả dân Khánh An, Khánh Bình, Tân Lợi… Không lâu, cầu tải thêm xe 2 bánh, 4 bánh, đi đi, về về hai huyện Trần Văn Thời và U Minh. Xe khách, xe tải, về tới Biện Nhị (huyện lỵ U Minh), Rạch Ráng (huyện lỵ Trần Văn Thời), ra vàm Kinh Hội, Kinh Năm - Hòn Đá Bạc và thị tứ Sông Đốc, gặp biển…

Bảy Trị dừng từng chập lâu trong lúc cung cấp cho tôi thêm một số tư liệu quí về việc xây cầu Tắc Thủ. Trong khuôn viên cà-phê sân vườn thoáng mát, hiện rõ trước mặt tôi một anh Bảy Trị có thời gian trực tiếp tham gia công trình nhà máy Khí - Điện - Đạm Cà Mau sau khi nghỉ hưu. Bảy kể: “Anh biết không, lúc ngành dầu khí Trung ương thăm dò địa điểm đặt nhà máy Khí - Điện - Đạm nhiều nơi trong vùng ĐBSCL, chú Ba mình nuôi hy vọng… Sống, làm việc chung nhiều năm, tôi biết tâm trạng chú Ba. Vì lẽ đó, ai lại không mừng khi vận may về với tỉnh nhà, đặc biệt là Bí thư Tỉnh ủy. Địa điểm đặt khu nhà máy Khí - Điện - Đạm có trôi đâu xa, tại Khánh An, huyện U Minh, Cà Mau. Lập tức, dự án Khí - Điện - Đạm Cà Mau (1 trong 3 dự án lớn giai đoạn 2000 - 2005 của ngành dầu khí Việt Nam) được triển khai. Thế là cầu Tắc Thủ gánh thêm một việc hệ trọng. Dĩ nhiên vật tư, trang thiết bị xây dựng nhà máy phần lớn vận chuyển bằng đường thủy, còn những vật nhẹ, còn kỹ sư, công nhân, có cả người nước ngoài, làm việc ngày đêm trên công trường đều phải qua cầu Tắc Thủ… Nếu tính từ ngày làm Lễ phát lịnh khởi công xây dựng nhà máy Khí - Điện - Đạm Cà Mau (9/4/2006), ngày dòng khí thương mại đầu tiên từ biển được đưa vào bờ, dẫn tới khu công nghiệp Khánh An cung cấp cho nhà máy điện Cà Mau (11/5/2007), ngày nhà máy Đạm Cà Mau đã chạy thử thành công xưởng tạo hạt, một trong những công đoạn cuối cùng cho ra đời sản phẩm “Đạm Cà Mau” (24/11/2011)… mới thấy sức tải, sức chịu đựng và đóng góp lớn nhiều mặt vào đời sống kinh tế, xã hội của cây cầu Tắc Thủ trong thời gian gần nửa đời người. Và cho đến nay, cầu Tắc Thủ không ngưng nghỉ!”…

Chuyện tản mạn về cây cầu Tắc Thủ bắc qua sông Ông Đốc chưa khép lại…

 TP Cà Mau, tháng Chạp 2011

Bút ký Nguyễn Thanh 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác