80 Ngày ở Mỹ

Tháng 5/2011 gặp nhà văn Thái Bá Lợi được ông thông báo đang chuẩn bị đi Mỹ, tháng 7 được điện thoại ông gọi về từ Mỹ, tháng 10, sau những ngày dài ở Mỹ, nhà văn gửi cho trang Văn học Quê nhà những ghi chép của ông trong thời gian sống trên đất Mỹ. Qua câu chuyện ông kể, chúng tôi được cung cấp thêm những tư liệu thực về cuộc sống ở nửa bên kia trái đất, những ghi chép thật nhiều chất sống. Xin giới thiệu tới bạn đọc "80 ngày ở Mỹ" của nhà văn Thái Bá Lợi.

 

80 NGÀY Ở MỸ

 

Hannibal

Tháng Tư 1975, Đà Nẵng mới giải phóng, tôi vớ được cuốn tạp chí Văn ở nơi người ta thu gom sách báo cũ gần chợ Cồn. Đó là số đặc biệt trích đăng hồi ký của nhà văn Mỹ Erskin Caldwell (tác giả tiểu thuyết Con đường thuốc lá nổi tiếng). Ông kể cứ đến mùa thu, ông tới khu nghỉ mát mùa hè của giới thượng lưu, xin cuốc đất trồng khoai, đốn củi. Khi tuyết rơi, ông đốt lò sưởi, đào khoai ăn và viết văn. Ông viết rất khỏe, hết mùa đông trong va-li đã có một chồng bản thảo rồi xách nó về New York. Đến một tòa soạn, Caldwell nộp thử năm truyện ngắn. Người Tổng biên tập nhận bài rồi sắp xếp cho ông nghỉ ở một nhà khách và dặn hãy chờ điện thoại. Suốt ngày ông không rời cái điện thoại, kể cả việc ông phải chạy thật nhanh để mua ổ bánh mì rồi trở về phòng ngay vì trên toàn thế giới chỉ có ông Tổng biên tập biết được số máy này. Sau vài ngày thì có chuông đổ. Caldwell để nó reo mấy cái cho sướng tai mới bắt máy. Đầu dây bên kia có tiếng nói: “Năm truyện của ông đều đạt cả, nhưng báo chỉ in hai truyện thôi, được chứ?”. Vì quá vui Caldwell không trả lời được. Lại có tiếng nói: “Chúng tôi trả anh hai năm mươi một truyện được không?”. Lúc này Caldwell đã tỉnh. “Hai năm mươi làm sao tôi đủ tiền về” - “Anh nói sao, mỗi truyện hai trăm năm mươi đô la, hai truyện là năm trăm, anh về đâu mà không đủ tiền?”. Lúc ấy giọng Caldwell run run: “Tôi tưởng hai đô la rưỡi”.

Sau khi dằn túi 500 đô la (vào những năm 30 thế kỷ trước đó là số tiền không nhỏ), Caldwell đáp tàu lửa về Hannibal, bên bờ sông Mississippy, quê hương nhà văn nổi tiếng Mark Twaine. Đang lang thang trên phố, ông nhìn thấy khách sạn Mark Twaine, vội xách hành lý vào. Sau khi đặt cái máy chữ vào một góc ông đến thuê phòng ngủ. Người lễ tân lắc đầu. Ông hỏi có phải khách sạn hết phòng không? Người lễ tân trả lời: “Còn nhiều phòng lắm, nhưng không cho các ông nhà văn với cái máy chữ trọ được. Họ ở cả tuần, bỏ đi không trả tiền, chỉ để lại cái máy chữ”. Caldwell nói là ông có tiền cũng không thuyết phục được người lễ tân cho đến khi ông móc túi lấy ra một tệp đô la thì mới có được chỗ nghỉ.

Còn bây giờ vào tháng 6-2011, tôi đã đứng trước khách sạn ấy, trông bề ngoài, có cảm tưởng nó cũng chẳng có thay đổi gì nhiều so với 80 năm trước.

Cái thị trấn thật nên thơ này cái gì cũng gắn với Mark Twaine. Nhà hàng, khách sạn, cửa hàng lưu niệm, quán cà phê, thư viện, hiệu sách, siêu thị… tất tật đều mang tên nhà văn. Người Mỹ là bậc thầy đánh thức các giá trị trong đó có văn chương thành tiền. Ngôi nhà của Mark Twaine thành bảo tàng, họ dựng lại căn nhà của Tom Sawyer, nhân vật trong tác phẩm cùng tên như những gì nhà văn tả trong sách. Khách phải bỏ ra 9 đô la để thăm mấy ngôi nhà nhỏ này trong một không gian hẹp chỉ bằng một phần mấy chục lần Bảo tàng Nghệ thuật Chicago mà ở đó chỉ phải trả 18 đô la. Trong Bảo tàng người ta còn trưng bày cái máy in sản xuất ở Chicago thời Mark Twaine làm báo. Nói chung họ tận dụng tối đa những gì gợi nhớ đến nhà văn. Có thể nói ở Hannibal ở đâu cũng có sự hiện diện của Mark Twaine. Trước mặt thị trấn là sông Missisippy, con sông hùng vĩ của nước Mỹ và thế giới vẫn lững lờ trôi, mang theo trong nó những xà lan chở hàng, chắc đã có từ sinh thời Mark Twaine. Cũng có một con đê để chống lũ. Bình thường, xe hơi có thể chạy ra tận mép nước, khi nước sông dâng cao người ta chỉ việc cẩu các cực chắn nước để nối hai đoạn đê lại với nhau, không cho nước sông tràn vào thị trấn. Nhìn nó thật đơn giản so với những gì rối rắm mà thành phố Hồ Chí Minh phải đối phó với triều cường.

Ở Hannibal người ta truyền tụng một câu chuyện rằng: Cô giáo dạy văn hỏi một học sinh: Sao em viết sai ngữ pháp nhiều quá vậy. Cậu học sinh trả lời rất dõng dạc: Em viết theo Mark Twaine. Cô giáo nói: Vậy là chưa ổn rồi. Khi nào nổi tiếng như Mark Twaine, em muốn viết sao cũng được, nhưng hiện tại em phải viết đúng ngữ pháp.

Lại nhớ trước khi phỏng vấn vào Mỹ, con trai tôi có dặn rằng: Bố cứ nói đến thăm gia đình con đang học ở Đại học Missouri, gần Hannibal, quê hương Mark Twaine thì sẽ dễ thuyết phục người phỏng vấn hơn. Nhưng khi phỏng vấn người ta lại hỏi: Con gái của mày đã có con chưa? Rồi sau đó cho visa, chẳng dính dáng gì đến văn chương cả. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhiều lần đi Mỹ, có một lần được hỏi: Mày đi giày số mấy? Một câu hỏi hơi bị ít chất thơ.

 

Đại vực (Grand Canyon)

Kỹ sư Hoàng Văn Quang, vốn là một dịch giả văn học tiếng Anh, từng là cộng tác viên quen thuộc với nhà xuất bản Đà Nẵng thời bao cấp, năm 1991 sang định cư ở Mỹ, một trong những người hội nhập thành công vào xã hội Mỹ, đang làm việc trong ngành công nghệ phần mềm lái xe đưa tôi và anh Kim chủ hiệu may Đại Nam ở Đà Nẵng từ Phoenix, thành phố lớn nhất bang Arizona lên Grand Canyon. Quang nói:

- Di sản thiên nhiên thế giới này không kể lại được, xem ảnh cũng khó hình dung ra, chỉ có đến nơi mới cảm nhận được.

Xe chúng tôi rời khỏi Phoenix bắt đầu leo dần vào vùng hoang mạc chỉ thấy có xương rồng mọc hai bên đường. Người ta còn đúc những cây xương rồng bằng bê tông làm biểu tượng cho vùng đất này ở những giao lộ trông như cây thật, lớn hơn nhiều lần để nhắc nhở cho người đi đường biết rằng xứ này chỉ có cây xương rồng mọc được.

- Bây giờ mà có một đoàn cao bồi cưỡi ngựa từ trong hẻm núi ra chắn đường thì gay. Anh Kim nói.

- Họ sẽ không đuổi kịp mình. Quang nói. Xe đang chạy 80 miles/giờ. Ở Mỹ chỉ thấy có một sự du di như là một luật bất thành văn. Đường cho chạy 70, có thể chạy lên 80, nhưng đến 81 thì có chuyện ngay.

Lên đến độ cao trên 1500 mét đã lác đác thấy những bụi cây khác ngoài xương rồng. Chúng tôi dừng lại một thị trấn nhỏ, rút bàn ghế trong xe ra ngồi pha trà uống. Cái nóng trên 40oC ở Phoenix ba giờ trước đã biến đâu mất. Ngồi dưới bóng hàng cây sồi cứ tưởng như đang ngồi ở Bảo Lộc, cửa ngõ lên Đà Lạt. Quang nói sẽ dừng lại ở một làng người da đỏ đang được bảo tồn trước khi vào Grand Canyon. Dọc đường tôi để ý có những bãi đất rộng dài cả chục cây số bên phải để trống, còn bên trái thì nhà cửa mọc lên san sát. Quang giải thích đó là đất Chính phủ đền bù cho người da đỏ khi giải tỏa để xây dựng thành phố, đường sá, không ai được động vào.

“Đại vực” - phải đứng bên bờ đá của vực mới cảm nhận được ý nghĩa của hai chữ này. Tôi đã xem tấm ảnh chụp Grand Canyon từ trên máy bay, dòng sông Colorado như một sợi chỉ xanh mỏng manh nằm giữa những vách đá màu au đỏ vừa hùng vĩ vừa rùng rợn. Tại sao thiên nhiên lại tạo ra một cảnh quan quái đản này. Đứng bên nó, nhìn xuống vực sâu hun hút lại có cảm giác con người sao mà bé nhỏ quá. Từ bờ vực phía nam đến bờ vực phía bắc tầm mắt không với tới. Tuy hai bờ chỉ cách nhau 16 km nhưng phải đi 356 km mới đến được với nhau đủ biết đường đất hiểm trở như thế nào. Đá làm nên đại vực không chỉ có màu đỏ gan gà mà còn màu xám, màu xanh đậm, màu vang nghệ, màu nâu sẫm. Các màu đá làm ta rối mắt, mà trút trách nhiệm cho tạo hóa tại sao lại phải rối rắm như vậy. Người ta làm đường dọc theo bờ vực để người đi bộ thỏa sức nhìn ngắm. Các trạm dừng chân cách nhau quãng một ngàn, quãng vài ngàn mét là nơi du khách nghỉ ngơi, giải trí, ăn uống rồi lên đường đi tiếp. Phong cảnh hùng vĩ này không làm chán mắt lữ khách, chỉ muốn đi thêm, nhìn thêm. Dù vậy chúng tôi chỉ đi được ba nơi là khu Trung tâm, khu Bảo tàng và Khu phía Đông nơi có ga xe lửa ở độ cao gần 2000 mét thì trời đã về chiều. Thật là quá ít ỏi bởi vườn quốc gia này nằm trên đất bang Arizona còn lấn sang cả Nevada và Utah.

Chúng tôi lên xe để đi Las Vegas. Hoàng Văn Quang nói rằng đến Grand Canyon để biết thế nào là thiên nhiên còn phải đến Las Vegas để biết thế nào là nước Mỹ. Ở cái sa mạc từ đất đai đến khí hậu chắc ít nơi nào khắc nghiệt hơn, người ta dựng lên một thành phố 1,6 triệu dân mô phỏng kiến trúc Anh, Ý, Ai Cập, Trung Hoa, Nhật Bản… Lại có cả kiến trúc của New York của Mỹ để cả thế giới đến đó không chỉ đánh bạc mà còn ăn chơi nhảy múa. Ngày 4/7 báo đưa tin có 300.000 người đến Las Vegas, chui vào cái thành phố mát rượi đó để giải trí bất kể nhiệt độ ngoài trời trên 40oC.

 

VN Bão lụt

Anh Nhật Thành, Bí thư quận ủy Sơn Trà năm 2006, thời cơn siêu bão Xangsane đổ vào Đà Nẵng nói với tôi: “Khi nào tiến sĩ Trần Tiễn Khanh về Đà Nẵng, anh báo cho tôi biết, tôi muốn gặp anh Khanh để nói lời cảm ơn”. Anh Thành kể:

- Một ngày trước khi bão đổ bộ, dự báo của Trung tâm khi tượng thủy văn là bão mạnh cấp 12 và trên cấp 12, nhưng tôi cũng chưa hình dung được sức mạnh tàn phá của bão. Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đóng Sở chỉ huy tại khách sạn Bạch Đằng nhắc nhở suy nghĩ phương án sơ tán dân ở bán đảo Sơn Trà. Cả trăm năm qua, bão vào Đà Nẵng nhiều, nhưng ít khi phải sơ tán dân, vì người ta tin vào sự che chắn của núi Sơn Trà. Tôi đang rất lưỡng lự vì sơ tán mấy chục ngàn người đâu phải chuyện đơn giản. Đang trong tâm trạng ấy, tôi mở VN Bão lụt của anh Khanh. Trang dự báo này đã dịch sang tiếng Việt và tải về dự báo của các cơ quan khí tượng trên thế giới như Hải quân Mỹ, Hồng Kông… và nhiều đài khác. Các dự báo gần như giống nhau về tốc độ gió, tọa độ, thời gian đổ bộ vào Đà Nẵng. Nhìn các thông số tôi hiểu ngay đây là một trận bão khủng khiếp. Tôi báo cáo về Sở chỉ huy đề nghị sơ tán gấp trên 30 ngàn dân của các phường ven biển. Chiều hôm ấy và cả trong đêm cuộc di tản lớn nhất từ trước đến giờ ở Sơn Trà được làm khẩn trương và quyết liệt, đến gần sáng thì xong. 9 giờ bão đổ bộ vào. Nhà cửa cấp 3, cấp 4 đổ sập hàng loạt, cả quận như vừa qua một trận B52 rải thảm. Thật may mắn không có một người nào thiệt mạng. Tôi phải nói lời cảm ơn tới anh Khanh.

Nhưng mấy lần tiến sĩ Khanh về Đà Nẵng, do chưa đủ cơ duyên mà hai con người này vẫn chưa gặp được nhau.

Tôi đến Las Vegas, ở nhà anh Khanh 10 ngày. Anh chị giao cho tôi cả tầng hai, gồm một phòng khách, hai phòng ngủ với hàng ngàn bản sách tiếng Việt, tiếng Anh. Tôi để ý có một phòng trong đó máy móc chạy ù ù suốt ngày. Anh Khanh nói đó là VN Bão lụt.

- Mấy năm trước tôi giành nhiều thì giờ cho trang dự báo này. Nhưng bây giờ thì rảnh rỗi hơn có thì giờ kiếm tiền nuôi vợ con. Thứ nhất là dự báo trong nước đã tốt lên rất nhiều. Vả lại tôi đã lập các phần mềm tự động để tìm kiếm tin tức và dịch sang tiếng Việt đều đặn mỗi ngày 4 lần, nếu có bão lụt ảnh hưởng đến Việt Nam thì cập nhật dày hơn.

Thời nhà báo Đặng Ngọc Khoa còn sống, mỗi lần về Việt Nam, anh Khanh thường đề xuất nhiều ý tưởng để giúp ngư dân bám biển mà có thông tin chính xác mỗi khi có bão tố. Anh muốn mỗi tàu có một điện thoại vệ tinh và anh tích cực cho dự án này. Nhưng không phải ý tưởng nào cũng có thể thực hiện được vì đụng nhiều cản trở có lý và vô lý. Nhưng anh không nản lòng. Anh nói:

- Mình có lòng với quê hương đất nước thì cứ làm hết sức mình. Còn thành tựu hay không đâu phải mình quyết định được, nên tôi lúc nào cũng lạc quan, công việc đến thì lại vui vẻ làm hăng hái như lúc ban đầu vậy.

Và vào một buổi sáng anh lái xe đưa tôi đến thăm hồ Lake Mead và đập thủy điện Hoover Dam, một công trình vĩ đại của nước Mỹ thời kinh tế suy thoái những năm 1930. Con đập chặn sông Colorado từ phía đông sang và các sông Nevddy Virgin từ phía bắc xuống làm nên công trình thủy điện lớn nhất nước Mỹ. Ngoài việc phát điện nó còn cung cấp nước ngọt cho ba bang California, Arizona, Nevada vốn là vùng đất khô cằn, hoang mạc. Anh mang theo một bao bánh mì để cho cá ăn. Những con cá chép lớn cả chục ki-lô-gam nhào lên mặt nước khi có người cho ăn. Chúng rất dạn với người vì ở hồ này người ta không bắt cá. Anh Khanh nói:

- Không làm được việc gì to tát thì làm việc nhỏ cho cá ăn vậy.

Tôi biết ngoài VN Bão lụt, anh Khanh còn làm những chuyện khác cũng không phải là nhỏ, nhưng anh không thích nói về nó.

(Còn tiếp)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác