Bà Sáu dưa môn (*)

(Toquoc)- Bà Sáu tên thật là Trần Thị Mận, được tôn vinh mẹ Việt Nam Anh hùng năm 1980, ngụ ấp Thới Bình B, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ. Tôi còn nhớ rõ năm đó, đoàn đến thăm viếng bà, đồng chí Trần Minh Sơn (Bảy Mạnh), Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc TP. Cần Thơ thay mặt đoàn chúc bà vui, khỏe, sống lâu. Bà Sáu cười móm mém, lắc lắc cái đầu: “Tui hổng có... nghe... thiệt chớ không phải giả bộ!”...

Bà lão thu mình bên mép cửa, đôi mắt mờ đục như bên ngoài trời mưa. Từng cơn gió xô những giọt nước li ti bay rơi bám lên mái tóc xám tro. Bà ngồi bất động hàng giờ, hàng giờ như thế! Mưa đã dứt hạt, việc trước tiên bà đi tìm chiếc nón lá cũ, cây dầm mòn như đũa bếp nấu tấm heo, lẫm đẫm ra bờ rạch mới buộc chiếc xuồng. Chiếc xuồng chắp vá nhiều lỗ, cắt cụt một phần lái nằm chìm lỉm dưới nước, sạp ván trôi bập bềnh. Bà cắm cây dầm lên bãi cỏ cẩn thận xoăn quần tới đầu gối lòi hai ống xương khô bọc lớp da nhăn nhúm. Từng vốc nước chuyển động tát ra ngoài bởi đôi bàn tay gầy như que củi đong đưa, thao tác nhuần nhuyễn cho đến khi nước cạn trong lòng xuồng. Chiếc xuồng và đời bà có quan hệ thân thiết, thuở lên 6 tuổi, cũng vào mùa nước nổi, bà ngồi trên xuồng mải mê vớt từng cánh hoa ô môi, xuồng đứt dây trôi dạt, bà dùng cây sậy nhỏ xíu vít móc một lúc lâu xuồng tấp vô bờ. Từ đó bà biết bơi xuồng trên sông nước. Khi lớn lên, bà đi xuồng nhiều hơn đi bộ, chiếc xuồng và đời bà gắn liền với nhau như hình với bóng. Chiếc xuồng từ khi mới mua cho đến khi cũ kỹ, hư mục được bà chăm sóc chùi rửa, kỳ cọ cẩn thận. Đến khi chiếc xuồng không còn sử dụng được nữa, bà xóc chéo bốn cái cây bằng cườm chân nhờ người hàng xóm khiêng lên để ngay ngắn, tẩn liệm vào đầy ắp đất và rơm cỏ mục để đó. Chờ cơn mưa đầu mùa kéo về, tự tay bà vun xới trồng: một mớ hành, một mớ rau húng đất, mớ rau rấp cá, ngò, quế, rau răm. Một vườn rau tươi xanh tốt trên chiếc xuồng, nếu như nấu canh chua có ngò, quế, gà nấu cháo xé phay trộn gỏi có rau răm, hành... đủ món gia vị cho bữa ngon miệng ở miền quê xa phố chợ. Không có ai cản được bà với chiếc xuồng, mùa khô cũng như mùa nước nổi, lang thang ngoài đồng ruộng mãi miết hàng buổi, hàng ngày. Đói, bà tấp xuồng vô bóng cây mở gói cơm mo cau ăn với muối ngon lành. Cơm, bà thức sớm nấu hơi nhão một chút, mo cau rửa sạch cho cơm vào đủ phần ăn túm lại nhồi bóp. Cơm nhuyễn dính lại thành cục dẻo khi ăn, cắt ra như bánh tét. Một gói cơm mo cau và gói muối là lương thực trong ngày của bà, có khi bà dùng muối mè như ăn cơm nếp, ngon đáo để. Người lối xóm đến chơi thấy bà ăn cơm mo cau, khuyên:

- Bà Sáu ơi? Giờ nồi xoong, ca mèn thiếu chi, mà không dùng bới cơm mang theo, bày vẽ cái thứ này chi cho nhọc sức?

- Cô chú không biết? ăn cơm này ngon. Là bánh của tui đó, ăn mà ghiền!

Ngày lang thang ngoài đồng ruộng, khi về xuồng chở đầy các thứ: Môn nước, ốc, cua, bông súng, rau dừa. Rau dừa là loại rau mọc trên mặt nước lá nhỏ li ti mình có phao nổi, cọng đo đỏ ăn với mắm kho là tuyệt. Bông súng, bà ngồi bó lại đem chia cho hàng xóm, ốc cua bà cho mấy thằng cháu luộc ăn, đôi khi bọn nó nhâm nhi với xị đế cười nghí ngố: “Món này ở chợ quý hiếm lắm! Đặc sản của vùng quê đó!”. Thấy vậy, lối xóm không đành lòng nhận không, người ta kín đáo đem tiền nhét vào giỏ trầu của bà. Nếu biết được thì bà giận: “Tao cho tụi bây! Chớ tao không bán”. Còn môn nước, bà bó lại đem ủ, đợi 3 ngày sau, cọng môn vàng như nghệ óng ánh. Bà đem ra sàn nước nhồi đạp nhừ tử rửa thật sạch cắt 3 phân vô nồi thau, trộn nửa chén tỏi đâm, một vốc ớt sừng, một muỗng muối, các thứ trộn đều cho vào hũ, năm ba ngày sau môn trở thành dưa. Một món dưa hương vị hết sức độc đáo ở vùng quê. Ở Ô Môn - Cần Thơ, Trường Thành, Thới Lai, Thới Thạnh, ai cũng mê thích món dưa môn của bà Sáu.

Thấy cảnh nhà đơn chiếc, người hàng xóm đem con cháu đến ở với bà hủ hỉ sớm hôm. Bà Sáu tâm sự:

“Đời tui cực khổ lắm! Thuở còn bé, gia đình nghèo cơm không đủ ăn, tôi phải đi giữ em cho nhà giàu, năm hai mươi tuổi lấy chồng, bên chồng nghèo phải đi cấy mướn, mỗi mùa cấy năm sáu chục công. Cấy từ đất giâm đến đất liền, hai bên háng thâm sưng vù phải xát bằng gạo nhai, hai bàn chân lỡ hết kẽ ngón, còn tay thúi móng hết trọi như cùi. Vậy mà không đủ ăn, bởi vay trước trả sau, lãi mẹ đẻ lãi con đời cơ cực lắm? Vừa dứt cảnh cơ cực đến cảnh kìm kẹp thời Luật 10 năm 59, lính làng lùng sục khắp nơi, sát hại chồng tui. Tui góa bụa nuôi con, chống chọi với giặc. Khi nghe tin con trai lớn - thượng sĩ Đỗ Văn Lợi hy sinh ở trận ông Hào năm 1965, tôi đau đớn không tả nổi. Niềm đau chưa dứt thì năm 1970, thằng con thứ Đỗ Văn Tình hy sinh; tiếp năm 1972, thằng út Đỗ Văn Giếng cũng hy sinh theo các anh nó ngay trên quê nhà. Tui cô đơn, tui buồn lắm! Lao động suốt ngày cho quên, đào hầm bí mật nuôi chứa cán bộ cho bớt nhớ con. Thấy cán bộ như thấy con. Có lần vừa đem cơm từ hầm về, bọn lính ập tới, tôi bình tĩnh bỏ chén tô xuống mương nhanh chân rượt đuổi bầy gà gần đó. Miệng la: “Bắt dùm tui, bắt dùm tui con gà trống mấy chú ơi!”. Bọn lính nhanh tay túm luôn số gà trong sân bỏ vào ba lô đi mất. Gần 3 tháng, tui mới hết buồn vì bầy gà mất ráo. Tôi đã chắt chiu bầy gà hằng ngày bằng con mối, cơm thừa quen tay mến cưng biết chừng nào vậy mà… Trời sinh ra tui dẻo dai hai cánh tay, có vậy tui mới sống đến ngày nay”. Tài sản, vốn liếng chỉ có một chiếc xuồng, hai hũ dưa môn, một cái diệm bằng sành. Một hũ dưa môn đầy, hũ kia cũng đầy nhưng bên dưới là tài liệu, thuốc men, đồ dùng của anh em cán bộ chiến sĩ cách mạng. Sáng sớm ở buổi chợ trưa về ở vùng căn cứ cách mạng, xuôi ngược mái dầm hôm sớm, áo sờn vai vì mưa nắng và lốm đốm những mủ dưa môn thâm quần da thịt.

Có lần nguy cấp nhất: Khi tui vừa bơi vọt vô vàm kinh, hai bên bờ sông nghẹt lính, đằng đằng sát khí chuẩn bị cho cuộc càn quét đẫm máu. Xuồng tui bị chận lại:

“Kêu tui hả! Hả?”. “Mua dưa môn hả?...”. “Hỏng có nghe!”. Tui giả vờ điếc lác ghé bên này, ghé bên kia, một hồi lần xuồng đi mất. Tui gấp rút về cho mấy đứa con cháu đang họp hay, nếu về không kịp lần đó chắc ít còn ai sống sót.

Vết sẹo lớn nằm vắt qua bắp tay càng co nhúm lại mỗi khi bà đưa tay lên vuốt mồ hôi trên trán. Bà nói: “Cái dấu này là kỷ niệm của tui liều mạng với thằng chủ ấp. Trưa hôm đó, bốn bề yên lặng, bỗng có tiếng la hét, tiếng chân chạy rầm rập làm cho cả xóm náo động. Tui vừa bước ra cửa, chợt thấy thằng Bảy, thằng Tình mặt mày tái mét cắm đầu chạy, theo sau là thằng chủ ấp và tốp lính rượt khẩn cấp. Thằng Bảy chỉ nói được mấy câu: “Nó bắt con đi lính bà Sáu ơi!” rồi khuất qua bụi chuối sau hè. Nghe hai tiếng “bà Sáu ơi”, tự dưng tui... lột cái khăn rằn đang đội trên đầu nắm trong tay thật chặt. Khi thằng chủ ấp vừa phớt qua mặt, tui quấn mạnh vào cổ nó, bất thần nó té nhào trên sân kéo theo tui lăn cù. Tui vừa lồm cồm ngồi dậy, thằng chủ ấp cũng kịp đứng lên. Nó hung hăng đạp vô ngực tui thật mạnh, tui té nằm vắt qua miệng lu nước, lu nước bể, cườm tay tui đứt máu ra lênh láng. Bọn lính ập tới, thằng đòi trói lại, có thằng lấy bông băng cầm máu. Đám lính nhùng nhằng, thằng Bảy, thằng Tình chạy mất. Bà con lối xóm hết lời khen ngợi tui, nhất là vợ của thằng Bảy lạy lục cám ơn: “Không có bà liều mạng với thằng chủ ấp, chồng con bị bắt đi lính, chết là cái chắc!”.

Bà con lối xóm hết sức yêu kính bà Sáu trong cái vóc dáng nhỏ con ốm yếu nhưng ý chí của bà mạnh mẽ vô cùng. Những năm chiến tranh ác liệt, trận đánh đám lính bình định ở Mương Ngang có một du kích của xã hy sinh. Lính không cho lấy thây, ý đồ để “nhử” ban đêm, người của ta ra lấy thây sẽ bị hốt gọn. Quyết tâm của xã đội là “bất cứ giá nào cũng phải lấy thây cho được, dù phải hy sinh thêm”, phương án đã lên. Tui biết được, cười: “Cái gì mà lớn lao dữ vậy tụi bây? Để tao”. Không ai tin được, trưa hôm đó, cái thây biến mất giữa ban ngày trước mặt hai thằng bình định canh giữ nhưng chỉ ngủ gật 15 phút. Sau đó, có người tín cẩn thỏ thẻ hỏi bà Sáu: “Bà làm cách nào mà êm ru?”. “Bọn chúng chú ý tăng cường vào ban đêm, ban ngày chúng lơ là. “Việt Cộng” có ba đầu sáu tay hay sao mà ban ngày dám ra?”. Tui biết được ý đó, bơi xuồng đi cắt môn làm dưa đến tận nơi đồng chí mình nằm, tui lăn cái thây xuống mương, xé đôi chiếc khăn rằn trên đầu nối lại buộc lòn vô nách, nói thầm: “Đi theo bà về con ơi!”. Một tay vịn xuồng, một tay kéo xác thằng cháu, xuống nước nó nhẹ re hà! Đến nơi an toàn, nhờ người bỏ lên xuồng, đậy môn lên. Đối với Bà Sáu, chừng như không có việc gì mà bà ngán ngại, làm không được. Gay go là bận chận đoàn xe lội nước.

Tiết trời tháng bảy âm lịch, vừa xế chiều, được tin đoàn xe thiết vận xa M113 ở Quân khu IV của Sài Gòn đi càn về từ Trường Thành, Lung Ông qua Định Môn rồi qua đồng Rạch Tra. Nơi nào xích sắt của xe cán qua chỉ còn đất bùn nhão, lúa chết sạch! Bà nóng ruột “chết lúa dân”, rủ bà Mai Thị Sóc (bà Năm Trầu) người dân tộc Khmer cùng một số chị em khác quần vo áo vận gọn gàng bươn bả ra đồng. Đoàn xe vừa chồm lên, bà Sáu căng tay ra. Xe lội nước khựng lại, súng hạ nòng chĩa vào bà. Bọn lính quát nạt: “Làm gì đó? Việt Cộng hả?”. Bà Sáu dõng dạc nói lớn: “Cho tui gặp ông chỉ huy ngay bây giờ!”. “Không có chỉ huy nào hết, tránh qua một bên. Nếu không, tao cho cán nhừ tử bây giờ”. “Cán đi”. Thấy tốp người đàn bà tay không cản trở trước đầu xe, thằng chỉ huy bước xuống, quát nạt: “Muốn chết hả?”. Bà Sáu và bà Năm ôn tồn:

- Chú có học, làm quan. Làm quan phải biết tôn trọng lẽ phải chớ! Đây là lúa đang tươi xanh, mấy ông căng ngang xe chạy cán nhừ tử, còn gì là hạt ngọc của trời. Mấy ông cũng ăn cơm mà sống, nỡ lòng nào làm như vầy cho đành. Phải chi ở đây là bãi chiến, mấy ông chạy trối chết thì không nói gì!

Nghe lời nói vừa có lý, có lẽ vừa cương quyết, thằng chỉ huy nhượng bộ cho xe bò xuống rạch từ từ đi về.

*

Bà Sáu tên thật là Trần Thị Mận, được tôn vinh mẹ Việt Nam Anh hùng năm 1980, ngụ ấp Thới Bình B, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ. Tôi còn nhớ rõ năm đó, đoàn đến thăm viếng bà, đồng chí Trần Minh Sơn (Bảy Mạnh), Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc TP. Cần Thơ thay mặt đoàn chúc bà vui, khỏe, sống lâu. Bà Sáu cười móm mém, lắc lắc cái đầu: “Tui hổng có... nghe... thiệt chớ không phải giả bộ!”. Tai của bà đã điếc thật! Cả đoàn cười rộ nhưng ai cũng nao lòng, càng thương bà thêm!

Chiến tranh đã qua đi như cơn bão lũ, ừ cây nào ngã, gãy, chết được dọn dẹp, số còn lại lần lượt đâm chồi trổ hoa, trái trĩu cành. Nhưng bà Sáu cũng với chiếc xuồng, với mấy hũ dưa môn. Người lối xóm khuyên:

 - Bà già rồi, ở nhà nghỉ cho khỏe, ở nhà vẫn có tiền có gạo đủ sống, đi bán dưa chi cho cực!

- Nghỉ ở nhà buồn lắm! Hôm nọ, chiếc xuồng hư, kéo lên trét mà tui dã dượi như bị bịnh. Nghỉ không được bây ơi!

Thấy vậy, bà con lối xóm đem giấu mấy cái hũ, bà Sáu nằm la liệt trên giường, người ta chở ra bệnh viện huyện. Bà ngồi co ro, khi bác sĩ đến khám, bà lắc cái đầu:

“Tui buồn, tui nhớ cái mùi hanh hanh, chua chua của dưa môn dữ lắm! Hồi hôm nằm ngủ ở đây, chiêm bao thấy đi bán dưa môn, đi tiếp tế cho bộ đội, lính đi càn đông nghẹt, trên trời thì máy bay, dưới đất thì xe lội nước. Chợt thương thằng Tám, thằng Năm ở Sư 30, tui cấp tốc bơi về cho tụi nó hay. Bơi... bơi mãi nhưng có bàn tay vô hình nào nắm trì kéo lại. Tui cố tình vùng vẫy, vùng vẫy đến ngất xỉu. Thằng Tám bị bom dầu cháy co quắp, thằng Năm bị xe lội nước cán nhừ tử. Lạy trời cho các con bình yên trở về”.

Người nghe như mơ, cơn mơ thật. Bác sĩ hết lời an ủi, tận tình chăm sóc, cho ăn uống bồi dưỡng, chích thuốc khỏe rồi cho bà về.

Về nhà, nghe nơi nào có môn nước, bà bơi xuồng tới. Mùa nước nổi thì đi tắt qua đồng, qua ruộng, mùa khô thì đi theo kênh rạch. Những năm bà còn sức khỏe tốt, người lối xóm thường mách cho bà: “ở chỗ đó có đám môn tốt, ở chỗ kia có đám môn tươi”. Thấy sức khỏe của bà ngày càng yếu đi, người lối xóm dặn với nhau: “Đừng cho bà Sáu biết nơi nào có môn, tội cho bà lắm!”. Không ai chỉ thì bà đi tìm, đi kiếm. Với quán tính, với nhiều năm kinh nghiệm ở miệt vườn, bà Sáu dòm xuống dòng nước, con mương, bà biết nơi nào có đám môn tốt hay xấu. Chẳng sai chút nào. Lẩn quẩn với công việc bơi, cắt, chỗ, có lần xuồng bà chở khẳm đừ bị rướn nọc lủng chìm, môn trôi, người thì hì hụp. Người ta đến kịp vớt bà lên, vớt môn lên, rồi vá xuồng cho bà đi về. Sau đợt đi cắt môn, đến việc đi bán dưa môn, mái dầm cùng mằn của bà Sáu nối liền các xóm, làng nghèo heo hút. Quá thương tình bà, người ta mua hộ dưa, không ăn cũng mua, mua biếu cho người khác. Có khi khách mua trả tiền gấp năm ba lần, bà một mực từ chối. Thấy vậy, người thân quen nhét tiền vào giỏ trầu dưới lái xuồng của bà. Tiền bán dưa, bà Sáu sắp từng tấm, từng loại cất kỹ, kỹ đến nỗi mối ăn mà không hay!

Bến chợ, ngày người nhóm thêm đông, đường sá ngày một ở rộng, còn hũ dưa môn của bà Sáu ngày một lưng dần. Buổi đầu, hai hũ và một diệm đầy ắp, về sau còn vỏn vẹn một diệm sành lưng lững nằm lỏng lẻo dưới khoang xuồng. Khi xưa, bà bơi chuyến hành trình dài thật dài, xa thật xa, suốt ngày đêm không mỏi. Theo tháng năm giảm dần, rút ngắn lại, rút ngắn lại... Chuyến gần nhất: bà Sáu ra khỏi nhà vài trăm thước rồi buông xuôi mái dầm ngã ngoẽo mình dưới xuồng, cũng may bà không ngã xuống nước. Bà Sáu được người ta đưa về chữa trị hàng tháng mới khỏi. Nhưng hai chân bà yếu lắm, đi đứng chân chạp. Hôm tôi ghé thăm, bà vẫn còn minh mẫn. Tôi xin bà chụp tấm hình làm kỷ niệm chúc bà sống trăm tuổi. Bà cười: “Sống chi dữ vậy?”

Vừa rồi, trong chuyến đi thực tế ở Trà Vinh, tôi được điện thoại của anh em trong huyện Thới Lai cho hay bà Sáu đã qua đời! Tôi rơi nước mắt: Chỉ còn vài tháng nữa bước qua tuổi chín mươi mà bà ráng không được! Đời của người đàn bà đôn hậu chịu thương chịu khó sống có nghĩa có tình với mọi người qua hai cuộc kháng chiến trọn vẹn với xóm làng, với quê hương.

“Cuối vườn chú Tư có đám môn tốt lắm bây ơi! Trả cái hũ cho tao vô kháp môn này ngon lắm! Mùi chua chua, hanh hanh của dưa môn làm sao mà quên được bây ơi! Cá linh, cá sặc non kho lạt chấm dưa môn, đời đời ngon bây ơi!”.

Bút ký của Nguyễn Văn Lộc

--------

(*) Tác phẩm đoạt Giải khuyến khích cuộc thi Bút ký Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV - năm 2010

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác