Cảm nhận của nhà văn nhân Tết Canh Dần - Hà Nội

(Toquoc)- Năm 2010, Hà Nội tổ chức Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội lần 8. Báo điện tử Tổ Quốc đã ghi nhận những suy nghĩ, trăn trở và cảm xúc của các nhà văn nhân một xuân mới với nhiều sự kiện trọng đại của đất nước.

Cảm nhận của nhà văn nhân Tết Canh Dần - Hà Nội - ảnh 1
Nhà văn Trung Trung Đỉnh, nhà thơ Thanh Thảo, nhà văn Lê Văn Thảo
 

PV: Năm 2010 là một năm có rất nhiều sự kiện của đất nước nói chung và của Hội Nhà văn Việt Nam nói riêng, trong đó nổi bật nhất là Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và Đại hội Hội Nhà văn, nhà văn có suy nghĩ gì trước những mốc đó?

Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Câu hỏi to tát quá. Đại lễ 1.000 năm Thăng Long cả nước đang háo hức đón chào, tôi làm sao đứng ngoài cuộc được. Còn đại hội nhà văn thì cứ theo nhiệm kỳ mà tiến hành, tôi cảm thấy khá bình thường.

Nhà văn Lê Văn Thảo: Năm 2010 có nhiều sự kiện có ý nghĩa. Hai sự kiện chính:

Đại lễ 1.000 Thăng Long quá đặc biệt, dịp đáng nhớ cho cả một đời người. Nhất là đối với người ở Nam Bộ tận cùng đất nước như tôi. Năm 75, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội, Lưu Quang Vũ dẫn tôi thăm thú đây đó, đến hồ Gươm cầu Thê Húc, Vũ chỉ vào ô đá dưới chân cầu nói: “Đây là chỗ Nguyễn Văn Siêu đốt chữ”. Tôi ngạc nhiên đến bàng hoàng. Vậy ra Văn như Siêu Quát vô tiền Hán là ở đây? Đó là lần đầu tiên tôi chạm vào di tích của Hà Nội, người miền Bắc, người Hà Nội không có được cảm giác đó.

Trong nghệ thuật có cái nhìn gần, có cái nhìn xa. Người tại chỗ có cái hiểu biết sâu sắc, tường tận của người tại chỗ. Người ở xa có cái cái hoài niệm, tưởng nhớ của người ở xa. Năm Hà Nội tổ chức chấm giải bài hát hay nhất viết về Hà Nội, có rất nhiều bài viết về Hà Nội, của người Hà Nội, nhưng bài hay nhất được chọn lại là bài Nhớ về Hà Nội của Hoàng Hiệp người Nam Bộ. Trong lúc đó bài rất hay viết về sông Cửu Long là của người miền Bắc, bài Chiều buồn trên sông Cửu Long của Phạm Duy, viết năm 1956.

Văn học là nhân học, viết về con người. Cội nguồn gốc rễ là phần quan trọng nhất của con người. Năm của 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội là dịp ta nghĩ về cội nguồn dân tộc, ông bà tổ tiên với những chiến công lẫy lừng hiển hách. Ta nghĩ về công việc làm của mình, làm thế nào để xứng đáng với những bậc cha ông như thế.

Còn đại Hội Nhà văn Việt Nam năm nay được chỉ rõ trong chỉ thị “Đại hội của chuyển giao thế hệ”. Tuy rằng trong văn chương không phân định già trẻ, nhưng dù sao đó cũng là điều đáng lưu tâm. Thế hệ chiến tranh chống Mỹ như tôi cũng đã trên 70, công việc sắp tới của văn học, sáng tác và điều hành Hội, là của những người trưởng thành sau chiến tranh. Mỗi thế hệ có ưu điểm riêng của mình, nhưng dù sao con đường vẫn là đi lên, tôi tin điều đó.

Nhà thơ Thanh Thảo: Đó là những cái mốc lớn của đất nước, tất nhiên nó có tác động vào các nhà văn, vì các nhà văn trước hết là công dân của đất nước.

PV: Theo nhà văn thì văn chương có bị tác động bởi những sự kiện đó không? Nếu có thì nó sẽ tác động như thế nào?

Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Các sự kiện lớn của dân tộc của đất nước luôn luôn giúp các nhà văn có dịp nghĩ ngợi về lịch sử dân tộc và đất nước mình, từ đó trách nhiệm càng thêm lớn lao, rõ ràng hơn. Một nhà văn mà thờ ơ trước các sự kiện lớn lao của dân tộc, của đất nước mình thì làm sao có thể chấp nhận được? 

Nhà văn Lê Văn Thảo: Nói “tác động” là chưa đúng. Văn chương là cái lâu dài, bền bỉ, công việc của năm mười năm, có khi cả đời, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, định ra “mốc” này “mốc” kia chỉ là cách nói tương đối vậy thôi. Với ý nghĩa như đã nói trên, đây là dịp nhà văn ngẫm nghĩ, làm giàu thêm cảm xúc của mình. Không chỉ năm nay, năm của 1.000 Thăng Long, mà cứ mỗi dịp gần đến Tết như thế này, đêm Ba mươi rước ông bà, tôi lại bồi hồi nhớ về cha ông, tổ tiên ông bà, thương cho đất nước gian nan cơ cực và cũng tự hào về những điều đó.

Nhà thơ Thanh Thảo: Tác động như thế nào, tác động tới đâu, tác động để có thể “đẻ” ra tác phẩm không, thì còn phải tùy vào từng nhà văn, chứ văn học không thể sáng tác theo phong trào hay “nhân dịp”. Với sáng tác văn học, những sự kiện lớn vẫn là… những sự kiện lớn, vậy thôi! Nhiều khi nhà văn viết được những tác phẩm lớn từ những “sự kiện” rất nhỏ, thậm chí từ những gì bị quên lãng, ít ai để ý, hoặc “vô tích sự”. Văn học kỳ lạ ở chỗ đó.

PV: Nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ để lại dư âm trong lòng công chúng vì được lấy cảm hứng sáng tác từ Hà Nội. Vậy với nhà văn thì sao? Hà Nội có ý nghĩa thế nào trong sáng tác văn chương của ông không?

Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Sau chiến tranh, tôi được về  sống ở Hà Nội - là cư dân Hà Nội hơn 30 năm rồi. Tôi viết văn cũng trên ba mươi năm nay, đa số các sáng tác của tôi được viết ở Hà Nội. Hà Nội luôn luôn là không gian tốt nhất cho tôi sáng tác.

Nhà văn Lê Văn Thảo: Chúng ta có một thủ đô thật đáng tự hào, không chỉ vì tuổi 1.000 năm của nó, mà còn về chiến tích, vì cảnh sắc. Bao chiến công giữ nước và dựng nước đã ghi dấu tích ở đây, hết chiến tranh rồi lại hiền hòa với cây xanh, hồ nước, con sông Hồng chảy ngang qua. Cảm hứng sáng tác từ thủ đô chiếm phần không nhỏ trong sáng tác của văn nghệ sĩ văn thơ nhạc họa xưa nay, riêng văn chương đã không thể kể hết.

Tôi không thể viết về Hà Nội. Tôi viết văn xuôi, việc viết lách gắn liền với ngôn ngữ. Vẫn biết rằng thống nhất ngôn ngữ là nhiệm vụ của người làm văn hóa, trong đó có nhà văn, nhưng đất nước ta chia cắt lâu dài, ngôn ngữ Nam Bắc vẫn còn nhiều cách biệt. Tôi không thể miêu tả người Hà Nội ăn nói đi đứng kiểu Hà Nội mà không đâm ra ngọng nghịu. Nhiều nhà văn miền Nam ở Hà Nội mấy mươi năm, viết về Hà Nội cũng chọn nhân vật người miền Nam tập kết ra Bắc.

Hà Nội đối với tôi chỉ là niềm ngưỡng mộ vậy thôi.

Nhà thơ Thanh Thảo: Tôi có hẳn một trường ca về một nhân vật của Hà Nội: Nhà thơ Cao Bá Quát (trường ca “Đêm trên cát”). Đó là một trong số ít những tác phẩm ưng ý nhất trong cả cuộc đời sáng tác của tôi. Ngoài ra, tôi cũng có vài ba bài thơ viết Hà Nội và có lẽ đó toàn là bài hay cả! Nói như thế để thấy Hà Nội đối với tôi quan trọng như thế nào. Đó là nơi tôi đã lớn lên, và trưởng thành, là nơi tôi có mối tình đầu, và là nơi suốt đời tôi yêu mến.

PV: Theo cái nhìn chủ quan của nhà văn thì sau hơn một năm Hà Nội sáp nhập, những nét văn hoá truyền thống vốn có của Hà Nội trước đây được làm giàu thêm hay khác đi?

Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Tôi nghĩ, to hơn, rộng hơn không quan trọng bằng giữ được bản sắc văn hoá hàng ngàn năm cha ông ta đã tạo dựng nên. Tôi thấy thủ đô nhiều nước lớn chỉ là một thành phố nhỏ (so với họ) nhưng đó là đặc trưng văn hoá và là trung tâm hành chính Quốc gia, vừa trang nghiêm vừa giàu đẹp. Hà Tây là một vùng đất văn hiến lâu đời, rất nhiều di tích lịch sử văn hoá cổ xưa và nhiều danh nhân hiền tài qua các thời kỳ lịch sử với cống hiến lớn lao cho đất nước, đồng thời nhân dân Hà Tây là một vùng cư dân giàu truyền thống văn hoá với nhiều nét sinh hoạt đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ… Hà Nội và Hà Tây sáp nhập với nhau nhưng nét sinh hoạt văn hoá đặc thù của từng địa phương tất nhiên sẽ có chịu những tác động nhất định. Điều ấy xin hãy chờ thời gian chứ tôi làm sao có đủ khả năng nhìn bao quát.

Nhà văn Lê Văn Thảo: Chuyện Hà Nội mở rộng là chuyện của những nhà kinh tế hoạch định cho tương lai. Tôi chỉ là nhà văn, ghi chép những gì đã có. Vừa rồi tôi có đi Hà Tây, thấy nó chỉ là Hà Tây, tôi già rồi không sống đủ lâu để thấy nó thành thành phố, thành thủ đô.

So với thành phố Hồ Chí Minh nơi tôi sinh sống, Tết ở Hà Nội cổ kính, yên ả hơn, đó là điều tôi đặc biệt yêu thích. Hà Nội giản dị thâm trầm, cũng là điều tôi rất thích. Nhiều dấu vết của thời bao cấp trong chiến tranh còn lưu dấu lại, tôi rất kính trọng. Hà Nội có nhiều chùa chiền, cảnh sắc cổ kính thơ mộng hơn nhiều thành phố khác trong nước, ngày Tết ở Hà Nội do đó lung linh nhiều màu sắc, đó là điều ai cũng công nhận.

Ngoài tất cả những điều đó ra, còn nhiều chuyện đáng bàn, không chỉ ở Hà Nội mà còn nhiều thành phố khác, như thành phố Hồ Chí Minh…

Nhà thơ Thanh Thảo: Việc mở rộng Hà Nội là một quyết định mang tính hành chính, còn Hà Nội trước khi mở rộng và sau khi mở rộng dĩ nhiên phải khác đi nhiều. Có thể to hơn nhưng chưa chắc đã đẹp hơn, cũng như có thể giàu hơn nhưng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cuộc đời vốn vậy, và Hà Nội cũng không ngoài qui luật. Một thủ đô không chỉ lớn về diện tích, cái lớn của một thủ đô được tính từ những giá trị tổng hợp, trong đó cái lớn về diện tích chỉ là một giá trị.

Đã quá lâu rồi tôi không có dịp ăn Tết ở Hà Nội để có thể so sánh với những cái Tết Hà Nội ngày còn cắp sách tới trường. Nhưng chắc phải là khác, khác nhiều lắm! Nhưng có sao đâu, cuộc đời vốn thay đổi, con người cũng đổi thay, những thế hệ sau sống khác những thế hệ trước. Ngay Hà Nội cũng đã thay đổi rất nhiều, vì thế chuyện cái Tết bây giờ khác Tết ngày trước là chuyện bình thường.

PV: Dự kiến trong tháng 8 năm 2010 Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tiến hành Đại hội, là Hội viên luôn quan tâm tới tình hình văn học của nước nhà, ông hy vọng điều gì ở Đại hội này?

Nhà văn Trung Trung Đỉnh: Đại hội Nhà văn là một sự kiện đáng quý giúp các nhà văn có điều kiện hội tụ với nhau tạo nên không khí mới cho một nhiệm kỳ mới. Tôi hy vọng sẽ vui vẻ thôi.

Nhà văn Lê Văn Thảo: Tôi mong và tin ở những người trẻ, chính họ chứ không ai khác gánh vác công việc của nền văn học nước nhà. Thật ra trong nhiều năm họ đã làm điều đó rồi, những nhà văn trẻ đã tỏ rõ phẩm chất vượt trội của mình, nhiều tác phẩm gây tiếng vang, được giải thưởng trong và ngoài nước.

Nhà thơ Thanh Thảo: Tôi cũng không dám hy vọng nhiều. Nhưng tôi mong nhà thơ Hữu Thỉnh sẽ tiếp tục là Chủ tịch Hội vì anh làm được việc, làm được nhiều việc cho Hội. Lý do thứ hai, là chưa thấy “ứng cử viên” nào có khả năng làm tốt như anh, chứ chưa dám nói làm tốt hơn anh trong cương vị ấy.

* Cảm ơn các nhà văn và xin chúc một năm mới tốt đẹp!

Hiền Nguyễn (thực hiện)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác