Cảm giác Văn Cao

Trần Ninh Hồ

Không ít lần tôi đã từ Hà Nội xuống Hải Phòng để được lang thang, khi với Đào Cảng, khi với Thanh Tùng, Nguyễn Khắc Phục, Tùng Linh, Thi Hoàng... Từ thủa mới trên dưới hai mươi tuổi cho đến nay tôi luôn có một cảm giác rằng cái quán tôi đang uống trà, uống rượu, cái hè phố tôi đang đi đây... nơi nào cũng như có hai con người mà mình chưa bao giờ được coi là quen biết, đã từng ngồi uống và đi qua. Đấy là Nguyên Hồng và Văn Cao.

- Xì! Bây giờ ông mới nói ra cái điều ấy chứ chúng tôi thì cảm thấy cái điều ấy từ đời tám hoánh nào rồi! - Nhà thơ Thi Hoàng cười mũi - cái loại người ấy, Nguyên Hồng, Văn Cao ấy, "họ" gớm lắm!, "họ" mà đã ở đâu, viết cái gì về nơi ấy thì nơi ấy là của "họ" luôn!

Ờ, mà đúng như vậy thật! Sông Cấm, sông Lấp, vườn hoa đưa người... hình như bao giờ cũng thế, cứ nhắc đến tên những nơi ấy là cứ có cảm giác Nguyên Hồng đang ở đấy. Còn Văn Cao? "Những người trên cửa biển" mà không có Văn Cao được chăng? Mười sáu, mười bảy tuổi với cây đàn ghi ta cũ mèm, Văn Cao đã đi cùng các tráng sinh Hướng Đạo trong nhóm "Đồng Vọng" của nhạc sĩ Hoàng Quý để viết những nhạc phẩm trữ tình bất tử: "Thiên Thai", "Suối Mơ", "Bến Xuân", "Cung Đàn Xưa"..., những hành khúc yêu nước nồng nhiệt: "Thăng Long", "Đống Đa"... Rồi "Tiến Quân Ca" khi ông mới hai mươi hai tuổi!...

"Sinh ra tôi đã có Hải Phòng

Đầu nhà mới trồng cây mận

Bãi sú bồi thành biển

Nhà máy xi măng đã dựng ven sông...

 

Hải Phòng nhiều mây nhiều nước

Mênh mông bốn phía chân trời...

 

Có mùa nhạn bay ra biển

Chim yến từ biển bay về

Bướm trắng rụng đầy ngọn sú ven sông

Đầu ngọn con sông những lá thuyền trút xuống.

 

Đâm lên khoảng mây giữa tỉnh

Tháp chuông nhà thờ...

Đêm đêm cầu nguyện bên đèn

Chỉ thấy những xác thiêu thân

Chết trên mặt bìa những cuốn sách kinh...

 

Như con sơn ca bị bẫy

Thấy mắt lưới nào sáng cũng nhảy!...

(Những người trên cửa biển)

Đấy là Hải Phòng những ngày nô lệ.

Còn Hải Phòng sau những ngày đã được giải phóng? "Có người không biết trăng là đẹp? Bỗng nhiên chiều đứng ngắm trăng lên/ Trên đầu nhà máy/ Nghe như ai hát trong lòng/… Những tâm hồn yêu màu nắng hoa viên/ Yêu màu nắng ngả sân nhà thờ cổ/ Giữa trưa nghiêng nắng đi chơi phố/ Tìm những người quen kể chuyện mình"

Nhưng Hải Phòng ngày ấy (từ 1956) vẫn còn là "Đất nước đang lên da lên thịt/ Đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày/... Nước biển đổ vào Hải Phòng ngày bão/ Những mảnh lưới thuyền ai tan tác/... Chúng tôi đêm ngày vét nước nối đê/ Tìm lại những nụ cười ở mỗi người sống sót/..."

Nghĩa là vẫn còn biết bao lo toan, đòi hỏi sự hi sinh trong những ngày đầu hạnh phúc. Nhưng không phải ai cũng nghĩ thế. Ngay từ những ngày xa xăm ấy, nhà thơ đã chỉ ra những gương mặt đen - những điềm gở ẩn chứa những hậu hoạ:

"Trong những ngày khó khăn chồng chất

Kẻ thù của chúng ta xuất hiện

Những con rồng đất khi đỏ khi xanh

Lẫn trong hàng ngũ...

Chúng muốn các em mới biết đi phải rụng

Mỏi mòn dần sức vỡ đất khai hoang...

Chúng nó ở bên ta trong lén lút

Đào rỗng từng kho tiền, gạo, thuốc men...

Tôi đã thấy từng mặt từng tên xâu chuỗi

Tôi sẽ vạch tìm từng mặt, từng tên...

Những tâm hồn khô như những tấm bìa da một cuốn kinh!..."

(Những người trên cửa biển)

Khi Văn Cao viết những dòng thơ này nơi cửa biển thì cũng ở nơi ấy, Nguyên Hồng viết "Con hùm con ở xóm tha hương" và "Sóng gầm"...

Lâu lắm rồi, kể từ khi Văn Cao mất (tháng 7 - 1995) tôi không đến căn gác tầng hai ở một góc phố nhỏ và rất vắng giữa Hà Nội kinh kỳ, chỉ cách trụ sở Hội Nhà Văn vài trăm mét. Nhưng căn gác ấy như vẫn còn y nguyên trong trí nhớ tôi, từ cái bậc cầu thang có tay vịn xi-măng mốc rêu dẫn lên chỗ Văn Cao ngồi. Hình như lúc nào ông cũng ngồi lặng lẽ như một chiếc bóng mặc dầu ông thường nói rất khẽ trong thơ ông: "Con thuyền đi qua/ để lại sóng/ Đoàn tàu đi qua/ để lại tiếng... Tôi không đi qua tôi/ để lại gì?"

Vâng! Ông không đi qua ông. Chúng tôi, đám hậu sinh, lại càng không thể đi qua ông:

"Ở rừng cao lá sà - mu gọi mưa

Ở rừng sâu lá thuỳ dương gọi suối

Ở biển xa

         lá phi lao

                     gọi mặt trời..."

 

"Kỷ niệm trong tôi

rơi

         như tiếng sỏi

                     trong lòng giếng cạn

Riêng những câu thơ

                                 còn xanh."

Những ngày ấy tôi hay đến nhà ông với công việc một người làm báo. Khi thì lấy những bức tranh nhỏ ông vẽ minh hoạ cho một truyện ngắn nào đó mà ông thấy đáng vẽ. Khi thì vài ba mảnh thơ. Tôi gọi là "mảnh thơ" vì giấy chép bản thảo của ông gửi in thường là những tờ giấy không đều nhau, tờ to, tờ nhỏ đã đành, mà có tờ trắng tinh giấy mới, lại có tờ giấy đã ố vàng. Đấy là những câu thơ khó đọc nhưng chẳng bao giờ dễ quên. Là những bức tranh thường là những nét thẳng như những nét hoạ kỷ hà, những "tông" mầu lạnh, nhưng lại rất gợi cảm và gây được những ấn tượng về những nỗi niềm trắc ẩn nào đó.

"Một trong những hướng xây dựng nhân văn là đào tạo cho xã hội những người biết khai thác, khám phá, phân tích thực tế và mở đường cho tương lai... Chính những yêu cầu đó đặt ra vấn đề thành lập cá tính cho một nhà thơ."

"Người đọc không bao giờ muốn nghe lại những ý, những lời đã cũ cũng như không muốn mua lại những đồ cũ mà họ đã phải thải đi từ lâu rồi. Người ta yêu những người cố mở đường mà thất bại, yêu những người biết thất bại mà dám mởi đường..."

"Cái mới trước hết là trong tư tưởng, trong cảm xúc và trong cảm giác của nhà thơ. Tấm bia trên mồ người đã khuất có khi còn ở lâu trên mặt đất hơn một cuộc đời. Biết bao nhiêu bài thơ mang cái mới nhất thời đã rụng trong khi tác giả của nó còn sống... Nếu không có nỗi lo lắng đó là chỉ víêt cho người bây giờ mà không có trách nhiệm với người (đời) sau... "Sự thất bại thường gặp trong một bài thơ là sự khép lại: khép tất cả sự muốn nghĩ và muốn nói!..."

Văn Cao đã viết những dòng suy ngẫm về Thơ ấy khi chớm bước vào tuổi ba mươi (1957), khi đời riêng đang gặp rất nhiều khó khăn, sau khi đã có sau lưng mình nhiều kiệt tác âm nhạc và không ít những trang thơ đầy giá trị cách tân vượt qua những cách tân thời Thơ mới một chặng đường xa.

Nhạc, Thơ và Hoạ của ông quả là những vệt sao băng quí giá trên vòm trời sáng tạo nghệ thuật văn chương:

"Thẳng, lạnh vẽ vào trắc ẩn

Cành khô thơ muốn nứt hoa

Cùng nhịp chuyển vần trời đất

Này đây bi ca, tráng ca!..."

Tôi đã viết những dòng như thế sau nhiều lần xúc động khi đọc rồi nghĩ về ông, vẫn biết rằng những dòng thô sơ ấy chẳng nói được bao nhiêu về con người lớn lao này.

 

Hà Nội- Đêm 09.7.2007

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác