Bến sông hoa

1. Nơi ấy, bắt đầu những hiểu biết của tuổi thơ tôi. Lần đầu tiên con bé chỉ quen với góc nhà, phòng lớp, những bạn bè thân thuộc đã mở mắt ra thấy được thế giới xao động bên ngoài. Và cái thế giới ấy bắt đầu từ khu chợ dọc bến sông này.

Bến sông hoa  - ảnh 1Trời mờ mờ sáng, cùng đứa bạn thân gần nhà, tôi đã chạy bộ ra bến Ninh Kiều, cái bến sông nổi tiếng của thành phố quê nhà để xem chợ nhóm. Buổi chợ đông bao giờ cũng rộn ràng, náo động. Mặt trời vẫn chưa lên nhưng ghe xuồng đã đậu đầy bến, tấp nập lên hàng. Đứng bên trên nhìn xuống biết bao lần mà cảm giác trong tôi vẫn tươi rói, tinh nguyên của cái lần đầu mở to mắt nhìn ghe xuồng từ các vùng sông rạch tiến vào đây như những mũi tên rẽ nước nhẹ nhàng trên bến sông. Cảnh “trên bến dưới thuyền” ồn ào, đông vui khiến ta nghe râng râng trong từng mạch máu, nghe nóng bừng trên khuôn mặt ngờ nghệch ngây thơ. Chưa hết, những cần xé đầy cam quýt, bầu bí và trăm thứ nữa cứ từ từ chuyển động về phía chợ, những chiếc cần xé nặng trịch che khuất cả người phu khuân vác gợi cảm giác chúng đang tự di chuyển một cách ngộ nghĩnh, lạ lùng trong mắt chúng tôi.

Rời mắt khỏi bến sông, khu chợ Cần Thơ lại hiện ra nồng nàn hương vị của buổi nhóm chợ. Đèn sáng choang, tiếng la hét, cười nói, tiếng người lục tục thức dậy sau giấc ngủ qua đêm ngay tại chỗ bán, tiếng ly tách chạm vào nhau cùng tiếng nước sôi xèo xèo trong mấy quán cà phê đầu chợ. Ai từng đến đây chắc sẽ không quên mấy quán cà phê ngay góc “Đèn ba ngọn”. Hầu như quán bán suốt đêm. Một hai giờ khuya, có việc đi đâu sớm, người dân thành phố hay ghé chỗ này, làm ly “Xây chừng” cho tỉnh ngủ. Giống như tôi, bao năm lên Sài Gòn ăn học vẫn nhớ mãi cái hương vị nồng nàn, cái ồn ã của khu chợ sớm, nhớ mãi ly cà phê nóng uống lúc sớm bửng ở góc đèn ba ngọn… Khu chợ với tôi như một trái tim lớn, phập phồng nhịp thở ấm nồng, và ghe xuồng khắp nơi đổ về mỗi buổi sớm là những mạch máu tươi hồng đem máu trở về tim để sau đó luân lưu đi khắp chốn… 

2. Nơi ấy, bên kia sông tôi còn một tên bạn thân và rất nhiều kỉ niệm tuổi xuân. Bước xuống một con đò, cô lái đò chỉ quẩy vài mái chèo là đã đến bờ bên kia. Lên cây cầu xi-măng nhỏ, đi vài bước đã tới nhà bạn tôi. Hắn nhỏ hơn tôi vài tuổi, học cùng lớp với nhỏ cháu tôi nhưng chúng tôi rất thân thiết vì cùng thích thơ văn. Chính trên cái máy chữ lọc cọc tại nhà tôi mà hai đứa cùng tập đánh những câu thơ đầu tiên. Đầu tiên cho cả một hành trình viết lách sau này của hắn để trở thành nhà văn khá nổi tiếng rồi chết tức tưởi với “Trái tim nhà văn”, tên truyện ngắn cuối cùng của hắn.

Bao giờ ngồi ở bến sông này, nhìn qua bên kia sông, tôi cũng nhớ tên bạn da diết. Vừa bước vào nhà, hắn đã gọi nhỏ em đi kêu cà phê. Tôi biết thừa là cà-phê ở cái quán gie ra đầu ngõ - Quán Thu Phong của chúng tôi! Rồi hai chúng tôi, cộng lại chưa đủ bốn chục tuổi mà ngồi đó, im lặng như hai ông bà già, thả hồn vào từng giai điệu êm ả, trầm buồn của nhạc tiền chiến, của giọng hát Thái Thanh, Lệ Thu, Sĩ Phú… Rồi uống từng ngụm cà phê đen, đặc quánh, ngọt đắng đầu lưỡi để âm hưởng đậm đà hơn, thơm tho hơn. Những phút giây ấy cứ trở về trong giấc mơ tôi sau khi tên bạn mất. Và lần nào tôi cũng rưng rưng, quặn thắt bất kể là bao nhiêu năm qua, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu!

Những lúc tụ tập đông hơn, đám bạn văn nghệ của tôi sẽ kéo ra quán Thu Phong. Cô chủ quán như thường lệ sẽ pha cho mỗi đứa một “phin” đen để “ngồi đợi cà phê nhỏ giọt mà nói dóc cho lâu” - cô vẫn đùa như vậy bởi cô cũng rất thích cái tên mà bọn tôi đã đặt cho quán nhà. Tên bạn tôi vênh mặt:

- Nhờ tụi này đặt tên mà quán chị nổi tiếng đó nghe! Lẽ ra chị phải cho bọn tôi uống cà phê “chùa”.

Rồi như sợ cô chủ quán quên, hắn thường ngâm ri rỉ bằng giọng ống bơ rè của hắn:

Cầu Thệ Thủy ngồi trơ cổ độ

Quán Thu Phong đứng rũ tà huy…

Cái quán cà phê ấy bây giờ không còn, ở chỗ đó nay đã là một căn nhà hai tầng. Cô chủ quán cũng trôi dạt về đâu không biết. Tên bạn tôi thì sau khi trở thành nhà văn, xuất bản hơn chục đầu sách, cưới đến hai lần vợ đã đột ngột “rời bỏ cuộc chơi” bởi một căn bệnh cấp tính ngặt nghèo. Từ đó tôi ít qua lại bên kia sông, chỉ những lúc ngồi trên bến sông bên này nhìn chợ nhóm, chợ tàn tôi lại ngậm ngùi thương nhớ. Nhất là những đêm trăng, những cô lái đò ngang quẫy mái chèo làm vỡ toé bóng trăng vàng trên sông, tôi lại nhớ chuyến “Đò trăng” của tên nhà văn thân thiết. Đò trăng kìa! Bà có thấy không? Kèm theo tiếng reo vui, tên bạn tôi thường vốc lên một bụm nước để xem trăng vàng rơi lả tả xuống mặt sông. Khuôn mặt tên bạn cứ hay trở về lãng đãng theo những con đò trăng trên bến sông này, làm sao không nhớ! Nhớ cả câu thơ dịu dàng dễ thương để lại cho bạn bè một mùa xuân nào xa tắp:

Tôi còn phố ấy tình thân

Mùa xuân lá vẫy cho gần tay nhau…

Ôi những mùa xuân thanh xuân, tôi còn để lại bến sông này! 

3. Nơi ấy, cạnh khu chợ nhóm bên ngoài dọc theo bến sông còn có một “Nhà lồng Chợ cổ”, niềm tự hào của người dân tỉnh Cần Thơ trước đây và thành phố Cần Thơ bây giờ. Khu nhà lồng chợ được xây sau năm 1915, do chính nhà thầu Brossard và Mopin xây dựng sau khi đã xây chợ Bến Thành ở Sài Gòn, chợ Đông Ba ở Huế và chợ PhnomPenn ở Campuchia. Do được kiến thiết sau nên nhà lồng chợ Cần Thơ mang qui mô mới lạ, cấu trúc vững khoẻ, thanh thoát, kết hợp hài hoà hai nền văn hoá Đông Tây từ chất liệu, màu sắc đến đường nét. Trong kí ức tôi, bến Ninh Kiều luôn gắn với Nhà lồng Chợ cổ và một công viên trải dài thoáng mát, nơi người dân thành phố có thể thư giản, hít thở khí trời sớm sớm, chiều chiều và tiện thể đi chợ mua thức ăn trong ngày.

Nhà lồng Chợ cổ nay đã được phục chế, vẫn giữ nguyên hình dáng cũ với tên Chợ Cần Thơ như để lưu giữ cái danh hiệu một thời là “Nhà lồng chợ đẹp nhất Đông Dương” của vùng đất Tây Đô tuy có nhiều thay đổi nơi này. Khu chợ bên bến sông giờ đã giải toả, Nhà lồng Chợ cổ đã chuyển đổi phương thức kinh doanh, chỉ còn bán đồ lưu niệm cho khách, chỉ còn lại cái bến sông xưa, còn lại khu công viên đẹp đẽ chạy dài theo bờ sông… 

4. Nơi ấy, bây giờ những ngày nghỉ hè tôi hay ra ngồi ở một quán cà phê nhỏ gần góc đèn ba ngọn. Khu chợ với cảnh tượng đông vui “Trên bến dưới thuyền” đã không còn, những cô chủ quán cà phê bán suốt đêm năm xưa cũng mất hút. Và bên kia sông, nơi tên bạn thân tôi nằm xuống Quán Thu Phong cũng đã lạc vào vườn quên lãng, có chăng chỉ còn đọng trong hoài niệm của ai đó trong nhóm bạn văn nghệ cũ. Tôi biết, dù có đi đâu, làm gì, trong lòng chúng tôi vẫn mãi lấp lánh một góc quán nhỏ bên sông, một hình ảnh thân thiết của tuổi thanh xuân, của quê nhà.

Tôi ngồi đó, ly cà phê đầu ngày bốc khói trên bàn. Ngụm cà phê uống vào dường như đắng hơn khi ta không có bạn bè bên cạnh cùng nỗi hụt hẩng vì những thứ mất đi trên bến sông này. Cái không khí ấm nồng của phiên chợ họp, tiếng ồn ào cười nói, la hét, dáng những chiếc cần xè chất đầy cây trái miệt vườn lù lù di chuyển, tiếng lộp cộp của ghe xuồng cập bến… Tất cả, tất cả nhịp đập gấp rút, hơi thở phập phồng của bến sông là vậy. Ôi, cái hồn chợ thân thuộc cũ, giờ trôi dạt về đâu?

Nhưng tôi biết, cái bến sông yêu dấu của tôi sẽ bừng tỉnh giấc lúc xuân về. Lúc ấy, ghe xuồng từ các vùng quê xa sẽ tấp nập ghé bến và hoa, cơ man là hoa sẽ nở rực nơi này. Những bông hoa đủ màu sắc, hương thơm từ bàn tay người lao động chắt chiu cả năm sẽ về đây tô thắm bến sông, mang không khí Tết về cho thành phố. Và tôi sẽ đứng trên bờ sông nhìn xuống, để thấy dòng sông trước mặt đã thực sự là một dòng sông hoa, bến sông của tôi sẽ là một Bến sông hoa. Hãy hình dung những ghe xuồng chở đầy hoa, từ khắp nơi hướng vào bờ, những mũi tên giờ đã thành hình những cánh hoa, hồng vàng tím đỏ khoe sắc khoe màu dưới ánh nắng rực rỡ của mùa xuân... Đẹp đẽ biết bao! Ngây ngất lòng người biết bao!

Vì vậy, trong hồn tôi, cái bến sông xưa của tuổi thơ, bến sông của tình bạn xanh biếc tuổi xuân thì, của những con đò trăng lung linh, sóng sánh ánh vàng giờ còn là Bến sông hoa, nơi tôi cảm nhận say sưa vẻ đẹp của đất trời, của mùa xuân đến sớm.

Bến sông, bến chợ, bến đò trăng, bến sông hoa… Quả thật, nơi ấy quê nhà!

Nguyễn Ngọc Tuyết

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác