Cảm hứng chẳng còn khi thấy mình vô dụng

(Toquoc)- Nếu như nhà văn, nhà thơ cần đến cảm hứng sáng tạo khi cầm bút như một phép nhiệm màu thì liệu người làm lý luận phê bình và dịch thuật văn học có cần đến cảm hứng không? Cảm hứng có tầm quan trọng như thế nào với tất cả những người sáng tạo văn học nghệ thuật?... Tiếp tục bài phỏng vấn kỳ trước, báo điện tử Tổ Quốc xin giới thiệu cuộc trao đổi với nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng và dịch giả Lê Bá Thự.

 

Cảm hứng chẳng còn khi thấy mình vô dụng - ảnh 1

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng và Dịch giả Lê Bá Thự

 

PV: Lý do nào để các ông lựa
chọn và bắt tay vào triển khai một tác phẩm?

Dịch giả Lê Bá Thự: Tôi có tiêu chí dịch thuật của tôi. Tác phẩm tôi chọn dịch trước hết phải là tác phẩm tôi cho là hay, tôi thích, tôi mà không thích thì đừng hòng tôi địch. Tiếp nữa, tôi cảm nhận tác phẩm này sẽ được độc giả Việt Nam mến mộ. Chẳng hạn, vừa rồi có người hỏi, tại sao tôi lại chọn dịch tiểu thuyết Quà của Chúa (Được Hội Nhà văn Việt Nam tặng bằng khen năm 2010)? Tôi đã trả lời thế này: “Vì đây là tác phẩm tôi thích, tôi thích vì tôi thấy nó độc đáo, nó độc đáo vì đề tài lạ và khó viết, khó viết mà viết rất hay, rất hay vì miêu tả nội tâm nhân vật và khai thác cái đẹp ẩn giấu bên trong cái xấu bề ngoài rất tài tình, tài tình đến độ làm chúng ta xúc động trào nước mắt, ngạc nhiên và khâm phục”. Đấy, lí do đấy, thưa chị.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Cũng như người sáng tác, người viết lí luận - phê bình cũng có sự lựa chọn đối tượng, tùy thuộc vào sự quan tâm, thích thú của mình đối với một kiểu tác giả, kiểu tác phẩm cụ thể nào đó. Tuy nhiên sự thích thú chỉ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để nhà lý luận- phê bình viết được tác phẩm (dù ngắn dù dài) về đối tượng mà mình hướng tới. Điều kiện đủ mà tôi muốn nói ở đây là khả năng chiếm lĩnh đối tượng mà mình sẽ viết. Chẳng hạn như tôi thường chỉ viết những tác phẩm lý luận - phê bình về văn xuôi hiện đại Việt Nam. Nhưng trong cái biển văn xuôi bao la ấy tôi cũng chỉ chủ yếu quan tâm tới thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết mà thôi. Như thế, tôi nghĩ, cũng đã là quá nhiều và nặng. Quả thực như thế cũng đã thấy ngợp rồi. Như cổ nhân vẫn thường nói là “lực bất tòng tâm”.

PV: Vậy sự lựa chọn đó có bị tác động hay chi phối bởi độc giả, tính thời sự của văn bản, của học thuật không?

Dịch giả Lê Bá Thự: Câu trả lời vừa rồi của tôi cho thấy, độc giả là một nhân tố quan trọng tác động, chi phối sự lựa chọn của tôi. Bởi vì độc giả chính là đối tượng phục vụ của dịch phẩm, là “đầu ra” của tác phẩm dịch. Đầu ra mà không suôn sẻ, không thuận buồm xuôi gió thì người dịch chẳng vui tí nào. Cho nên tôi thường chọn tác phẩm tôi cho là vừa thỏa mãn chính tôi, vừa thỏa mãn độc giả của tôi. Cũng cần phải thấy rằng, có những tác phẩm văn học hay, nhưng lại rất kén người đọc. Trong trường hợp như vậy thì người dịch phải cân nhắc giữa cái được và cái mất, và nhất là cuốn sách sắp dịch định nhằm vào đối tượng nào, để đưa ra quyết định chuẩn xác. Lại nữa, người đọc vốn rất đa dạng, về giới tính, về tuổi tác, về nghề nghiệp, về khả năng và trình độ cảm thụ tác phẩm v.v… cho nên cùng một tác phẩm, có thể người này thích, nhưng người kia không thích, đó là chuyện thường tình. Trước khi chọn một tác phẩm để dịch tôi thường phải tìm đọc hàng chục tác phẩm nguyên bản. Nói “nghề dịch lắm công phu” cũng còn là như vậy nữa đó. Tôi coi tác phẩm tôi phát hiện được để dịch sang tiếng Việt là một khám phá của riêng tôi trong cánh rừng văn học Ba Lan. Các tiểu thuyết Ba Lan đương đại tôi dịch trong mấy năm gần đây, như “Hoang thai”, “Xin cạch đàn ông!”, “Quà của Chúa”, “Các người khắc biết tay tôi!”... chính là những khám phá này. Nhiều khi tôi lấy làm thích thú, thậm chí tâm đắc, về khám phá của mình.

Còn tính thời sự của văn bản ư? Nếu là tác phẩm cổ điển thì tiêu chí này không cần thiết. Tuy nhiên, với các tác phẩm đương đại thì càng có tính thời sự, càng cập nhật càng tốt. Bởi sức lôi cuốn bạn đọc sẽ cao hơn, khi những vấn đề được đề cập trong tác phẩm còn đang nóng hổi. Nhưng thực ra tôi không bận tâm nhiều lắm đến tính thời sự của tác phẩm. Tiêu chí của tôi là hay, cứ hay là tôi OK.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Sự lựa chọn của một nhà văn chân chính (cả người sáng tác cũng như người viết lý luận - phê bình), theo cách nghĩ của tôi, là từ một bản lĩnh riêng của người ấy. Như kinh nghiệm của bản thân tôi hơn 30 năm viết lý luận- phê bình, là rất ít lệ thuộc bởi độc giả hay tính thời sự của văn bản hay học thuật hiểu theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên mỗi cá thể là người của một thời nên không tránh khỏi những ràng buộc của hoàn cảnh, vì thế cũng có lúc anh phải viết theo một thứ “com-măng” nào đó. Tôi vẫn thích câu nói đầy tiết tháo của nhà văn Nguyễn Khải “Tôi tuyệt đối không viết theo thời và cũng không viết theo những yêu cầu không thể chấp nhận của thị trường sách báo”. Tôi thường vẫn viết về những gì bản thân cảm thấy hứng thú, còn việc công bố nó ở đâu lại là một vấn đề khác.

PV: Trong quá trình làm việc của ông có cần đến cảm hứng không? Nếu có, nó thường đến lúc nào, trước khi làm, trong khi làm hay khi đã làm xong?.

Dịch giả Lê Bá Thự: Tôi phải nói ngay, dịch giả văn học mà không cần cảm hứng, hay không có cảm hứng thì đó có lẽ không phải là dịch giả, càng không phải là dịch thật. Chẳng phải nếu có mà là phải cảm hứng. Cảm hứng khi đi tìm nguyên tác, cảm hứng khi dịch, còn khi đã dịch xong xuôi, sách đã ấn hành, thì khỏi cần cảm hứng, mà cần sung sướng, lắm khi tôi đã không thể hoãn lại cái sự sung sướng này.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Làm việc gì có hiệu quả cũng cần cảm hứng. Xin nói vui là muốn có một bữa ăn ngon cũng cần cảm hứng trong nấu nướng và cảm hứng khi thưởng thức. Nhà thơ Xuân Diệu ngày trước có một câu thật hay “Em có tài nấu nướng/Anh có tài ngợi khen” là vì thế. Huống hồ là công việc thuộc phạm vi sáng tác, tôi thiển nghĩ là cảm hứng rất cần cho tất cả những người làm công việc sáng tác hay lí luận- phê bình. Cảm hứng là yếu tố tiên quyết đối với người sáng tác, tất nhiên, nhưng với người viết lí luận- phê bình cũng cần. Cảm hứng xuất hiện trước khi bắt tay vào làm một việc cụ thể nào đó. Cảm hứng cần được lưu giữ suốt trong quá trình làm việc; và thậm chí cảm hứng cần thiết phải được gìn giữ cẩn thận kể cả khi công việc ấy đã kết thúc bởi sẽ có một công việc nào đó mới mẻ xuất hiện; vì thế nó cần có một cái đà mới. Cái đà ấy chính là cái cảm hứng đã có trước đó. Nói tóm lại đã sống ở trên cõi đời này, nếu muốn có một cuộc sống có ý nghĩa và lao động có hiệu quả thì luôn luôn phải có cảm hứng.

PV: So với nhà văn, nhà thơ thì dịch giả và người làm lý luận phê bình liệu có thiên về lý trí hơn so với cảm hứng sáng tạo là yếu tố vô thức không? Vì sao?

Dịch giả Lê Bá Thự: Tác giả, hay nhà văn, nhà thơ viết (sáng tác) những gì họ biết, còn dịch giả phải biết tất cả những gì tác giả viết. Nếu không biết thì làm sao dịch nổi. Tác giả là những người sáng tạo thật sự, họ chủ động sáng tạo, còn dịch giả luôn luôn ở vị thế thụ động, thụ động theo tác giả, dịch giả không thể làm theo ý muốn chủ quan của mình, chẳng lẽ dịch giả lại yêu cầu tác giả phải viết những gì anh ta biết để anh ta còn dịch hay sao. Dịch giả khổ hơn tác giả là ở chỗ đó, dịch giả phải biết tuốt tuồn tuột mọi thứ, không biết thì phải đọc, phải học, phải tra cứu. Cho nên dịch giả nặng về sự hiểu biết, thông thái và sáng suốt. Muốn làm một dịch giả văn học thì điều kiện cần là người dịch phải giỏi ngoại ngữ, giỏi tiếng Việt, phải đọc nhiều, biết lắm, phông văn hóa rộng. Có người nói, dịch giả là người đồng sáng tạo, là đồng tác giả của tác phẩm. Theo tôi, phải nói rạch ròi như thế này: Bản gốc là sáng tạo của riêng tác giả, dịch giả không liên quan gì, nhưng tác phẩm dịch thì khác. Phần nội dung, hình thức của tác phẩm dịch vẫn là của tác giả, còn bản dịch tiếng Việt với văn phong và “cái tôi” sáng tạo trong Việt hóa là của dịch giả, và trong trường hợp một bản dịch cụ thể như vậy ta có thể gọi tác giả và dịch giả là đồng tác giả của dịch phẩm mà không sợ lấn sân, vì ai có phần của người ấy.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Người làm công việc lý luận - phê bình cần nhiều lí trí hơn so với người sáng tác cần đến vô thức. Nhưng với người sáng tác, cần đến vô thức là trong lúc viết, còn lúc viết xong, cần hoàn tất tác phẩm thì lại cần đến lí trí. Một nhà văn lớn- hay gọi là văn hào- thì cả lí trí cả tình cảm đều đồi dào. Tôi thích câu nói của một nhà thơ lớn, đại ý, trong sáng tác cần “đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ và đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim”.

PV: Một số nhà văn, nhà thơ tiết lộ rằng đã là nhà văn thì không chỉ trông chờ vào cảm hứng sáng tạo mà phải viết thường xuyên, thậm chí không có cảm hứng cũng cứ… viết!. Vậy ông có làm việc theo cách đó không?

Dịch giả Lê Bá Thự: Tôi khâm phục các nhà văn, nhà thơ, các dịch giả văn học (nếu có) không có cảm hứng mà vẫn viết. Tôi không làm việc theo cách đó và cũng không thể làm việc theo cách đó. Đã ngồi vào bàn để sáng tác hay dịch là tôi phải có cảm hứng. Không có cảm hứng thì tôi chịu, vì sản phẩm dịch của tôi sẽ vô hồn, khô không khốc, bạn đọc sẽ chê tôi. Tôi đã từng ngồi chơi xơi nước cả tháng trời vì cảm hứng chưa về với tôi.

PV: Cảm hứng hữu ích với công việc của ông như thế nào?

Dịch giả Lê Bá Thự: Có thể gọi cảm hứng là chất ma túy vô hình, hay siêu hình cũng được, của bất kì ai làm công việc sáng tạo. Ma lực của loại ma túy này có khi mạnh hơn cả ma túy “hữu hình” . Nó khiến nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, dịch giả, lắm khi như kẻ mất hồn, quên ăn, quên ngủ, thậm chí quên cả tắm giặt và làm “chuyện ấy”… Tại cảm hứng mà lắm khi tôi bị vợ “mắng”, vì đã đến giờ ăn, bữa ăn nóng sốt đã bày sẵn trên bàn mà ông chồng bị “cảm hứng” vẫn gan lì như cóc tía, ngồi cặm cụi viết lách, để cơm nguội, canh nguội. Lắm khi vợ tôi bảo: “Anh định làm việc để chết hay sao?”. Tôi trộm nghĩ (không dám cãi vợ), tôi làm việc là để sống, không làm việc là tôi chết. Nói vậy chắc chị hiểu, cảm hứng hữu ích với tôi như thế nào. Có thể nói không ngoa rằng, cảm hứng cho tôi năng lượng và sức lực, cho tôi trí tuệ, cho tôi những phút thăng hoa, xuất thần trong sáng tạo và dịch thuật. Nhưng cũng vì thiếu “ma túy cảm hứng” mà lắm khi tôi nghỉ dài dài, chẳng chịu làm gì. Chẳng hạn, tôi định sau Tết Tân Mão bắt tay ngay vào dịch cuốn tiểu thuyết “Dưới Thiên thần Sức mạnh” mà tôi vừa tìm được, thế mà tôi cứ bình chân như vại, rong chơi đến hết tháng giêng âm lịch mà vẫn không “khai mào” được, vì cảm hứng chưa về. May thay, từ đầu tháng hai âm lịch, cảm hứng đến với tôi rồi, tôi đã ngồi vào dịch và đã dịch xong ba chương của tiểu thuyết này. Một thí dụ cho chị thấy, cảm hứng cần và hữu ích với tôi như thế nào.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Với riêng tôi, dù viết một tác phẩm ngắn hay dài, đầu tiên cần phải có cảm hứng. Cảm hứng giúp tôi bắt tay vào viết và hướng dẫn tôi trong lúc viết; đồng thời giúp tôi sau đó xem xét đến kết quả công việc của mình.

PV: Vậy yếu tố nào sẽ làm triệt tiêu cảm hứng của ông?

Dịch giả Lê Bá Thự: Theo tôi, hiệu quả lao động thấp, thái độ dửng dưng như bánh chưng ngày tết của người đọc sẽ làm triệt tiêu cảm hứng. Chẳng hạn, một tác phẩm dịch mà không được người đọc mến mộ, họ không mua, không đọc, sách ế ẩm, bị chê bai, thì người dịch dễ bị nhụt chí, dễ bị cụt hứng. Ngoài ra, sức khỏe, tuổi tác cũng có thể làm triệt tiêu cảm hứng. Người tuổi cao, sức yếu, thường xuyên đau ốm, lực bất tòng tâm, thì cảm hứng cùn mòn dần. Cảm hứng chẳng còn khi người ta thấy mình vô dụng. Biết làm sao!

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Mỗi người làm công việc sáng tác sẽ bị triệt tiêu cảm hứng khi anh ta chạy theo những yêu cầu vô lí của loại độc giả lắm tiền nhưng chỉ là những trọc phú; hoặc giả là một thứ công chúng nghệ thuật đỏng đảnh và thậm chí lố bịch vì quá tin tưởng vào sức mua của đồng tiền đối với nghệ thuật. Cảm hứng cũng có thể bị triệt tiêu nếu khi viết ta đặt lợi ích vật chất lên hàng đầu (chưa viết đã tính toán chi li về nhuận bút). Yếu tố không vụ lợi của nghệ thuật, theo tôi, vẫn là một kích thích tố làm giảm thiểu cái gọi là “đánh mất cảm hứng” trong sáng tác. Nhưng trong cơ chế thị trường hiện nay, đây là một thách thức đối với người làm công vệc sáng tác. Nghệ sĩ cũng là con người nên cần phải sống, và muốn sống một cách tương đối, anh ta cũng rất cần những điều kiện vật chất tối thiểu. Vì thế những điều chúng ta bàn luận ở đây, theo tôi, cũng chỉ là tương đối thôi.

PV: Theo ông thì có thể nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo được không?.

Dịch giả Lê Bá Thự: Để nuôi dưỡng cảm hứng thì người dịch phải phấn đấu, không ngừng nâng cao chất lượng bản dịch, càng ngày càng có nhiều tác phẩm dịch hay, được bạn đọc mến mộ và tìm đọc. Bạn đọc sẽ cho ta cảm hứng. Để được như vậy thì ngoài những điều như tôi đã nói ở trên, dịch giả phải chọn đúng và chọn trúng tác phẩm để dịch. Vì có dịch giả tuy tay nghề vững, nhưng tác phẩm chọn dịch không hay, không trúng, thì người đọc sẽ không đón đọc. Sẽ rất uổng công nếu bỏ ra nhiều tháng trời để dịch một cuốn tiểu thuyết mà rốt cuộc hiệu quả chẳng là bao. Ngoài ra ta phải khỏe, phải lạc quan yêu đời, yêu người và nhất là yêu nghề thì cảm hứng mới thích đến với ta.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Cái gì cũng có thể bị triệt tiêu, cũng vậy, cái gì cũng có thể nuôi dưỡng . Theo tôi, cảm hứng là một cái gì có vẻ như vô hình, nhưng lại cũng rất hữu hình. Cảm hứng là một cái gì đó phi vật thể nhưng cũng có thể đong đếm được; vì thế cũng có thể nuôi dưỡng được. Nó cũng như đạo đức vậy - phải được nuôi dưỡng từ nhỏ, phải được di dưỡng thường xuyên. Cảm hứng không phải là thứ trời cho mà con người phải tạo ra. Nó là kết quả của việc mỗi người học trong sách vở, học trong cuộc sống, và phải càng “học thầy không tầy học bạn”. Nói cách khác, muốn có cảm hứng thì phải biết tích lũy cảm xúc, tích lũy kinh nghiệm sống. Và cuối cùng là bản lĩnh dám thể hiện cảm hứng. Ở người nào cảm hứng càng dồi dào thì tiền đề cho sáng tác càng đáng tin cậy.

* Xin cảm ơn dịch giả Lê Bá Thự và nhà lý luận phê bình văn học Bùi Việt Thắng!

Hiền Nguyễn (thực hiện)

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác