Vĩnh biệt hai nhà thơ lớn

Văn Chinh - Tô Đức Huy

Nhà thơ Vũ Cao đã mất ngày 3/12 và chỉ sau chưa đến một ngày nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh, để lại cho công chúng và nhất là những người yêu thơ niềm tiếc thương vô hạn. Vẫn biết rằng cái chết là không thể tránh khỏi nhưng nỗi đau chồng lên nỗi đau khiến bật lên câu thơ từ vô thức: "Lửa đèn" vẫn sáng "Núi Đôi" và xin coi hai bài viết dưới đây là nén hương tưỏng vọng.

Núi đôi còn Vũ Cao còn


Vẫn biết logic là thế, nhưng vẫn giật mình khi nghe tin ông vĩnh biệt thế gian sau khi đã mang tiếng cười đôn hậu, mang tình người ấm áp đến sống với cuộc đời cũng tương đối dài, những 86 năm.

Vĩnh biệt hai nhà thơ lớn - ảnh 1
Nhà văn Vũ Cao
Vũ Cao tên thật là Vũ Hữu Chỉnh, sinh năm 1922 trong một gia đình nho học ở Nam Định và là anh cả của hai nhà thơ Vũ Tú Nam, Vũ Ngọc Binh. Ông gia nhập quân đội rất sớm, năm 1946 và làm báo Vệ quốc quân, tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay cho đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp thì về Hà Nội tiếp quản và tiếp tục làm báo. Vũ Cao trước khi trở thành bút danh là biệt danh mà đồng nghiệp tặng cho ông vì cỡ người cao quá khổ, cao trên 1,80 m và đi giầy cỡ 43. Một lần tôi nói vui: “Chú xỏ nhầm giầy Tây”, ông lập tức tủm tỉm cười: “Mình không xỏ nhầm, mình chủ ý đi đấy chứ!”

Ngay sau cuộc chiến tranh, ông Vũ Hữu Chỉnh về huyện Sóc Sơn để viết bài về thành tích của du kích quân. Ông đã phát hiện câu chuyện tình yêu dang dở bởi cô gái đã anh dũng hy sinh trong một trận diệt đồn giặc, còn chàng trai từ tiền tuyến trở về đã ngơ ngác núi vẫn đôi mà anh mất em, chứ không phải nằm trong dạng phổ biến là người con trai đi chết trận để goá phụ tại quê nhà. Và Núi Đôi, tên một ngọn núi ở Sóc Sơn đã từ vô danh đi vào thơ ca để rồi ngay lập tức người ta biết là nó sẽ bất tử:

Bẩy năm về trước em mười bẩy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

(…) Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi

Em vẫn đùa anh sao khéo thế

Núi chồng núi vợ đứng song đôi

Thế của bài thơ đi cứ hồn nhiên, cứ mộc mạc và tươi sáng như hồn quê, như cái lẽ đương nhiên của trai gái yêu nhau có thiên nhiên và làng quê bảo bọc, vun vén. Nhưng quân thù đã không muốn vậy. Quân thù đã mang bom đạn đến, giằng đôi trẻ ra hai phía:

Anh vào bộ đội lên Đông Bắc

Chiến đấu quên mình năm lại năm

Mỗi bận dân công về lại hỏi

Ai người Xuân Dục núi Đôi chăng?

Thế rồi:

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại

Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi

Hành quân qua tắt đường sang huyện

Anh ghé thăm nhà thăm núi Đôi

Nhưng:

Mới đến cầu ao tin sét đánh

Giặc giết em rồi dưới gốc thông

Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa

Em sống trung thành chết thuỷ chung 

Câu chuyện đến đây thì anh con trai có thể đã khóc, nhưng bạn đọc thì chưa. Nước mắt cạn dần trong chiến tranh kéo dài. Chỉ đến khi nỗi đau mất người yêu đã lặn vào trong, chỉ đến khi:

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo

Em còn trẻ lắm nhất làng trong

Mấy năm cô ấy làm du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng

Dân làng không biết, nhưng anh con trai thì biết và chợt thấy trong bí mật này chứa đựng một thiên tình sử lớn lao, nó càng lớn thì khiến cái chỗ trống vắng trong tim anh càng lớn, đến đây thì anh con trai bật khóc. Anh khóc cho nỗi mất mát của mình, anh còn khóc vì lòng chung thuỷ mà giờ đây, một nửa đã chôn chặt dưới ba thước đất, một lại vừa được chôn dưới đáy tim anh.

Bài thơ hay như khoảng ngân vang của tiếng cồng chiêu hồn cho không chỉ một tình yêu cụ thể, mà cho cả những liệt sỹ của cả 9 năm im lặng, cắn răng nén nỗi đau để chiến đấu mất còn với quân giặc. Sức vang vọng của bài thơ là ở đấy, ở tính nhân văn sâu sắc và vững bền.

Sau này là học trò của ông, tôi có nói với thầy rằng, Mấy năm cô ấy làm du kích/ Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng là câu thơ lạ hẳn so với toàn bài, vì sao như vậy? Không ngờ, ông trả lời: “Đấy là câu thơ không ai viết nổi, chỉ có cuộc đời viết hộ cho ai thì người nấy được.” Tôi đã không tin ngay điều đó. Nhưng càng gần Vũ Cao, tôi thấy ông chân thành tin yêu cuộc đời, cư xử với anh em, với cấp dưới đều chứa chan tình người; tôi hiểu câu trả lời khiêm tốn của ông mang mầu sắc tôn giáo nhưng là một triết luận được chưng cất từ chính cuộc đời ông.

Vâng, lịch sử đã chọn Vũ Cao để chuyên chở những giá trị bất tử, ông đã trung thành tuyệt đối với những vang vọng từ cuộc sống oanh liệt dội lại, đã cộng hưởng bằng tất cả tâm hồn mình rồi ngân vang nó qua một thiên tuyệt bút. Và như thế, chừng nào núi Đôi còn thì Vũ Cao còn; sẽ còn mãi trong nhiều thế hệ mai sau…


-------------

Chú Duật

Vĩnh biệt hai nhà thơ lớn - ảnh 2
Nhà thơ Phạm Tiến Duật
Chú Duật mũi khoằm. Ký ức nhỏ vụn vặt của tôi từ những ngày chân trần đá bóng ở vỉa hè phố Lý Nam Đế là như thế. Chú cao như bố tôi, cũng kiểu người xương xương như vậy. Phải nói thật là những lần đầu gặp chú, bọn trẻ chúng tôi hơi sợ, lo lắng liếc cái mũi khoằm, ánh mắt hay liếc xéo lên trên khuôn mặt dường như lúc nào cũng hơi cúi xuống.

Đấy là tôi thấy vậy.

Lớn thêm một chút, tôi chỉ biết chú là một người ai cũng biết, trong các cuộc trò chuyện của bố tôi với bạn bè hay nhắc đến “thằng Duật”, bạn bè văn chương hay gọi nhau bằng thằng, nhất là với những người cùng lứa. Tôi được nghe “thằng Duật” nhiều nên tự nhiên thấy gần, quen. Cái tâm lý ấy đến giờ vẫn vậy, và phải nói thật là hồi đó tôi đã thấy chú như một người quen thật rồi, mặc dù chú chẳng bao giờ nói chuyện với chúng tôi, cùng lắm là cái “ừ” mỗi khi nghe chúng tôi chào khi thấy chú ở cổng Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhưng đặc biệt là bao giờ kèm theo cái “ừ” đó cũng là cái nhoẻn miệng rất tươi, rất rộng. Cái miệng rộng, cái mũi khoằm là ấn tượng mạnh nhất của tôi hồi đó.

Tôi lại nhớ đến chú Duật ngày đầu bước vào cổng trường đại học. Chẳng phải được nghe chú giảng bài, bình thơ, mà tôi học cùng lớp với thằng Lâm con chú. Thằng Lâm giống bố in hệt, hay cười và cười tít mắt. Nó chẳng cười to thì cái mắt nó cũng thành đường chỉ như bố. Nhà chú lúc đó ở khu tập thể Trung Tự. Căn hộ nhỏ xíu, mấy người ở chật chội và cơi nới lộn xộn. Trong mắt bọn tôi, căn hộ đó được gọi là nhà “nhà thơ”, bừa bãi, lủng củng. Nhắc lại điều này, tôi phải xin lỗi cô Vân vợ chú, vì không thể sửa được một cảm nhận của quá khứ dù để làm đẹp lòng người đã đi xa.

Đã có vài lần tôi được đi nghe chú bình thơ hay dẫn chương trình cho một chương trình giao lưu gì đó trên truyền hình. Chú là một nhà thơ nổi tiếng, một người nổi tiếng, ấy nhưng tôi lại chẳng ấn tượng nhiều về các buổi giao lưu đó. Phải chăng chú là người nói nhiều, hay nói và dễ làm át đi những chủ thể khác xuất hiện trong chương trình?! Phải chăng lúc đó tôi đã lớn, đã đủ biết chút ít về xã hội quanh mình mà không thấy khoái lắm kiểu dẫn chương trình “ươn ướt” của một “gã đàn ông” nổi tiếng. 

Đó cũng là quãng thời gian tôi được làm việc ở gần chú. Tôi làm ở tạp chí Văn học Nước ngoài, trên tầng bốn tòa nhà mới xây của Hội Nhà văn Việt Nam ở số 9 Nguyễn Đình Chiểu. Chú làm ở Ban Đối ngoại của Hội Nhà văn, trên tầng 3 của tòa nhà cũ. Hai tòa nhà đối diện nhau, tôi ra ban công nhìn sang được phòng chú làm việc và thấy quái lạ cái phòng đó chẳng bao giờ mở cửa sổ dù nếu mở ra thì hứng trọn một không gian xanh mát mắt của Công viên Thống nhất bên kia đường, cứ như phòng bà đẻ. Là phòng làm việc của Ban Đối ngoại nhưng vì có chú Duật (có phải thế không, có lẽ chỉ là cảm tính) nên cũng không thực sự ngăn nắp như nó cần có. Cũng chỉ vài lần tôi vào phòng làm việc của chú, để đưa hộ bài vở, tặng quyển tạp chí là chính. Lần nào chú cũng kéo tôi ngồi vào bộ salông mời uống nước, rất ân cần. Sở dĩ tôi nói ân cần là vì, như tôi cảm nhận, chú rất hay khen bọn trẻ chúng tôi, kể cả khi việc làm không được như ý. Âu đó cũng là cách riêng của chú động viên những người mới tập tễnh vào nghề.

Cũng có vài lần chú rủ tôi uống rượu, rượu đặc biệt, chú bảo thế, tự tay ngâm trong cái bình thủy tinh thổi thủ công dễ chừng đựng được hai chục lít. Màu rượu vàng đen, trong bình lổn nhổn như có cả rễ cây, đầu rắn, hạt nếp và những gì gì nữa nhiều lắm. Mới giữa buổi sáng mà chú bảo tôi phải uống hai chén, rượu uống một chén thôi không kịp thấy độ ngon của nó. Hai chén uống “sếch”, nhè nhẹ ngọt, cay. Năng lực thẩm rượu của tôi cũng chỉ thấy được như vậy.

Chú Duật trông lúc nào cũng tươm tất, tóc chải vuốt keo cẩn thận kéo tuột từ trước ra sau, ốp chặt đầu, bóng mượt. Tôi nhớ nhất là bộ vét trắng nuột , nổi bật trên chiếc Vespa màu mận chín của chú. Chiếc Vespa mới khiếp làm sao. Mỗi lần nổ máy  phải dựng chân chống giữa lên, đứng một bên đạp thật lực, lúc nào ắcquy có điện thì tiếng đềpa xé không khí lên thẳng tầng bốn chỗ tôi ngồi. Mỗi lần như thế, bác Ma Văn Kháng bảo với những người trong phòng: “Lại xe thằng Duật”. Ai cũng bảo mỗi lần đi ra ngoài có việc, “thằng Duật phải đánh vật với cái xe”. Tôi cũng nhìn thấy chú một lần đánh vật như thế, và nghĩ lung tung rằng không biết để có những bài thơ đẹp với nhiều thế hệ của chú, chú “lao động” có mệt như thế không!

Những kỷ niệm thô mộc đó hiện lên mồn một trong tôi sáng 4/12/2007, khi hay tin chú vừa từ giã cõi đời.

(Báo Nông nghiệp)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác