BÀI HAIKÂU

Lê Đạt

Một người làm thơ mà không tin ở cơ may thì không làm được một cái gì đáng đồng tiền bát gạo cả. Cùng lắm là mất một cuộc đời. Đời người đáng quý thật nhưng con đường thiên lý của thơ cũng đáng quý không kém.


BÀI HAIKÂU - ảnh 1Mỗi nhà thơ có một cách làm việc khác nhau. Vichto Huygô không mấy khi ngồi mà thường đứng viết. Gớt ưa cưỡi trên một chiếc ghế ngựa gỗ trong một tư thế hết sức bất tiện để sáng tác. Flôbe thường ăn mặc rất tề chỉnh như sắp đón một thượng khách trước khi ngồi vào bàn. Nguyễn Tuân ưa viết trên loại giấy hảo hạng. Một nhà thơ bạn tôi chỉ có thể viết trên loại giấy xấu hoặc bản nháp một mặt mua ở hàng đồng nát. Anh ngại nhất những trang giấy quá trắng sợ chữ “xấu hổ“. Đó không phải là một cách lập dị. Đó là thuật tạo không khí thuận lợi để khởi hứng.

Tôi thường làm thơ vào thời gian đi bách bộ quanh Bờ Hồ. Không khí thoáng đãng khuyến khích tự do liên tưởng, một trong những vận hành quan trọng hàng đầu của sáng tác. Có thể nói hầu hết những bài Haikâu hay nhất của tôi đều là những bài thơ “bách bộ“ (lẽ dĩ nhiên người ta cũng có thể tự do liên tưởng trong một ổ chuột chật hẹp. Không có một nguyên tắc chung trong cách sáng tạo môi trường viết của các nhà thơ).

Tôi vừa bách bộ vừa nghĩ lan man. Một câu thơ bỗng nảy ra trong đầu:

            Người đến rồi người lại đi

Câu bắt đầu hơi bình dân kia khiến tôi nghĩ đến thể lục bát. Tôi vẫn vừa đi vừa lẩm bẩm:

            Người đến rồi người lại đi

Việc lặp đi lặp lại một câu thơ cho ta một tình huống thơ tương tự một trạng thái nhập đồng. Tôi buột nghĩ câu thơ thứ hai:

            Khiến người đứng gốc cây si đợi chờ

Trên đời những người “sốt sắng quá” thường không phải là kẻ vô tư. Trên giấy những chữ “sốt sắng quá” chạy đến đầu ngòi bút thường là những chữ không đáng tin cậy, cần kiểm tra lại. Giai đoạn thơ bách bộ chỉ là giai đoạn sơ khởi. Ưu điểm cũng như nhược điểm của nó là tính tự phát của những câu thơ “xuất khẩu”. Và thơ thì không thể hoàn toàn tự phát được. Nó đòi hỏi, nhất thiết đòi hỏi một giai đoạn tu từ, thường khi hết sức gian khổ trên giấy.

Ở Bờ Hồ về nhà tôi lập tức ghi Haikâu thơ tự phát kia vào nháp. Và tôi đọc đi đọc lại hàng chục lần bằng mắt. Việc ngâm nga lúc đầu giờ đây trở thành có hại, nó dễ khiến người ta chìm đắm trong âm thanh không có lợi cho việc thẩm định chữ. Tôi lặng lẽ đọc và nhận thấy trong tập hợp đứng gốc cây si đợi chờ chỉ gốc cây si là thật sự phát nghĩa còn những từ đứngđợi chờ có vẻ thừa… Đứng hay ngồi có quan trọng gì đâu! Đợi chờ quá dễ dãi, thiếu tính bất ngờ do đó lượng thông tin rất thấp, thậm trí bằng số không. Tôi nghĩ mãi không biết nên thay đứng đợi chờ bằng biểu thức gì. Miệng cứ lẩm nhẩm đọc đi đọc lại mãi. Tôi gần như bị nhạc điệu của câu thơ ru ngủ. Tôi biết đã đến lúc phải ngừng lại. Tiếp tục có nguy cơ bị rơi vào rãnh mòn của âm điệu dễ dãi. Tôi bỏ bản nháp đi làm việc khác để thay đổi không khí. Lúc này tốt nhất là nghe một bản nhạc (ưu tiên nhạc không lời). Cùng lắm có thể bật một chương trình ti vi miễn là nó đừng “sến” quá (một chương trình thời sự, vòng quanh thế giới hay khoa học là tốt nhất). Vì tôi vốn mắc bệnh mất ngủ mãn tính nên buổi chiều tôi dứt khoát không động đến thơ- chỉ đọc sách, ưu tiên sách lý luận hay trinh thám. Cũng có thể xem một phim võ hiệp Tàu.

Sớm hôm sau, bách bộ quanh Bờ Hồ, tôi lại tiếp tục công việc hôm trước. Tôi vừa đi vừa lẩm nhẩm. Tôi bỗng vô tình nhìn thấy cây si trong đền Ngọc Sơn. Ơrêka! Tôi thích thú sửa lại:

            Để người đền gốc cây si đợi chờ.

Từ đền nhất định phát nghĩa tốt hơn là đứng hay ngồi. Nhưng hình như từ đền quá to so với không gian chung của câu thơ. Hơn nữa hai từ dấu huyền người đền đi cặp kè đọc lên nghe có phần hơi chối tai. Tôi lẩm bẩm mãi từ đền. Tôi chợt nghĩ đến một hình ảnh rất dân dã và cũng rất độc đáo. Trong tiếng lóng “đường phố”, người ta thường gọi một cửa hàng có cô chủ bắt mắt là miếu. Thời kháng chiến lần thứ nhất, cánh cán bộ và chiến sĩ trẻ ở ATK không mấy người là không biết tiếng miếu cô Hạ áo tím ở Cao Vân.

            Để người miếu gốc cây si đợi chờ

Tập hợp miếu gốc cây si có vẻ đắc địa.

Tôi viết ra giấy, đọc đi đọc lại, cười một mình lấy làm thú vị. Nhưng hai từ đợi chờ vẫn gợi cảm giác khó chịu như những vị khách không mời mà đến ám quẻ. Tôi gạch đi gạch lại dưới từ miếu cây si. Từ miếu bỗng gợi tôi nghĩ đến từ khấn. Khấn chờ nhất định là nhiều thông tin hơn đợi chờ. Nhưng từ chờ vẫn chưa ổn. Nó nhàm quá. Tôi đọc đi đọc lại mãi (lẽ dĩ nhiên bằng mắt). Không  hiểu sao tôi bỗng vụt nghĩ đến hai từ khấn tình. Hình ảnh này loé sáng  như một đốn ngộ. Tôi đọc lại:

            Người đến rồi người lại đi

            Để người miếu gốc cây si khấn tình

Cổ nhân nói: Người đẹp từ trong chữ bước ra thật là sâu sắc và hữu lý. Tôi bỗng có cảm giác lâng lâng hạnh phúc như vừa kỳ ngộ một giai nhân. Tôi tạm đặt tên duyên may này là hiệu ứng Từ Thức. Trong thâm tâm tôi biết mình đã gặp câu thơ hằng chờ đợi. Những người yêu thơ và làm thơ hết lòng đôi khi có cái cơ may của họ Từ. Có người hỏi tôi:

-          Sao lần này anh lại làm thơ lục bát?

-          Lục bát thì sao?

Một người cách tân thơ không cần và không nên kỳ thị bất cứ thể thơ nào. Tôi chưa bao giờ kỳ thị thơ lục bát. Tôi chỉ phản đối quan niệm thủ cựu cho rằng thơ lục bát và chỉ thơ lục bát với là thơ dân tộc trăm phần trăm! Thơ lục bát, thơ tự do, thơ Đường, thơ leo thang… đều có thể là thơ dân tộc được cả. Khuyết tật là một điều bất hạnh. Đương yên đương lành ai lại tự khuyết tật cảm xúc của mình để ”môđéc”. Thơ lục bát cũng có thể rất hiện đại. Đã có một thời người ta tranh luận rất say sưa và rất vô bổ về thơ nên có vần hay không vần. Vớ vẩn. Lúc nào hứng vần thì vần, lúc nào không hứng vần thì thôi. Thơ chẳng vì thế mà khó ở và bị biến mất cái “của quý” dân tộc.

Tôi xin mạn phép các bạn một câu hỏi nhỏ: bài Haikâu lục bát dưới đâu có phải “cổ lỗ” không:

Nắng tà tình chửa chấm câu

Vườn kỷ niệm mắt Đáp cầu vợt bướm

Nếu phải xin các bạn ưu tiên tôi cái “cổ lỗ” ấy!

Trong những bài thơ hiện đại dầu đau khổ nhất độc giả tinh tế bao giờ cũng thấp thấp thoáng một nụ cười giễu cợt pha chút châm biếm. Bài Haikâu:

            Ngoan cố thất tình xuân vẫn mải

            Khờ biết bao giờ hết dại yêu

là một bài tình ca buồn, nhưng nó không rơi vào tình trạng sướt mướt, “sến” của một bài tình ca lãng mạn. Những nhóm từ ngoan cố thất tình, dại yêu do tính bất thường của chúng đã tạo cho bài thơ một khoảng cách ngôn ngữ và bóng dáng một nụ cười. Hiện đại là một điểm nhìn một bộ pháp hơn là một thể viết quy định sẵn.

Tôi rất kính trọng nhà thơ Angđrê Brơtông chưởng môn lẫy lừng của phái siêu thực. Những đóng góp lớn lao của ông với phong trào văn học nghệ thuật của thế kỷ XX là không thể phủ nhận được. Nhưng tôi không thể không sòng phẳng nói rằng những bản tuyên ngôn của ông giá trị hơn thơ ông. Mặt khác thái độ kỳ thị của ông đối với các trường phái thơ khác là đáng trách. người ta mệnh danh ông là Đức Giáo Hoàng. Ông không ngừng phạt bên này thưởng bên kia một cách quyết liệt. ông vẫn chưa bước ra khỏi quỹ đạo của thơ truyền thống mặc dầu khao khát tiến hành một cuộc cách mạng triệt để. Quỹ đạo thơ truyền thống vận hành theo nguyên lý loại trừ của tư duy cổ điển. Quỹ đạo của thơ hiện đại vận hành theo nguyên lý bổ sung của Ninx Bo một trong những tổ sư của vật lý lượng tử. Tôi xin được phép nhấn mạnh một lần nữa:

Thơ truyền thống là tất định là loại trừ

Thơ hiện đại là bất định là bổ sung

Thơ truyền thống là một hệ khép kín

Thơ hiện đại là một hệ mở

Nhân tiện nói vắn tắt về thơ Haikâu. Trước hết tôi xin dẫn ra đây ba bài tứ tuyệt (Thể thơ đặc biệt cô đọng) được coi là những bài thơ tứ tuyệt mẫu mực hàng đầu trong Đường thi.

Bài I của Lý Bạch:

Sàng tiền minh nhật quang

Nghi thị địa phương sương

Cử đâu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương

(Trước giường ánh trăng sáng

Ngỡ là sương rơi trên mặt đất

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương)

Bài II của Mạnh Hạo Nhiên:

Xuân miên bắt giác hiểu

Xứ xứ văn đê điểu

Dạ lai phong vũ thanh

Hoa lạc tri đa thiều

(Đêm xuân ngủ không biết đã sáng

Đâu cũng nghe tiếng chim kêu

Tiếng gió mưa đêm qua

Hoa rụng nhiều hay ít)

Bài III của Thôi Hộ:

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

(Năm trước ngày này trong cửa này

Mặt người hoa đào cùng ánh đỏ

Mặt người ấy không biết giờ ở nơi nào

Hoa đào vẫn cười gió đông như cũ)

Tôi phải xin nói ngay. Tôi chưa bao giờ dám nhận xét rằng câu 1 và câu 2 hơi thừa. Mỗi bài thơ hay là một tập hợp hoàn chỉnh không thể nói thừa hay thiếu. Nhưng chắc các bạn không thể không nhận xét như tôi. Trong mỗi bài thơ tứ tuyệt câu 3 câu 4 thường là hay nhất căn bản nhất. Câu 1 câu 2 có thể coi như những câu dẫn. Lẽ dĩ nhiên một bài thơ nào cũng có câu dẫn. Nhưng vào thời đại bùng nổ của tin học với những mạch tích hợp ngày càng phức mà phải dùng đến Haikâu dẫn thì hơi tốn kém. Trên nền tảng những bài thơ tứ tuyệt của cổ nhân tôi muốn thử một cách dẫn tiết kiệm. Thơ Haikâu ra đời từ bận tâm chống lãng phí. Có thể tôi lầm nhưng thủ pháp giản ước quá hấp dẫn như thúc đẩy tôi “một liều ba bảy cũng liều”. Cầu trời phù hộ cho tôi!       

Còn tại sao lại viết Haikâu chứ không phải Haicâu, tôi xin thành khẩn khai báo rằng tôi tuyệt đối không mảy may có ý muốn lập dị. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng Haikâu không phải một bài tứ tuyệt cắt đôi hay hai câu thơ đơn thuần mà là một thể hoàn chỉnh tự đủ trên cơ sở những “chíp” chữ đa năng, đa nghĩa.

Chiếc “diều đứt dây” này có bay đến đích không. Tôi cũng không chắc. Nhưng tôi tin ở cơ may. Một người làm thơ mà không tin ở cơ may thì không làm được một cái gì đáng đồng tiền bát gạo cả. Cùng lắm là mất một cuộc đời. Đời người đáng quý thật nhưng con đường thiên lý của thơ cũng đáng quý không kém.

Tôi chưa bao giờ hoài nghi rằng con đường tôi đi lại không dẫn tôi “lạc” đến phố Bích Câu.

 

(Tạp chí Thơ)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác