Văn trẻ, đội ngũ và một vài khuynh hướng sáng tác gần đây

Nguyễn Đình Tú

Bất luận những điều được và chưa được, có thể khẳng định một điều rằng văn trẻ đã tạo nên sự đa dạng về nội dung, phong phú về bút pháp, tạo sự chuyển động đáng mừng cho dòng chảy chung của văn chương nước nhà, bước đầu tạo những tiền đề quan trọng cho sự phát triển văn học trong tương lai.

Xin được bắt đầu bài viết này từ những con số kết nạp hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN) trong những năm vừa qua. Năm 2002, số hội viên mới được kết nạp của HNVVN là 38 người, năm 2003 là 43 người, năm 2004 là 40 người, năm 2005 là 45 người, năm 2006 là 24 người. Như vậy trong vòng dăm năm qua chúng ta có thêm khoảng 80 nhà văn, 80 nhà thơ, 20 nhà phê bình và 10 dịch giả, tổng cộng là 190 “nhà” tất cả, gồm đủ 4 chuyên ngành: văn, thơ, lý luận phê bình và dịch thuật.

Nếu chỉ tính các hội viên văn xuôi thôi, thì trung bình mỗi năm Hội nhà văn có thêm 16 hội viên, rõ ràng nhìn vào lực lượng này, chúng ta có thể thấy lớp nhà văn đang sung sức nhất, đang viết nhiều nhất, đặt ra nhiều hy vọng nhất đều thuộc thế hệ 7X. Đây chính là nguồn thứ nhất về đội ngũ sáng tác trẻ hiện nay.

Nguồn thứ hai của đội ngũ văn trẻ, là những tác giả chưa phải hội viên HNV, nhưng đang vào thời kỳ sáng tác sung sức, gặt hái nhiều giải thưởng văn chương, có những tác phẩm được xuất bản đều đặn trong thời gian vừa qua. Lực lượng này cũng chủ yếu thuộc các thệ hệ 7X, 8X. Cộng với nguồn thứ nhất như tôi vừa nói ở trên thì có thể khẳng định, đội ngũ viết văn chủ yếu trên văn đàn nước nhà trong vòng mươi, mười lăm năm tới sẽ là các nhà văn thuộc thế hệ 7X và 8X.

Các nhà văn trẻ mà chúng ta đang nói đến ở đây, theo tôi, có mấy đặc điểm sau:

- Được sinh ra vào những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ tới những năm đầu của công cuộc đổi mới, cơ bản là những công dân thuộc về thời bình chứ không phải thời chiến, dấu ấn chiến tranh đọng lại trong ký ức của những nhà văn này không đáng kể.

- Là những công dân sinh ra và lớn lên giữa hai cơ chế, tiền đổi mới và hậu đổi mới, điều này ít nhiều làm cho các nhà văn trẻ của chúng ta có một đặc tính: giàu ẩn ức với cơ chế cũ và nhiều hoang mang với cơ chế mới.

- Được học hành cơ bản, có nhiều cơ hội tiếp cận với khoa học kỹ thuật, với các nền văn hóa khác nhau trên thế giới (trong đó có văn học), một số ra nước ngoài học tập và sinh sống. Điều này tạo nên một đặc điểm nữa của đội ngũ các nhà văn trẻ nước ta, đó là tri thức nền cao, vững, toàn diện, cơ chế hậu đổi mới tạo cho họ sự giải phóng tư tưởng ở mức độ cao nhất để có thể viết những gì mình muốn.

Từ sự khảo sát về đội ngũ này, chúng ta sẽ tiếp cận đến tác phẩm của họ. Phải nói rằng dăm năm qua, ngoài truyện ngắn như một thể loại truyền thống và phù hợp với sức sáng tạo của các tác giả trẻ, thì đã có sự xuất hiện nở rộ của tiểu thuyết. Một nền văn học lớn phải là nền văn học của tiểu thuyết. Với sự xuất hiện tiểu thuyết của các tác giả trẻ trong thời gian vừa qua đã cho chúng ta thấy những tín hiệu đáng mừng, báo hiệu sự chuyển biến của văn đàn nước nhà. Đọc văn trẻ (dù là truyện ngắn hay tiểu thuyết) có sức hấp dẫn riêng của nó. Trước hết nó đem lại cho chúng ta sự tươi mới. Mà sự tươi mới thì bao giờ cũng quý vì nó là thứ khó tái tạo nhất trên thế gian này. Đọc văn trẻ cũng thấy được văn chương nước nhà đang, đã và sẽ đi về đâu, bởi văn trẻ hội tụ trong nó sự kế thừa, sự tích lũy và sự dấn thân. Đọc văn trẻ cũng thấy được cái tầm vóc văn hóa của một dân tộc sẽ biến thiên ra sao, bởi văn học là cái hàn thử biểu của văn hóa. Đọc văn trẻ là tìm được sự tri âm của những người trẻ tuổi, mà tìm được sự tri âm của những người trẻ tuổi chính là tìm được nguồn sống dồi dào ẩn chứa những năng lực tuyệt vời cho đời sống vật chất và tinh thần vốn lúc nào cũng cằn cỗi và cùn mòn của mỗi chúng ta. Với tâm thức ấy, tôi không chỉ tìm đọc mà còn dành cho văn trẻ một sự quan tâm đặc biệt. Và cũng với góc độ khảo sát của riêng mình, tôi nhận thấy văn trẻ vài năm trở lại đây nổi bật lên ba khuynh hướng sau:

Thứ nhất, khuynh hướng Lạ hóa.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần

Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần. Ảnh: A.V.

Lạ hóa ở đây xin được hiểu là trong tác phẩm có các yếu tố ảo, lạ, phi lý, bạn đọc quen lối cảm thụ thông thường sẽ thấy khó tiếp nhận. Tiên phong cho khuynh hướng này là các nhà văn Nguyễn Danh Lam với tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian, Lê Anh Hoài với tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ, Nguyễn Ngọc Thuần với truyện dài Một thiên nằm mộng, Nguyễn Vĩnh Nguyên với tập truyện ngắn Khu vườn lưu lạc, Đào Bá Đoàn với tập truyện ngắn Rượu của thời chưa sinh, Nguyễn Thế Hoàng Linh với tiểu thuyết Chuyện của thiên tài, Nguyễn Nguyên Phước với tập truyện ngắn Thượng đế và đất sét

Có nhiều cách lý giải cho sự xuất hiện khá tưng bừng những tác phẩm theo khuynh hướng này. Theo tôi thì có hai nguyên nhân cơ bản, thứ nhất là theo tạng văn và thứ hai là do sự ảnh hưởng của văn học nước ngoài cùng các lý thuyết văn chương mới được đưa vào Việt Nam trong những năm vừa qua. Về tạng, bản thân mỗi nhà văn đều có nhu cầu đổi mới đến kiệt cùng những trang viết của chính mình. Trong quá trình tìm tòi, đổi mới ấy, tạng văn của ai hợp với huyền ảo, với kết cấu lạ, với phi lý thì sẽ ra đời những tác phẩm mà tôi tạm xếp vào khuynh hướng thứ nhất này. Còn ai không hợp thì tác phẩm tự nó sẽ mang các yếu tố của khuynh hướng khác, và đương nhiên, không xếp ở đây. Về sự ảnh hưởng, ai cũng biết là những năm qua văn học nước ngoài vào ta vô cùng phong phú và đa dạng. Đi kèm với những lý thuyết sáng tác như hiện thực, phi lý, hiện thực huyền ảo, hậu hiện đại… là những tác phẩm Trăm năm cô đơn của Macket, Cây không gió của Lý Nhuệ, Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Biên niên ký chim vặn dây cót của Murakami, Từ điển Khazar của Milorad Pavic, Tình ơi là tình của Jelinek… Rõ ràng khi tiếp xúc với những tác phẩm kiểu này, các nhà văn đã có sự chuyển động về nhận thức và từ bỏ lối viết truyền thống, chuyển sang lối viết mới mà họ cho là hiệu quả hơn đối với quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình. Nhà văn Nguyễn Danh Lam khi nói về cuốn tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian đã thừa nhận: “Riêng trong tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian, không phải ảnh hưởng, mà tôi dùng lại nguyên cái khuôn, hay có thể nói là lấy hẳn mô-đun của ba tác giả cùng ba tác phẩm F. Kafka với Lâu đài, J.M Coetzee với Cuộc đời và thời đại của Micheal K và đạo diễn điện ảnh Mỹ Oliver Stone với bộ phim U turn, để soi vào bối cảnh mà tôi muốn nói tới... Trong bản thảo viết tay của tiểu thuyết này, tôi đã ghi rất rõ ràng trên trang bìa lót: Của F. Kafka, J.M Coetzee và Oliver Stone. Trong công việc viết lách của mình, tôi thấy tôi không chỉ chịu ảnh hưởng từ văn chương, mà còn từ âm nhạc, điện ảnh, hội họa... cùng nhiều bộ môn khác”.

Thứ hai là khuynh hướng Tính dục.

Xin hiểu tính dục ở đây là các yếu tố sex được sử dụng khá đậm nét trong tác phẩm. Ở khuynh hướng này không thể không nhắc đến các đại diện như Đỗ Hoàng Diệu với tác phẩm Bóng đè, Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận, Dương Bình Nguyên với Giày đỏ, Đặng Thiều Quang với Chờ tuyết rơi, Từ Nữ Triệu Vương, Linh bacardi, Phạm Ngọc Lương với các truyện ngắn trong tập Vũ điệu thân gầy... Đặc biệt tính dục trong tác phẩm của các nhà văn trẻ gần đây còn được mở rộng biên độ với sự xuất hiện yếu tố tình dục đồng tính (cả đồng tính nam và đồng tính nữ) như tiểu thuyết 1981 của Nguyễn Quỳnh Trang, Song Song của Vũ Đình Giang, tập truyện Những đốm lửa trên vịnh Tây Tử của Trang Hạ…

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Ảnh: Anh Vân.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Ảnh: Anh Vân.

Phải nói ngay rằng sex trong văn chương không phải là cái gì quá mới mẻ. Nhưng gần đây sex được khai thác một cách kỹ lưỡng, đầy dụng ý, như là một ẩn ức nghệ thuật của các tác giả trẻ. Không thể phủ nhận được sự tác động của văn học nước ngoài khi vào Việt Nam đã ít nhiều tạo động lực cho những tác phẩm thuộc khuynh hướng này ra đời. Với Hạt cơ bản của Michel Houellebecq, Báu vật của đời của Mạc Ngôn, Thiếu nữ chơi dương cầm của Jelinek, Rừng Na uy của Murakami, các tác phẩm của Vệ Tuệ, Thiết Ngưng, Sơn Táp, Dư Hoa… đã đưa đến cho bạn đọc Việt Nam một biên độ sex mở rộng đến không giới hạn. Điều này khiến cho các nhà văn Việt Nam cũng phải suy nghĩ và vận động theo, kết quả là những tác phẩm có yếu tố tính dục đã ra đời, gây được những hiệu ứng nhất định trong bạn đọc và xã hội. Khuynh hướng này, theo tôi, còn có cơ hội phát triển trong thời gian tới vì văn chương xét cho cùng là phản ánh cái ẩn ức của xã hội. Sex từng là vùng cấm kỵ trong văn chương, vì thế nó luôn tạo sự háo hức cho người đọc và người viết. Chỉ khi nào bạn đọc chán nó thì các tác phẩm viết về nó mới dừng lại. Nhưng đến bao giờ loài người mới thôi háo hức với sex? Đến khi nào tính dục mới thôi là một ẩn ức của một xã hội đang còn ràng buộc bởi những giá trị truyền thống Á Đông như chúng ta?

Mặt khác, xã hội hiện đại cũng đặt ra nhiều ẩn ức mới, trong đó có các khuynh hướng tính dục khác thường. Chưa bao giờ vấn đề người đồng tính được văn chương, báo chí nói đến nhiều như hiện nay. Mười năm trước Bùi Anh Tấn với cuốn tiểu thuyết đầu tay Một thế giới không có đàn bà còn làm cho không ít người ngơ ngác về một thực trạng xã hội lạ lùng, thì hôm nay, con số nghiên cứu của một tổ chức y tế cho biết cả nước có khoảng 80 ngàn người đồng tính, riêng TP HCM đã có khoảng 20 ngàn người thuộc “thế giới thứ ba”. (Một con số khác còn gây kinh ngạc hơn, khẳng định có tới 5% dân số là người đồng tính, như vậy cả nước sẽ có 400 ngàn người thuộc thế giới thứ 3). Rõ ràng, dân số không chỉ thay đổi về lượng mà còn có những thay đổi về “chất”, nếu xét theo quan điểm văn chương là thân phận con người, thì 80 ngàn (hay 400 ngàn?) người bất thường về tâm sinh ký kia đã tạo nên một “thế giới thứ ba” với những bất trắc, bi kịch, day dứt và ám ảnh… đầy hứa hẹn cho các nhà văn khai phá.

Thứ ba là khuynh hướng Bình dân hóa.

Thuộc về khuynh hướng này, xin được hiểu là những tác phẩm đề cao giá trị giải trí. Ở đây lại xin được chia các tác phẩm giải trí thành hai dòng: thứ nhất là dòng Tâm lý tình cảm như tiểu thuyết Phải lấy người như anh của Trần Thu Trang, tập truyện Khi nào anh thuộc về em của Cấn Vân Khánh, tiểu thuyết Gái điếm của Nguyễn Văn Học, tiểu thuyết Chuyện tình New York của Hà Kin…; và thứ hai là dòng truyện vụ án, trinh thám, kinh dị như tiểu thuyết Vũ điệu tử thần của Trần Thanh Hà, các tập truyện ngắn Điệu valse địa ngục, Tầng thứ nhất của DiLi…

Nguyễn Huy Thiệp (trái) và V.S. Naipaul - nhà văn từng đoạt giải Nobel - trưởng ban giám khảo giải Nonino. Ảnh nhà văn cung cấp.

Nguyễn Huy Thiệp (trái) và V.S. Naipaul - nhà văn từng đoạt giải Nobel. Ảnh nhà văn cung cấp.

Khuynh hướng này phản ánh sự nhìn nhận về đề tài trong văn chương đã rộng mở, các nhà văn trẻ đã không ngại ngần chấp nhận song hành cùng với “văn chương hạng hai” theo như quan niệm lâu nay, miễn là thỏa mãn bút lực của mình và đáp ứng được thị hiếu của một bộ phận độc giả nhất định. Xin mở ngoặc thêm rằng, ở khuynh hướng này còn có một nhà văn lớp trước là Nguyễn Huy Thiệp cũng tình nguyện viết "Tiểu thuyết ba xu", trình làng hai cuốn Gạ tình lấy điểmTiểu long nữ bán khá chạy và gây nhiều ngạc nhiên trong dư luận. Các nhà văn trẻ theo khuynh hướng này có ý thức rõ rệt về việc mình làm. Họ hoặc là chối từ lối viết truyền thống như nhà văn Trần Thanh Hà, hoặc là kiên trì với quan niệm sáng tác “vị cái tôi”, “vị độc giả”, “vị thương mại” như Trần Thu Trang, Cấn Vân Khánh, DiLi… mà viết, mà quyết tâm đưa sách “ra quầy”, biến những sáng tác của mình thành những sản phẩm hàng hóa bán càng chạy càng tốt, chấm dứt tình trạng sách viết xong chỉ nhăm nhăm nhận giải rồi lọt thỏm vào trong các thư viện không tăm tích. Trong bài trả lời phỏng vấn của báo Văn Nghệ Trẻ, nhà văn trẻ Cấn Vân Khánh đã thẳng thắn thể hiện quan điểm của mình: “Tôi luôn mang trong mình sự kinh ngạc về một số quan điểm nghệ thuật ở Việt Nam luôn coi những gì giải trí là tầm thường. Đồng ý là không phải sản phẩm nào mang tính thương mại và giải trí cũng tích cực nhưng chúng ta không thể phủ nhận giữa một xã hội hiện đại như xã hội mà chúng ta đang sống, nhu cầu giải trí của con người là rất lớn mà tác phẩm văn học chiếm một phần nào đó. Giải trí đích thực, đối với tôi là việc sáng tạo những tác phẩm văn học khiến người đọc vui vẻ thư giãn đón nhận, hài lòng về nội dung cũng như thẩm mỹ dù chỉ với mức độ vừa đủ mà không phải xét đến một bình diện nghệ thuật cao siêu nào”.

Trên đây tôi đã làm một việc là liệt kê các khuynh hướng sáng tác của văn trẻ trong những năm qua. Bất luận những điều được và chưa được, có thể khẳng định một điều rằng văn trẻ đã tạo nên sự đa dạng về nội dung, phong phú về bút pháp, tạo sự chuyển động đáng mừng cho dòng chảy chung của văn chương nước nhà, bước đầu tạo những tiền đề quan trọng cho sự phát triển văn học trong tương lai.

Tuy nhiên một câu hỏi sẽ được đặt ra là: Vậy ngoài những khuynh hướng trên, văn trẻ còn có những khuynh hướng sáng tác nào nữa? Câu trả lời là, văn trẻ vẫn chảy theo khuynh hướng chủ đạo của nó là hiện thực truyền thống, hoặc, pha trộn tất cả các khuynh hướng trên. Không loại trừ có cả những tác phẩm ở khuynh hướng này hay khuynh hướng kia nhưng lại chứa đựng trong nó “hơn một” khuynh hướng mà nó được sắp xếp. Việc tôi tạm phân chia các sáng tác để xếp thành các khuynh hướng chỉ là một thao tác “có vẻ khoa học” để nhận diện rõ hơn văn trẻ ngày nay ra sao mà thôi. Nó có thể cho chúng ta một cái nhìn tổng thể, đồng thời cũng cho chúng ta những ngách nhỏ để đi vào rừng văn trẻ hiện nay, hòng đến với những khu vực thẩm mỹ khác nhau. Còn nhiều vấn đề khác của văn trẻ nếu có điều kiện tìm hiểu cũng sẽ vô cùng thú vị như thi pháp, nhân vật, đề tài, văn phong, cấu trúc… nhưng đó là nội dung của một bài viết khác.

(Giáo dục và Thời đại số Tết Mậu Tý)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác