80 ngày ở Mỹ (tiếp theo và hết)


>>>
80 ngày ở Mỹ (kỳ 1)
 



Trường Báo chí đầu tiên thế giới

Tôi đến trường Đại học Missouri ở thành phố Colombia vào mùa hè nên ở đâu cũng vắng vẻ, yên tĩnh. Thành phố 84 ngàn dân này thực ra là một trường đại học, hay nó sinh ra là để phục vụ cho đại học Missouri. Ngoài 32 nghìn sinh viên, cũng từng ấy người nữa trực tiếp dính dáng đến việc học hành, số dân còn lại chắc chỉ lo siêu thị, bệnh viện, bán ô tô, xây dựng nhà cửa, bảo trì các công trình và các dịch vụ xã hội khác ở nơi được đánh giá là một trong mười thành phố đáng sống của Mỹ thì cũng đã hết người rồi.

Thành phố đại học ở trong rừng. Các tòa nhà chỉ 3 tầng trở xuống núp dưới các hàng cây sồi, cây phong cổ thụ bao quanh là những thảm cỏ xanh mướt, được chăm sóc chu đáo có những tốp chồn, nhím, thỏ thảnh thơi chạy nhảy, chẳng sợ hãi trước sự có mặt của con người. Căn nhà cao nhất thành phố là bãi giữ xe, 8 tầng. Đang vào hè nên chỉ còn tiếng ve kêu râm ran làm náo động không gian tĩnh lặng. Ve ở đây nhỏ hơn ve Việt Nam, nhưng mật độ dày đặc. Những cây phong ve bám kín cành lá. Thì ra ở đâu tiếng ve cũng gợi nhớ đến mùa hè của thời học trò.

Tôi chưa hỏi được ai là người đầu tiên, từ năm 1836 đã nghĩ ra được cái việc giữa hai thành phố lớn của bang Missouri là Saint Louis và Kansat City, tìm một vùng đất đồng không mông quạnh để mở trường đại học. Khoảng cách giữa đại học Missouri và hai thành phố lớn đó bằng nhau, trên dưới 200 km. Dù ai chăng nữa thì đó cũng là một tầm nhìn rất xa nếu đem so với công việc thiên nan vạn nan di dời các trường đại học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ra ngoại thành ở ta bây giờ.

Ở đây vào mùa hè còn có một cảnh tượng lạ lẫm (với tôi) và thú vị. Từng đoàn học sinh vừa xong lớp 12, “lêu lổng” không học hè, không ôn thi đại học mà cùng với phụ huynh lang thang từ đại học này sang đại học khác để tìm một chỗ học phù hợp với sở thích, với năng lực của mình. Còn các trường đại học thì cử những sinh viên có khả năng tiếp thị, có hiểu biết sâu về trường mình cũng như lịch sử, đời sống xã hội vùng đất quanh trường nhằm để thu hút càng nhiều sinh viên đến học càng tốt, nhất là những sinh viên giỏi. Ở đại học Missouri có Lê Ngọc Anh, huy chương vàng toán quốc tế năm 2008 ở Madrid, Tây Ban Nha, nhưng sang đây lại học công nghệ thông tin. Các giáo sư trường Toán vận động Ngọc Anh về học toán với nhiều ưu đãi, lại còn nhờ các anh chị Việt Nam đang làm luận văn tiến sĩ vận động thêm.

Sinh viên trên một trăm nước đã đến đây học. Việt Nam có gần 50 người, chỉ có 4 sinh viên đại học, còn lại là sinh viên tiến sĩ, sinh viên thạc sĩ như cách gọi ở đây. Điều này tôi cảm thấy có gì đó hay hay. Tôi đã nhìn thấy anh chị Cường, Thy, một người nghiên cứu sau tiến sĩ, một người đang bảo vệ luận văn tiến sĩ, có hai con đang học phổ thông ở đây, ba lô tòng teng trên vai, nắm tay nhau tung tăng trên con đường rợp bóng cây dẫn tới các giảng đường. Dù sao họ vẫn là học trò, tuy rằng nghiên cứu sau tiến sĩ không còn được gọi là sinh viên nữa.

Đại học Missouri chưa phải là đại học hàng đầu của nước Mỹ, nhưng có nhiều trường nổi tiếng như trường Nông nghiệp, trường Y… Đặc biệt là trường báo chí. Trường được thành lập từ 1 tháng 7 năm 1905, là trường báo chí đầu tiên của thế giới. Từ đó đến nay trường luôn đẫn đầu chuyên ngành này, không chỉ ở Mỹ. Trong các hoạt động báo chí trăm năm nay, các nhà báo tốt nghiệp trường này luôn tự hào về nguồn gốc đào tạo của mình. Hiện nay trường có hai tờ báo, phát hành rộng rãi. Tôi đã đến phòng trưng bày ảnh báo chí của trường. Có những bức ảnh từ đại chiến thế giới 1, lại có những bức ảnh về đồng bào HMông ở Mường Nhé, Điện Biên. Thế mới biết các nhà báo từ trường này đang có mặt nhiều nơi, hoạt động rộng khắp cả thời gian và không gian trên hành tinh này.

Những người Việt đang học tập, nghiên cứu ở đây cũng như các nơi khác trên đất Mỹ và ở các nước khác nữa chắc cũng chung một suy nghĩ như anh chị em đã nói với tôi trong một tiệc thịt nướng ngoài rừng rằng không biết công khó học tập của mình ở đây khi về Việt Nam sẽ được dùng như thế nào? Muốn có bằng tiến sĩ phải nghiên cứu ít nhất 5 năm, ở trường này là hệ số 5, 9 năm, tiền bạc bỏ ra không phải là ít. Dù là tiền của dự án 322 (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài của Bộ Giáo dục-Đào tạo), học bổng của chương trình hợp tác Việt-Mỹ, học bổng Fulbright, học bổng của trường (Asustentship) hoặc tiền tự túc cũng đều là tiền bạc phải bỏ công sức ra mới có. Nỗ lực học hành với tiền bạc ấy mà khi về nước không được sử dụng đúng ngành học, không được sắp xếp làm việc, giảng dạy đúng với khả năng từng người, có người còn làm việc không dính dáng đến những điều đã học như đang xẩy ra thì đó không phải là lãng phí mà là sự hoang phí mang tính chất rất tiêu cực.

 

Xung đột văn hóa

Một buổi chiều ở Chicago trên bờ vịnh Michigan, thành phố này là cái nôi của kiến trúc Mỹ, sau hai ngày lang thang trong các bảo tàng, khi ngồi uống cà phê Mỹ loãng thếch, một sinh viên sau 3 năm ở Mỹ, về Việt Nam nghỉ hè, khi trở lại tiếp tục học hỏi một nghiên cứu sinh:

- Em hỏi anh chuyện này, em đi xe máy về quê thăm bà ngoại, dọc đường thấy những xe hơi rất sang, họ dừng lại bên đường đi tiểu, đàn ông thì còn coi được, các bà ăn mặc rất đẹp cũng tụt váy đái bên đường, em không thể nào chịu được, như vậy có phải là xung đột văn hóa không?

- Chẳng có xung đột gì đâu. Trước đây, khi cậu ở nhà cũng đã có những chuyện như vậy. Ba năm qua đã có tiến bộ rồi đấy. Nhưng ở đây về thì cậu nhìn những chuyện ấy rõ hơn. Cũng như anh về đi nhậu với một thằng bạn, rượu vào nó đe nẹt các em gái phục vụ, anh rất khó chịu. Nhưng nhớ lại ngày trước nó còn quát tháo nhiều hơn mà mình đâu có khó chịu. Học xong về Việt Nam chỉ cần mấy tháng là quen ngay ấy mà, là hòa nhập hòa tan ngay thôi, chẳng có xung đột văn hóa gì đâu.

 

Nước Mỹ - Người Mỹ

Tám mươi năm trước, nhà viết kịch Anh gốc Ireland Bernard Shaw giải Nobel văn chương 1925, sau một chuyến đi Mỹ về được hỏi quan niệm của ông về người Mỹ, ông trả lời không đắn đo: “Một người Mỹ là một thằng đểu 99%, tôi đã nói thẳng với họ như vậy, nhưng họ rất thích tôi”.

Tám mươi năm sau chuyến đi Mỹ của Bernard Shaw, nhà văn Nguyễn Quang Lập hỏi nhà thơ Nguyễn Duy, người đi Mỹ nhiều lần, có lần ở cả 6 tháng và không phải là cưỡi ngựa xem hoa: Ông hãy nói cho tôi biết chỉ một câu về nước Mỹ”. Nguyễn Duy cũng trả lời không cần suy nghĩ: “Đó là đầy đủ tất cả những điều mà Mác mơ ước”.

Kỹ sư Hoàng Văn Quang, người đã chỉ cho tôi một cách chi tiết những điều gặp trên đất Mỹ từ luật lệ giao thông, các cách mua hàng trong siêu thị, cách đánh bài từng xu ở Las Vegas để có các em chân dài đưa bia đến uống miễn phí cho đến cách tìm đồ ăn trong hai cái tủ lạnh to đùng trong căn bếp khi anh vắng nhà. Nói chung là Quang biết nhiều “ngõ ngách” ở đây nhưng khi ở Việt Nam không bao giờ anh nói một câu về nước Mỹ, mà năm nào anh cũng về chừng một tháng. Có ai hỏi chuyện Mỹ anh thường nói lảng sang chuyện khác, thường là chuyện ăn chơi nhậu nhẹt ở Việt Nam.

Nhà báo Nguyễn Trung Dân nhiều lần đến Mỹ, có lần rong ruổi bằng ô tô từ Florida đến San Francisco tức là từ đông nam đến tây bắc nước Mỹ cả tháng, mỗi lần trở về có ai hỏi: Nước Mỹ có gì vui không, anh thường trả lời: Nước Mỹ chẳng có gì mà nói.

Con trai tôi nhiều lần gợi ý tôi qua Mỹ, tôi hơi ngại vì tuổi tác, ngôn ngữ, tiền bạc. Tôi nói hãy kể cho bố nghe vài điều về nước Mỹ, nó nói bố phải sang đây, không kể được.

Vì những lẽ đó, khi đến Mỹ tôi tìm cách đi đây đi đó, chỉ mấy nơi thôi, không nhiều vì nước Mỹ rộng gấp ba mươi lần nước Việt ta. Không như các đoàn nhà văn được đưa rước trọng thị và sang trọng như báo đưa tin, tôi di chuyển trên đất Mỹ theo kiểu đi trên đường giao liên Trường Sơn thời chống Mỹ cứu nước. Nghĩa là ở một trạm nào đó, anh em mua cho cái vé xe đò hoặc máy bay, soạn cho một ít đồ ăn rồi lên đường, như ở trạm giao liên người ta phát cho một nắm cơm trước khi rời trạm, chỉ khác là đi một mình, không có người dẫn đường, vì vậy phải giữ kỹ cái hộ chiếu và điện thoại đừng để hết pin, nhất là đừng để mất. Tất nhiên các “trạm trưởng” liên lạc trao đổi với nhau để tôi khỏi thất lạc ở cái nước Mỹ rộng lớn và lạ lẫm này, mà mỗi lần di chuyển thường mất bốn, năm giờ bay hay tám, chín giờ xe chạy trên trăm cây số/giờ. Vả lại dân Mỹ rất quan tâm giúp đỡ người khác nhất là những người lớ ngớ như tôi. Nếu có nhu cầu cần giúp đỡ họ rất tận tình, chỉ vẽ cặn kẽ với một tràng tiếng Anh nghe ù cả tai. Những lúc như vậy tôi không dại gì cố sức để nghe hay méo mồm nói thứ tiếng Anh nửa mùa của mình mà phải tụng thần chú. Tôi có mang sang Mỹ hai câu thần chú. Tôi tụng câu thứ nhất: I can not understand English (Tôi không hiểu tiếng Anh). Đã là thần chú, tụng xong linh nghiệm ngay. Người ta nắm tay tôi: Follow me (Theo tôi) và tận tình thỏa mãn điều cần giúp đỡ. Nếu vì điều gì đó, như không thể rời xa nơi đang làm việc chẳng hạn, họ sẽ giao tôi cho người khác. Sau khi hoàn mãn mọi việc, tôi tụng câu thần chú thứ hai: Thank you very much (Cảm ơn nhiều). Thế là ổn.

Nhớ hôm nhập cảnh Mỹ ở sân bay Chicago, còn phải bay một chặng nội địa nữa đến Saint Louis thì miền Missouri có tố lốc, chuyến bay chậm 5 giờ. Tôi đến đổi lấy tiền xu để gọi điện cho con trai, nhưng máy cũng nói một tràng dài không hiểu gì cả. Tôi thấy mấy người Mỹ cũng không đổi được tiền, chắc là máy hỏng. Nhớ bài viết “Một mình đến Mỹ” của nhà văn Cao Duy Thảo, khi đến sân bay Saint Louis ông đi lạc ra cửa sau, vội tìm tờ bảo bối ghi sẵn tiếng Anh để mượn máy điện thoại. Tôi chỉ vừa quay ra chưa kịp mở miệng thì có hai người chìa điện thoại, hình như họ theo dõi mọi hành động của tôi. Sau khi gọi điện cho con, tôi đi tìm cái gì để ăn, ngồi ở quầy hơi lâu, nên một trong hai người cho mượn điện thoại đã đến gọi tôi ra máy bay. Tất nhiên là tôi phải tụng câu thần chú thứ hai.

- Ở Mỹ chẳng ai phục vụ ai. Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh vừa nấu ăn vừa nói với tôi như vậy. Anh kể hồi bà mẹ mới từ Huế sang thấy anh rửa bát nói: Tao cho mày ăn học đến tiến sĩ mà phải làm việc này. Anh Khanh nói ở đây tổng thống ăn trưa trong Nhà trắng cũng phải rửa bát. Bà cụ giận anh cho là thằng con nói xạo mình. Cả năm sau cụ hiểu ra.

Một trí thức Phật tử người Việt nói sống ở đất Mỹ này mà không biết sám hối thì kiếp sau nai lưng mà trả nghiệp. Họ phí phạm vật thực quá. Đồ ăn thừa của Mỹ có thể cứu đói cho cả châu Phi. Tiêu thụ điện thì khỏi phải nói, nhất nhì thế giới. Xe hơi toàn loại phân khối lớn, uống xăng như “pháp”. Còn nếu chỗ ở như tiêu chuẩn người Mỹ thì nhân loại phải cần thêm 5 trái đất nữa. Tài sản trên hành tinh này đâu phải của riêng người Mỹ. Vợ chồng vị trí thức này có thu nhập vào loại cao ở Mỹ mỗi lần về Việt Nam chỉ ở khách sạn bình dân. Ông nói cần tiết kiệm, dôi ra ít tiền để giúp đỡ người khác, còn nhiều người khó khăn. Tôi đã nhìn thấy ở một nhà hàng tự chọn, khi hết giờ bán, họ dùa tất cả thức ăn vào thùng rác đủ các thứ từ của hoàng đế đến bít-tết bò. Còn trên xa lộ từ Las Vegas về gần Los Angeles, một chiều bảy làn xe, xe nào chở hai người trở lên thì được đi vào làn ưu tiên. Nhưng nhìn quanh những xe 3, 4, 5 chấm thậm chí cả xe 6 chấm 12 máy cũng chỉ có một mạng ngồi trên đó.

Một kỹ sư cao cấp chỉ tòa nhà nơi anh làm việc nói: Tôi đố ông có bao nhiêu người làm việc trong đó? Tôi đoán chắc cả chục ngàn người. Anh khen tôi nói gần đúng, khoảng 10 ngàn kỹ sư như anh và hơn anh đang làm việc trong đó. Tôi hỏi: Các ông làm việc gì ở cái hộp khổng lồ này. Anh đáp: “Nhiệm vụ của bọn tôi trong cái hộp đó là nghĩ ra những điều mà trên đời này chưa có. Như cái Iphone 4 hay cái máy bay B2 to đùng mà lại tàng hình được thì đã nghĩ hàng chục năm trước, hoặc lâu hơn nữa. Ông thông cảm, nước Mỹ là như vậy”.

Người Mỹ có vẻ dễ tin người. Nếu anh khai đã lái xe an toàn 5 năm, họ tin ngay và hạ mức bảo hiểm cho anh, hay anh nói thu nhập nhà tao dưới mức nghèo, họ phát ngay cho anh cái thẻ nhận hàng cho người nghèo, tất nhiên muốn kiểm tra họ chỉ cần nhấc chuột là xong, nhưng họ chẳng cần làm điều đó vì tin nhau, tin vào sự trung thực của nhau. Vả lại luật pháp của họ chặt chẽ đến mức nếu anh nói láo thì hậu quả khôn lường. Bạn tôi làm việc ở một công ty Mỹ có nhiều người Việt nói rằng những người Việt ở đó ít khi nói chuyện với nhau, gặp nhau cũng chẳng chào hỏi. Anh nói vì người Việt không tin nhau. Cháu Hưng, năm tuổi, con một nghiên cứu sinh, một hôm đi học về nói với các chú: “Việt Nam đánh thắng Mỹ”. Các chú hỏi: “Ai nói với con điều đó. Ở đây mình tế nhị không nên nhắc đến việc đó”. Cháu Hưng dõng dạc: “Cô giáo Mỹ nói với con như vậy.”. Nếu đúng là kẻ thua trận còn niềm tin vào con người, còn người thắng trận không còn niềm tin vào ai, kể cả đồng bào mình thì cái giá cho chiến thắng đó phải trả hơi bị không phải là rẻ.

Buổi chiều ở thị trấn Rocheport, bên bờ sông Missouri, vốn là một ga xe lửa tuyến đường sắt viễn tây qua các bang Missouri, Kansas, Oklahoma, Texas bây giờ đã thành khu bảo tồn thiên nhiên. Sau khi tháo dỡ tuyến đường sắt nổi tiếng này người ta thành lập công viên quốc gia Katy Trail dài 225 dặm từ Clinton đến St.Charles chạy dọc sông Missouri. Rocheport ở dặm thứ 178,3. Đường sắt cũ thành đường cho người đi xe đạp, đi bộ. Các nhà ga nhộn nhịp được xây dựng từ năm 1865 giờ thành các điểm du lịch, có phòng trưng bày lịch sử của tuyến đường sắt với nhiều ký ức của cuộc chinh phục miền tây. Đến đây dễ làm ta nhớ ra cảnh những cao bồi trên lưng ngựa đuổi theo đoàn tàu phì phò hơi nước trong các phim của Holywood. Bây giờ không còn cảnh ồn ào đó nữa, chỉ có tiếng xào xào của những cánh rừng hai bên đường, lâu lâu lại thấy một đoàn lữ khách đạp xe hoặc cuốc bộ đủ cả nam, phụ, lão, ấu vui vẻ trên đường. Đường sắt ở Mỹ đã hết thời rồi chăng?

Ở một nhà hàng bán thứ rượu vang địa phương, một nghiên cứu sinh, chưa đến tuổi 30 tâm sự:

- Những chuyện của nước Mỹ như quản lý xã hội, an sinh, y tế, giáo dục, môi trường họ đã phải làm hơn hai trăm năm mới được như bây giờ, mình cũng có thể học hỏi để áp dụng ở Việt Nam. Ngặt một điều là mình nghèo quá. Thời suy thoái của họ mà cách biệt quá lớn. 1/47 tính theo thu nhập đầu người. Bây giờ mình phải làm giàu cái đã. Làm giàu bằng cách nào? Nếu bình thường phải làm hàng trăm năm như họ nếu không có chiến tranh và tham nhũng. Còn mình đi tắt đón đầu, con đường đi đó có đúng không? Trong khi ở đây người ta tháo dỡ đường xe lửa, thì bên nhà định làm đường sắt cao tốc Bắc Nam tốn 56 tỷ đô la có phải một dạng đi tắt đón đầu không? Mà đất nước mình bây giờ hình như còn nghèo hơn. Tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị hủy hoại, ngay đến học vấn cũng có vấn đề. Những người Việt được các viện nghiên cứu, các trường đại học cử sang đây học là những người xuất sắc, cứ gọi là tinh hoa nhưng so với những nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc… họ cử đại trà hàng trăm hàng nghìn người ở mỗi trường đại học mình cũng chẳng hơn kém họ bao nhiêu, nhất là những phát minh. Chắc chú sẽ hỏi: Ngô Bảo Châu thì sao? Đúng anh ấy là niềm tự hào của Việt Nam mình nên nhà nước tổ chức tôn vinh anh ấy ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Như chú biết đấy, ở đây mà làm như vậy thì phải cần bao nhiêu cái trung tâm...

Tháng 8-2011

Thái Bá Lợi

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác