“30 năm và những nhà thơ trẻ"

(Toquoc)- Theo lịch thì 8 giờ sáng mai, 09/9, Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần VIII sẽ chính thức khai mạc tại Tuyên Quang. 200 người tham dự Hội nghị đều chung một tâm trạng hồi hộp, phấn khởi trước một kỳ Hội nghị của giới sáng tác trẻ trong nước. Tâm trạng này cũng là tâm trạng chung của những nhà văn đã từng được tham dự các Hội nghị Viết văn trẻ trước đó bởi từng dòng ký ức tràn về.

Nhân dịp này, tìm trong tư liệu cũ chúng tôi thấy bài của nhà thơ Trần Ninh Hồ - một ‘nhà thơ đã từng trẻ’ - được viết trước thềm Hội nghị Viết văn trẻ lần VI (2001) tại Hà Nội. Để giúp độc giả có thêm thông tin về những kỳ Hội nghị trước đây, báo điện tử Tổ Quốc xin giới thiệu bài viết “30 năm và những nhà thơ trẻ” của nhà thơ Trần Ninh Hồ.

 

30 NĂM VÀ NHỮNG NHÀ THƠ TRẺ

 

Mấy tuần nay, liên tục trên các trang báo, tôi luôn được đọc những ý kiến của nhiều thế hệ nhà văn viết về những nhà văn trẻ trưởng thành từ những năm cuối cùng của thế kỷ XX và những suy ngẫm của chính họ. Lại được nghe thông báo, chừng 160 nhà văn trẻ từ khắp mọi miền đất nước sẽ về dự “Hội nghị những người viết văn trẻ lần VI” tại Hà Nội vào cuối tháng 8. Tất cả đều chưa quá 35 tuổi. Nếu kể từ hội nghị viết văn trẻ lần thứ nhất, năm 1971 cho đến nay là vừa tròn ba mươi năm. Ngày ấy, có những nhà văn trẻ hôm nay chưa ra đời, và nếu có người nào “già” nhất thì lúc bấy giờ cũng mới lên năm tuổi! Thật cảm động với biết bao trìu mến, tin tưởng trước những nối tiếp trẻ trung này.

Ngày ấy, nếu không cách trở chiến trường mà về họp đủ, chúng tôi có chừng trên dưới 80 nhà văn trẻ. Tôi nhớ mãi cái buổi sớm trước giờ khai mạc hội nghị, suốt từ cổng lớn qua cầu thang tới phòng họp của ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, chỗ nào tôi cũng được gặp gỡ, nắm tay với những tên tuổi mà từ nhỏ cho đến khi cầm bút viết văn, tôi chỉ được gặp trên những trang sách, báo. Kia là Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Yến Lan, Quang Dũng… Họ chính là những con người đã viết nên những trang văn vô cùng yêu mến đang đi lại, nói cười trước mặt mình kia, thật ư? Phòng họp tràn ngập màu xanh áo lính! “Quê nội ơi mấy năm trời xa cách”, Lê Anh Xuân đã trở về quê nội của anh và cũng như Nguyễn Mỹ, các anh không bao giờ còn đến được với chúng tôi nữa. Nguyễn Khoa Điềm sau những “Đất nước” và “Mặt đường khát vọng”, anh đang ở đâu? Thu Bồn thì sắp ra. Còn Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn, Chim Trắng, Diệp Minh Tuyền, Thanh Thảo, Lê Chí, Dương Hương Ly, Nguyễn Khắc Phục, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao… các anh đang ở mặt trận nào?

“Sông Hồng ơi, giông bão chẳng thay mầu

Rùa thần thoại vẫn nhô lên đội Tháp

Chùa Một Cột đổ trên đầu giặc Pháp

Lại nở xòe trọn vẹn đóa hoa sen”

(Bằng Việt)

“Ngủ giường mới chỉ giường thôi

Ngủ đất mới thật là nôi của rừng”

(Phạm Tiến Duật)

“Từ mảnh sân nhà vào ra những tháng năm gần mẹ

Những vui buồn đọng lại hóa yêu thương

Mỗi bình minh sang chợt thấy tim mình mới mẻ

Khi nhìn vệt xe đi tận xa xôi còn để lại lòng đường”

(Thi Hoàng)

Ngày ấy, dù ở đâu, làm gì, trong lòng mỗi chúng tôi đều khắc khoải bồn chồn về những chuyến đi xa, đến một chân trời nào đó trong cuộc chiến tranh chống giặc, giữ nước. Đấy cũng chính là chủ đề lớn nhất tràn ngập trong mọi cảm xúc của thế hệ chúng tôi-thế hệ giải phóng quân tiếp theo thế hệ Vệ quốc quân của vài mươi năm về trước, với rất nhiều những món nợ thiêng liêng về Tổ quốc, về Nhà nước Dân chủ cộng hòa trẻ tuổi…

Tháng tám năm 1985, Hội nghị viết văn trẻ lần thứ hai cũng là một cuộc hội ngộ lớn của hơn một trăm nhà văn trẻ trưởng thành từ những năm cuối cùng của kháng chiến và những nhà văn mà trước năm 1975 họ mới chỉ trên dưới 10 tuổi. Vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, những nhà thơ này, về cơ bản, mạch cảm xúc chủ yếu của họ vẫn là mạch anh hùng ca. Những tập thơ, chùm thơ được bạn đọc chú ý và chiếm giải thưởng cao trong các cuộc thi thơ quốc gia thời gian này vẫn là những bài thơ về cảm xúc chiến tranh. Chùm thơ viết về biên giới phía Bắc của Nguyễn Đình Chiến, viết về Trường Sa của Trần Đăng Khoa, những chùm thơ đặc sắc của Trần Mạnh Hảo, Văn Lê, Nguyễn Trọng Tạo, Phùng Khắc Bắc, Lê Văn Ngăn, Y Phương, Lê Thị Mây, Đỗ Trung Lai, Nguyễn Trọng Tín, Ngô Minh, Nguyễn Thụy Kha… cũng đều bắt nguồn từ những chất liệu và mạch cảm xúc đó.

 

Thời gian trước cuộc đổi mới đất nước này, đã bắt đầu có những trang thơ mang những khắc khoải, trăn trở, những nỗi niềm công dân về đời sống đất nước với ngổn ngang những khó khăn hậu chiến, về những định hướng của tương lai; nhưng ở lứa nhà thơ trẻ trưởng thành sau năm 1975 này chưa thật đậm nét so với những trang thơ cũng bắt nguồn từ những vấn đề đó trong đời sống của những nhà thơ trẻ lứa trước đó một chút như những trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Quần Phương, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Vũ Duy Thông, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Trần Nhuận Minh, Vương Trọng, Anh Ngọc, Trúc Thông, Thạch Quỳ, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ. Các anh chị đã bắt đầu đặt ra những vấn đề về tiềm năng đất nước, những khát vọng công bằng xã hội ngày một sâu sắc hơn. Và rõ ràng sứ mệnh, nhiệt tình công dân trong xây dựng hòa bình lại càng không thể giảm sút so với những năm tháng chiến tranh. Một lần nữa, các nhà thơ trẻ thuộc thế hệ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lại chứng tỏ bản lĩnh của mình trên những xúc cảm đầy trách nhiệm của những tấm lòng yêu đời và lo đời trên những trang thơ trữ tình công dân của họ.

Cũng ở giai đoạn này, các nhà thơ trẻ thuộc các thế hệ nối tiếp nhau (1964-1990) đã không ngừng mở rộng cảm xúc của mình trên những vấn đề “tinh tế cỏ hoa” (chữ của Chế Lan Viên) của đời sống mà lâu nay do sự thu hút của mạch thơ đánh giặc, giữ nước học chưa kịp quan tâm. Đã xuất hiện những trang thơ tình yêu, những trang thơ tâm tư khá đặc sắc mà chất liệu lấy từ cuộc sống thường nhật trong gia đình, bạn bè, làng xóm, phố phường…

Những khám phá, tìm tòi những hình thức mới sao cho đa dạng, phong phú tương ứng việc mở rộng đề tài cảm xúc đã đem đến cho thơ giai đoạn này nhiều giọng điệu, cung bậc mới rất đáng quan tâm, khích lệ, nhưng đồng thời nó cũng đặt ra một cách cấp thiết mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, truyền thống và cách tân, mới lạ và kỳ quái, dân tộc và nhân loại… rất cần được trao đổi, thậm chí tranh luận thật dân chủ và cũng thật rõ ràng, bởi lẽ nó liên quan rất lớn tới sự vận động, phát triển của thơ nói riêng và văn học nói chung trước thế kỷ mới, thế kỷ 21 đang gần kề.

 

Bây giờ, thế kỷ 21 không gần kề nữa, nó đã xuất hiện thật sự, không phải chỉ trong ý niệm về thời gian. Vừa mới ngày nào là hội nghị viết văn trẻ lần thứ III (1990), vậy mà đã qua rất nhanh những cuộc gặp gỡ tiếp theo của lần IV (1994), lần V (1998). Vừa mới ngày nào, sự xuất hiện khá đặc sắc với những Đỗ Minh Tuấn, Hoàng Trần Cương, Trương Nam Hương, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Hoàng Sơn, Dương Kỳ Anh, Bùi Chí Vinh, Thảo Phương, Trần Quang Quý, Trần Quốc Thực, Đỗ Trung Quân, Lê Minh Quốc, Đoàn Thị Lam Luyến… thì nay lại đã xuất hiện những giọng điệu trẻ trung, mới mẻ của Trần Anh Thái, Đặng Vương Hưng, Mai Văn Phấn, Ngân Hoa, Nguyễn Quyến, Hồng Thanh Quang, Đỗ Trọng Khơi, Hữu Việt, Phan Hoàng… Và đặc biệt là Mai Linh, với trang thơ tám bài trên báo Người Hà Nội và một vài chùm thơ lẻ trên Văn nghệ gần đây, anh đã xác định một cốt cách thơ rất đáng tìm đọc.

Tuyển tập thơ trẻ 1994-1998 vừa giới thiệu 101 nhà thơ trẻ, thì bây giờ, Tuyển tập thơ trẻ 1998-2001, nghĩa là chỉ hơn ba năm sau, lại xuất hiện nhiều gương mặt mới. Vậy là chỉ trong vòng tám năm, chúng ta đã được đọc tới gần 200 nhà thơ trẻ. Đây quả là một lực lượng lớn, với nhiều những giọng điệu thơ không ít tài hoa. Có những câu thơ rất “xưa”, thậm chí còn cũ cũ, nhưng mà thật đáng yêu vì cái hồn xưa vẫn thực còn đâu đó. Nó không hề giả cổ! Lại có những câu, chợt đọc thì khó chịu, nhưng ngẫm ra lại thấy những ý vị nào đó.

Cố nhiên, tôi vẫn cứ ao ước những câu thơ, bài thơ mang nhiều tâm tư sâu nặng, những vui buồn lớn hơn, với cả những cảm nhận thế sự nữa. Hình như ở những nhà thơ trẻ này, phần nhiều mới chỉ toát lên cái mỏng mảnh của tinh tế, tài hoa. Còn ít những câu thơ nói theo tiêu chí Nguyễn Du: “Dột lòng mình mới nao nao lòng người”. Và đặc biệt tôi thèm cái nồng nhiệt, say đắm của tình thơ đến rạo rực lòng người của sức trẻ.

Hà Nội, 8-2001

Trần Ninh Hồ

(Nhân Dân số ra ngày 25-8-2001)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác