Với nhà thơ Nguyễn Bá Chung trên nước Mỹ (*)

Giáo sư Nguyễn Bá Chung sinh sống và làm việc ở nước Mỹ từ trước khi miền Nam giải phóng. Đã có lần anh nói về những vất vả của mình lúc thực hiện công việc. Bây giờ thì ai cũng đã hiểu, anh là nhà thơ Nguyễn Bá Chung, sứ giả văn học lưỡng quốc Mỹ - Việt... Anh đã có một số tập thơ in ở Việt Nam, tập thơ Nguồn mới nhất gần đây in ở NXB Hội Nhà văn.

Trung tâm William Joiner được mang tên cựu chiến binh Mỹ người da đen từng phục vụ ở Okinawa- Nhật Bản, William Joiner. Sau khi giải ngũ ông về làm Trưởng phòng Cựu binh Vụ ở Đại học Massachusetts Boston. Ông hết sức tận tâm lo cho các sinh viên cựu binh, phần lớn họ đều gặp khó khăn, vừa về những lớp học chuyên môn, vừa về nhu cầu phải thích ứng với đời sống dân sự. Ông đột ngột mất năm 1981 vì ung thư gan, một thứ bệnh chứng được coi là có liên quan đến khả năng nhiễm chất độc da cam trong thời gian phục vụ tại ngũ. Sau những cuộc biểu tình tranh đấu của sinh viên đòi Đại học phải có trách nhiệm xứng đáng với những người thuộc tầng lớp lao động từng vào sinh ra tử - chẳng hạn như mở một số giáo trình liên hệ tới chiến tranh Việt Nam, cung cấp các lớp luyện thêm cho các cựu binh cần bổ túc v.v... nhà trường nhượng bộ và đồng ý thành lập một trung tâm phục vụ cựu binh, đồng thời để “Nghiên cứu Chiến tranh và Hậu quả của Chiến tranh.” Wiliam Joiner đã được tất cả chọn làm tên của Trung tâm này.

Đại đa số các sử gia Mỹ về chiến tranh Việt Nam đã đi tới kết luận là chính phủ Mỹ không nên tham dự vào cuộc chiến tranh này. Những lớp học về chiến tranh Việt Nam do Trung tâm mở tại Đại học Massachusetts Boston giúp sinh viên hiểu được giai đoạn lịch sử đó của nước Mỹ. Riêng với các cựu binh, lần đầu tiên họ có thể nhìn lại thời gian tham chiến của họ một cách khách quan hơn, nhất là lý giải được vô vàn những mâu thuẫn, ẩn ức mà trước kia họ không hiểu tại sao. Ngoài ra, mục đích của Trung tâm là khuyến khích nghiên cứu, chương trình phát triển, các sự kiện công cộng và giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân đạo mà thúc đẩy sự hiểu biết lớn hơn và có nghĩa là sáng tạo giải quyết các hậu quả của chiến tranh, bắt đầu là chiến tranh Việt Nam (1954-1975).

Trung tâm William Joiner khi mới thành lập do Giáo sư Paul Atwood làm giám đốc, sau đó do Giáo sư Kevin Bowen và David Hunt đồng giám đốc, và kể từ đầu thập niên 1990, do Giáo sư Kevin Bowen phụ trách. Ông vốn là cựu binh tham chiến ở chiến trường Nam Việt Nam năm 1967, am hiểu về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Ông đã xuất bản 4 tập thơ, với tập thơ đầu tay Chơi bóng rổ với Việt Cộng (Play Basketballl with the Viet Cong) viết về những suy nghĩ, cảm nhận của ông về dân tộc, đất nước, và con người Việt Nam. Điểm qua một số bài thơ của ông, chỉ cần nghe cái tựa đề, người đọc cũng có thể cảm nhận được vị trí của cái hồn quê hương Việt Nam trong tâm tưởng của nhà thơ đó - Nhất Dạ Trạch (One Night Swamp), Làm tại Hà Nội (Made in Hà Nội), Qua phà bắc Hải Phòng (Ferry Crossing North of Hai Phong), Đền Quản Lợi (Temple at Quan Loi), Núi Bà Đen (Black Virgin Mountain), Ở làng Yên Sở (In the Village of Yên Sở), Những bức ảnh Quảng Nam (Pictures from Quang Nam), Văn Miếu (The Temple of Literature), Những người bắt ốc của Thành Cổ Loa (The Snail Gatherers of Cổ Loa Thành) v.v... Hỏi có bao nhà thơ ngoại quốc làm nhiều những bài thơ như thế về một xứ sở cách họ nửa vòng trái đất?

Đó cũng không phải một điều lạ vì nhờ Việt Nam, hay nói đúng hơn, nhờ Hà Nội, mà ông đã tìm lại được hồn thơ của mình. Trước khi nhập ngũ, Kevin Bowen là một nhà thơ, nhưng trải qua cuộc chiến dọc các vùng đồi núi Tây Ninh, Quảng Trị, Đường số 9, khi trở về ông không thể làm thơ được nữa. Những tàn bạo, phi lý và phẫn nộ của những ngày tháng đó đã giết chết sợi mầm thi ca trong ông, làm khô héo những xúc động tinh tế sâu thẳm nhất trong ông. Năm 1987 Kevin Bowen có dịp trở lại Việt Nam lần đầu tiên. Ngồi trong căn phòng của một khách sạn đơn sơ ở Hà Nội, với tất cả những hiện thực của một Việt Nam đầy gian khổ nhưng cũng đầy sức sống quanh ông, ông cầm bút và viết bài thơ sau chiến tranh đầu tiên của mình. Một khắc khoải sâu lắng nào đó, một đau thương thầm lặng da diết nào đó bỗng nhiên được gió trời Hà Nội thổi bay. Đó là bài thơ thứ nhất của tập thơ “Chơi bóng rổ với Việt Cộng.”

Một người đồng sự rất quan trọng của ông là nhà thơ Nguyễn Bá Chung. Hai ông đã thực hiện rất nhiều chuyến đi quan trọng sang Việt Nam để tìm hiểu về tình hình chính trị, xã hội và đặc biệt là về̀ văn học.

Trung tâm William Joiner đã hỗ trợ và tạo điều kiện cung cấp kinh phí cho khá nhiều nhà văn sang Mỹ để giao lưu, trao đổi, nghiên cứu, tìm hiểu đất nước Hoa Kỳ. Việc nhà văn Việt Nam cách đây khoảng hai chục năm̀ được đi các nước tư bản như Lê Lựu sang Mỹ hay Ma Văn Kháng sang Nhật là cả một sự kiện làm chấn động đời sống tinh thần của cả đất nước. Nhà văn Ma Văn Kháng lần đầu được đi sang Nhật trở về, gặp tôi câu chuyện đầu tiên ông kể̀ là ở Nhật người ta gom rác rất cẩn thận, họ bỏ vào túi ni lông, buộc miệng túi cho kín rồi đem bỏ vào thùng đựng rác ở bên đường, sau đó các xe rác mới đến nhấc đổ lên xe... Như bây giờ thì có người sẽ nói, chuyện đổ rác thì có gì đáng kể, chẳng có gì đáng nói ở đó cả. Thế nhưng ở Việt Nam lúc đó việc đổ rác ra đường là chuyện bình thường, thậm chí có một số đườnǵ phố hơi khuất còn có cả những đống rác cao ngất, công nhân vệ sinh dọn từ năm này sang năm khác nhưng đống rác vẫn cao lù lù ngập đầu người. Đối với nhà văn Ma Văn Kháng, đó là lần đầu tiên khi đất nước mở cửa thì một nhà văn như ông mới được đi sang nước tư bản và mới tận mắt nhận thấy về những sự khác biệt từ những điều nhỏ nhặt.

Sau khoảng gần hai chục năm khi nhà văn Ma Văn Kháng đi Nhật, nay người dân Việt Nam đã không đổ rác như trước, thậm chí người dân Việt Nam còn đi tuần hành vì môi trường, tổ chức những ngày vì môi trường... Nhưng lúc đó chính là nhờ các nhà văn đi ra nước tư bản trở về, qua các bài trả lời phỏng vấn và các bài viết của họ người dân Việt Nam mới hiểu dần về các nước tư bản, học cách làm ăn của tư bản. Còn người dân và các nhà lãnh đạo sau khi đọc các bài viết đó đã thay đổi cách tư duy, một số nước vốn là kẻ thù của Việt Nam nay được chuyển sang thành bè bạn, từ đối thủ sang đối tác... những mối thù đế quốc khồng đội trời chung của biết bao thế hệ cha ông nay đã bị dẹp bỏ.

Nhà văn Lê Lựu với cuốn Một thời lầm lỗi đã giúp hiểu hơn về nước Mỹ và cuộc chiến tranh Mỹ - Việt. Có thể nói các nhà văn Việt Nam là những người đi đầu trong việc thực hiện bình thường quan hệ Việt - Mỹ. Trước đây hai chính phủ cố chấp nhau, không thể ngồi cùng nhau, còn nhân dân thì luôn cho cái gì của đế quốc tư bản cũng đều xấu xa. Giờ đây khi đọc sách các nhà văn viết, nghe các nhà văn nói thì họ đã có suy nghĩ khác. Trung tâm William Joiner đã có công rất lớn trong việc này. Trung tâm đã mời các nhà văn Việt Nam sang Mỹ nhằm mục đích để cụ thể hóa việc thực hiện quan hệ bình thường Việt - Mỹ.

Giáo sư Nguyễn Bá Chung sinh sống và làm việc ở nước Mỹ từ trước khi miền Nam giải phóng. Đã có lần anh tự nói về những vất vả của mình lúc thực hiện công việc. Bây giờ thì ai cũng đã hiểu, anh là nhà thơ Nguyễn Bá Chung, sứ giả văn học lưỡng quốc Mỹ - Việt... Cho đến bây giờ nếu còn ai không chịu hiểu thì anh em văn nghệ đã hiểu. Anh đã có một số tập thơ in ở Việt Nam, tập thơ Nguồn mới nhất gần đây in ở nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Trong những năm qua hai ông Kenvin Bowen và Nguyễn Bá Chung đã thực hiện rất thành công ý tưởng đưa nước Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau thông qua việc giao lưu văn học. Điều mà trước đây nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) đã viết trong tác phẩm của mình là sau này xã hội loài người sẽ đi đến ngoại giao cần vợt, thì bây giờ ngoại giao văn hóa chính là con đường gần và nhanh nhất.

*

Tôi có những kỉ niệm rất đáng nhớ với Trung tâm William Joiner và anh Nguyễn Bá Chung. Tháng 10 năm 2006 tôi đến Trường Đại học Massachusetts Boston thuyết trình công trình nghiên cứu Văn hóa Tày trong tiến trình hội nhập với chương trình Quỹ học giả Rockefeller theo lời mời của William Joiner. Được mấy ngày nghỉ, anh Nguyễn Bá Chung đưa tôi đi chơi New York bằng xe ô tô gia đình do anh tự lái. Đối với người Mỹ mỗi khi đi đâu bao giờ họ cũng thường mang theo bản đồ để khi đến những nơi đường ngang lối dọc thì cứ nhìn bản đồ mà đi. Thành phố của họ rất rộng, người dân ở ngay trong thành phố của mình cũng không thể thuộc hết đường. Bản đồ sử dụng miễn phí có sẵn ở mọi nơi, trong ga xe điện ngầm, bên cửa ra vào của quán ăn, quán cà phê, cạnh các cây bán báo tự động... Anh Nguyễn Bá Chung khi ngồi lên xe, trước lúc nổ máy cẩn thận kiểm tra lại xem mình có mang đầy đủ bản đồ đi theo không. Bởi đến New York là thành phố lớn rất dễ bị lạc đường và trên con đại lộ đi đến đó cũng có lắm cửa vào cửa ra rất dễ nhầm đường, chỉ cần sơ sẩy một chút, nhầm một chút là nhỡ hàng chục dặm, ra nhầm cửa phải đi vòng cả trăm cây số là chuyện bình thường.

Trên hành trình từ Boston đến New York anh có vẻ rất nhớ đường, xe cứ thế bon bon, thỉnh thoảng đến chỗ rẽ anh mới phải xem bản đồ một chút. Có thể anh vẫn nhớ đường nhưng anh bảo cứ xem cho chắc chắn! Vừa đi vừa chuyện trò, đi từ sáng đến chiều thì đến New York, còn có đủ thời gian để̉ đi loanh quanh ngắm thành phố này, nơi có tượng Nữ Thần Tự Do nổi tiếng và công viên Central Park trải rộng trên khoảng 341 hecta. Mặc dù những nơi này tôi đã đến trong chuyến đi lần trước nhưng được đi cùng anh trong những lúc thảnh thơi như thế này vẫn rất là thú vị. Ngồi cùng anh ở công viên nghe anh kể biết bao nhiêu là chuyện, nhưng chuyện làm tôi nhớ nhất là khi anh nói về lịch sử thành phố New York. Tổng điều hành thuộc địa Hà Lan khi ấy là Peter Minuit đã mua lại đảo Manhattan từ người Lenape vào năm 1626 với giá 60 guilder Hà Lan - tương đương khoảng 1.000 đô la Mỹ vào năm 2006. Nhưng có người lại nói rằng Manhattan được mua với giá chỉ bằng chuỗi hạt thủy tinh 24 đô la. Năm 1664, người Anh chiếm được thành phố và đặt tên nó thành "New York" theo tên Công tước York và Albany của Anh. Còn bây giờ New York là thành phố lớn của thế giới có trụ sở Liên hợp quốc và là trung tâm kinh tế của thế giới...

Buổi tối ở New York, chúng tôi đến nhà Tiến sĩ Vũ Quang Việt, anh là một người Mỹ gốc Việt làm việc ở Trụ sở Liên hợp quốc, anh phụ trách khối các nước đang phát triển. Hai đêm ngủ ở nhà anh, nghe anh nói chuyện nhiều về công việc. Qua tâm sự tôi biết anh là một trí thức tâm huyết với đất nước, chỉ mong sao cho nước mình giàu mạnh lên để sánh ngang với các nước khác trên thế giới...

Sáng hôm dậy tạm biệt gia đình anh Vũ Quang Việt ra xe thì thấy chiếc xe bị dán một tờ hóa đơn cảnh báo đã đỗ sai quy định, vì đêm hôm trước trời tối và hơi mưa nên không nhìn thấy tấm biển cấm đỗ xe treo hơi xa chỗ đó, anh Nguyễn Bá Chung phải nộp phạt 200 đô la. Ở New York hay ở đâu trên nước Mỹ cũng đều có những quy định rất ngặt nghèo về nơi đỗ xe. Rất nhiều nơi chỉ cho đỗ xe theo giờ. Mức phạt vi phạm thường rất cao. Đi giữa thành phố New York nếu có lỡ bấm còi làm mất trật tự cũng sẽ bị xử phạt 400 đô la, phải thực hiện đúng quy định không được bấm còi trong thành phố.

Lần đi New York cùng anh Nguyễn Bá chung ấy thật đáng nhớ. Khi xe đã rời thành phố New York trên đường trở về thành phố Boston, chúng tôi đã đi nhầ̀m đường một cách tai hại. Các con đường đại lộ nối nhau đều có bảng to viết bằng các con số, để chỉ những chỗ rẽ khi cần chuyển đường. Trong chuyến đó không hiểu do nhớ nhầm số đường hay vì lý do gì đó, đi từ hai giờ chiều mà phải bốn giờ sáng hôm sau mới đến Boston. Tôi chỉ biết là đã đi nhầm một quãng đường rất xa nhưng chẳng biết bao nhiêu cây số. Tôi hỏi anh Nguyễn Bá Chung thì anh nói là ngồi trên xe, anh em nói chuyện rôm rả, nhất là trời đã nhá nhem tối, nên đi qua chỗ rẽ mà không để ý. Khi đã đi nhầm rồi, trời lại tối mịt, vẫn cứ tưởng là chỗ rẽ vẫn còn nằm ở phía trước, nên cứ phóng xe đi. Đến khi mãi vẫn không thấy chỗ rẽ, thì biết là mình đã đi qua nó rồi, nếu quay lại thì quá xa. Chỉ có đi thẳng một mạch mà tìm chỗ có cổng ra để tìm một đường khác rẽ về Boston mới mong trở lại đường cũ. Vì vậy tôi và anh cứ ngồi vậy trên xe cùng đi mãi, đi từ chiều đến tận tối. Đến tối cũng chưa ra được đường cũ. Phải đi đến tận khuya, mới vào lại quỹ đạo con đường của mình đi. Hai lần phải dừng xe trên đường vì xe hết xăng, một lần vừa ra khỏi New York, và lần thứ hai vì đi thêm đường quá xa. Đêm đã khuya, phần lớn các trạm xăng đã đóng cửa, phải gọi trạm xăng cho người mang xăng đến đổ cho đầy bình, mà đường thì vẫn cứ hun hút trong đêm. Đi mãi rồi đến tờ mờ sáng cũng đến thành phố Boston, ai cũng thấm mệt nhưng vẫn thấy vui. Anh Nguyễn Bá Chung đánh xe thẳng vào quán để ăn sáng và mặc dù đã thức suốt đêm nhưng chúng tôi vẫn tỉnh táo. Đúng là cuộc hành trình có một không hai.

Đối với anh Nguyễn Bá Chung và Trung tâm William Joiner, có thể mỗi người cũng có kỷ niệm riêng. Với tôi, nhờ Trung tâm mà tôi đã có thêm rất nhiều người bạn ở nước Mỹ. Trung tâm còn tổ chức dịch và giới thiệu văn học Việt Nam hiện đại cho độc giả nước Mỹ. Phải nói cho công bằng Trung tâm William Joiner chính là chiếc cầu văn hóa và hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Hiện Trung tâm William Joiner đang ngày càng phát triển, trung tâm có thêm nhiệm vụ nữa là đối phó với các cuộc chiến tranh và xung đột của thế kỷ 21. Trung tâm Joiner đã bắt đầu sáng kiến mới là tập trung vào các hậu quả của chiến tranh toàn cầu chống khủng bố, đặc biệt là thể hiện trong những cuộc xung đột ở Iraq, Afghanistan và chắc chắn các khu vực khác... Nhưng Trung tâm William Joiner sẽ luôn luôn có vị trí trong lòng các nhà văn Việt Nam.

Trong bài viết kỷ niệm 25 năm thành lập Trung Tâm William Joiner đăng trên tạp chí Sông Huơng số 225-11/2007, anh Nguyễn Bá Chung viết:

Nhìn lại chặng đường 25 năm vừa qua, tôi nghĩ là Trung tâm Joiner đã có một đóng góp rất lớn cho sự hòa giải giữa hai dân tộc Việt Mỹ, nhất là trong suốt những năm cấm vận ngặt nghèo từ 1975 tới 1994. Cái lớn của sự đóng góp đó không phải do tài chánh, do quyền lực, mà là cái lớn ở tấm lòng. Chính vì ở tấm lòng nên mới có thể hòa giải, mới có thể có những tình bạn chân thực giữa những người Việt và người Mỹ. Và từ tấm lòng đó mới có thể đi đến thơ văn.

Với tấm lòng đó làm cơ sở, tôi có thể yên tâm nhìn tới phía trước.”

Có thể nói được tới Trung tâm William Joiner, tiếp xúc với Giáo sư Kevin Bowen và nhà thơ Nguyễn Bá Chung, đó là điều tôi cảm nhận rõ nhất - những tấm lòng chân thực với Việt Nam, những con người mê say làm văn học. Riêng với anh Nguyễn Bá Chung, tấm lòng đó có thể là một phần khởi đầu đi từ gia tài văn hóa Việt Nam, do lịch sử và tiền nhân để lại, mà có lẽ anh ước mơ là người Việt Nam, ở bất cứ nơi đâu, trên bất cứ quê hương nào, sẽ không bao giờ đánh mất - như bài thơ anh viết về Nguyễn Du trong tập thơ Nguồn:

 

Nguyễn Du

 

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

Một câu hỏi lạnh tràn thế kỷ

Khóc người hay khóc thế gian nhơ?

 

“Đường xa ngõ tối đâu ra bạn?”

Ngơ ngáo đình trung trở gót về

Mũ áo xênh xang lòng có lạnh?

Núi Hồng gió ấm những chiều quê?

 

Nỗi nhà nỗi nước bao thương hận

Một chữ tâm mà bao thế gian?

Thiên thu thôi thế là ly biệt

Xa cách muôn trùng sông núi than

 

Người đi muôn thuở trời Nam nhớ

Hồng lĩnh mây xanh mấy độ rồi?

Gió bụi mười năm bao xiết kể

Cõi lòng soi mãi thế nhân ơi!

---------

* - Thơ Nguyễn Du

 Hà Nội, tháng 5-2010

Dương Thuấn

--------------

(*) Tham luận của nhà thơ Dương Thuấn tại Hội nghị quốc tế “Văn học Việt - Mỹ sau chiến tranh”

 

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác