Văn nghệ hướng vào cuộc đời lớn, có Đảng lãnh đạo (*)

Tố Hữu



LTS: Nhân kỷ niệm tròn 65 năm ngày Tạp chí Văn nghệ - cơ quan ngôn luận của Hội Văn nghệ Việt Nam - ra số đầu vào tháng 3/1948 tại chiến khu Việt Bắc, báo Điện tử Tổ quốc trân trọng trích đăng đoạn hồi ký dưới đây của nhà thơ Tố Hữu, người Thư ký Tòa soạn đầu tiên của Tạp chí, viết về những ngày hào hứng, năng nổ, dành trọn tài năng và tâm huyết cho sự ra đời của tờ tạp chí văn nghệ cách mạng, đánh dấu sự nhập cuộc của sáng tác văn nghệ vào sự nghiệp lớn lao của dân tộc và đất nước.

 Văn nghệ hướng vào cuộc đời lớn, có Đảng lãnh đạo (*) - ảnh 1
Tạp chí Văn nghệ số đầu (3/1948) và Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (2013)


Thế là chúng tôi tìm đến làng Gia Điền. Tưởng có làng xóm hẳn hoi, hóa ra chỉ có mấy mái nhà tranh vách đất giữa rừng tre nứa rậm rạp. Vào nhà đồng chí Chủ tịch xã hỏi thăm có nhà nào ở được, thì ông bảo ngay:

- Ở đây chật chội lắm, chỉ có nhà một bà cụ đơn côi, có một anh con trai đi bộ đội, đây quen gọi là bà Gái. Các anh vào đấy cũng được.

Chỉ mấy bước chân, chúng tôi đã đến nhà bà Gái. Đó là một nếp nhà tranh vách đất, gồm một gian nhà rộng và một chái bếp, bên sân nhỏ là mấy luống rau dền. Ông chủ tịch xã giới thiệu chúng tôi với bà cụ và nói:

- Đây là các bác ở cơ quan trên xin về ở nhờ, mong bác vui lòng giúp đỡ.

Thấy chúng tôi vào, bà cụ mừng rỡ:

- Nhà tôi trống trải lắm. Có thằng con trai thì đi bộ đội rồi. Có các anh vào thêm cho vui.

Chợt thấy mấy chị phụ nữ, cụ hỏi:

- Thế các chị này cũng ở đây à?

Tôi hiểu ý bà cụ ngần ngại có cả đàn ông đàn bà con gái trong nhà, bèn nói ngay:

- Các chị chỉ ở tạm một hôm thôi rồi về cơ quan của các chị ấy.

Vậy là hôm sau, mang theo giấy giới thiệu của đồng chí Bí thư tỉnh ủy, tôi đưa Thanh và các chị đến một xóm, nơi cơ quan phụ nữ của tỉnh đóng. Tôi nói với Thanh:

- Bây giờ tạm ở nhà riêng, nhưng cũng không xa, chúng mình có thể dễ lui tới thăm nhau.

Tôi trở lại nhà bà Gái ở Gia Điền, cùng anh em bàn nhau xây dựng cơ quan. Trong bọn chúng tôi, anh Tưởng lớn tuổi hơn cả, là người từng trải ở thành phố, bèn gợi ý mời “bác Tưởng” cho ý kiến nên sắp xếp thế nào cho có “bề thế”. Anh Tưởng vốn là người học nhiều biết rộng, nhưng cứ làm bộ quê mùa, rù rì nói:

- Thưa với các bác, em thì vụng về lắm, lại đang nhớ vợ ở Hà Nội đây. Thôi, ông Lành nói đi.

- Đành vậy thôi. - Tôi nói. - Bây giờ việc ăn ở chẳng có gì bàn. Tiền Trung ương chỉ mỗi đứa một tháng dăm đồng cũng đủ ăn. Mặc thì cứ thế này là sang lắm rồi. Nhà có phản gỗ đủ cho vài ba vị nằm và có mấy chõng tre. Bà cụ đã có buồng riêng ở dưới bếp. Nghe nói bác Nguyên Hồng thạo món cơm rượu lắm, tùy bác lo liệu nhé. Nếu cần thì có bác Kim Lân giúp. Người Đình Bảng cái gì cũng làm được.

Mọi người đều phì cười. Không ai có ý kiến gì. Thế là xong một việc.

- Bây giờ việc thứ hai - Tôi nói tiếp, - Công việc Trung ương giao cho văn hóa văn nghệ. Làm gì bây giờ? Tôi đề nghị: bộ đội thì đánh giặc, dân thì sản xuất nuôi quân, còn mình làm văn nghệ thì viết văn, ca hát vẽ tranh cho bộ đội và dân vui. Nhưng nói mồm thì cả ăn thua gì. Ta cố gắng ra một tờ tạp chí cho hay. Cố gắng mỗi tháng ra một số là tốt rồi. Việc này anh Thi đã quen làm, xin anh phụ trách cho, còn tôi thì xin làm chức hành chính: thưa trinh với các vị lãnh đạo ở Trung ương và địa phương, bảo đảm hậu cần, dưa cà mắm muối...

Nguyên Hồng hét lên:

- Còn làm thơ nữa chứ!

Tôi cười:

- Thôi, bây giờ thơ thẩn gì, ta làm hai việc đấy đã.

Sực nhớ ra đất Phú Thọ có mấy nhóm văn nghệ sỹ đã lên trước, tôi về Tỉnh ủy hỏi, thì được biết: Có vợ chồng anh Văn Cao ở Phố Ẻn bên sông Thao. Ở Hạ Hòa, Ao Châu có mấy anh chị sân khấu: Thế Lữ, Song Kim, Thanh Tịnh, Phạm Văn Khoa, Đoàn Phú Tứ. Còn ở Xuân Áng bên kia sông có các anh họa sĩ Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Tạ Mỹ Duật. Thế là trên đất Phú Thọ cũng đủ các nhà văn, họa, nhạc, kịch. Các anh Nam Cao, Tô Hoài đang làm báo Cứu quốc ở Bắc Cạn. Cụ Nguyễn Công Hoan thì đang phụ trách trường văn hóa của quân đội. Nhạc sỹ Lưu Hữu Phước đang dắt một đội thiếu niên ca múa lưu động ở mấy tỉnh Trung du... Trong các nhà thơ, đặc biệt có anh Thanh Tịnh có tài “độc tấu”. Trận thắng lợi nào cũng có một tiết mục của anh kể lại bằng giọng Huế rất vui, ai nghe cũng cười hể hả.

Riêng ở khu 4, cụ Đặng Thai Mai đã tập hợp được nhiều văn nghệ sĩ có tên tuổi: Nguyễn Tuân, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Sanh và cả Hải Triều, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên vừa từ Bình Trị Thiên ra. Anh Hải Triều phụ trách tuyên truyền của Khu 4. Điểm danh lại thì hầu hết văn nghệ sĩ có tên tuổi thời đó đều đi kháng chiến, song ở rải rác chưa có cơ hội tập trung về một chỗ và thống nhất hành động để làm việc.

Lúc này chiến dịch Việt Bắc đang có tiếng vang lớn trong nhân dân. Anh em văn nghệ sĩ đều rất mừng và thêm tin tưởng ở kháng chiến. Ai cũng tấm tắc: “Cụ Hồ và bộ đội mình giỏi thật, mới đánh nhau một trận ở rừng núi mà bọn Pháp đã thất điên bát đảo”. Anh em đều nao nức và cảm thấy đã đến lúc có thể sáng tác được cái gì đó. Thế là dù cuộc sống rất thiếu thốn vẫn không ngăn nổi cảm hứng sáng tác của anh em. Chúng tôi ngày hai bữa cơm độn sắn, ngô, có thêm món dưa cà, măng chua dấm ớt kho mặn. Dăm bữa có thêm tí thịt muối, gọi là “thịt Việt Minh”. Mỗi khi ra Hanh Cù để gặp tỉnh ủy, tôi đều ghé lại chợ mua ít tép khô, đậu phụ, mắm tôm và dăm cái bánh đa đem về cho anh em “liên hoan”.

Đang ở Hà Nội, bỗng chốc lên vùng trung du, rừng núi Hạ Hòa, ăn uống kham khổ, vậy mà mọi người yêu mến, gắn bó với nhau như anh em một nhà. Và có điều kỳ lạ là, trong văn nghệ sĩ, có một số anh vốn nặng tình với “nàng tiên nâu”, nước da vàng vọt rất tiều tụy, vậy mà đi kháng chiến, vào bộ đội chỉ một thời gian ngắn đã vứt bỏ một cách dễ dàng cái bệnh khốn khổ này, sức khỏe phục hồi nhanh, chính là do tinh thần phấn chấn trong cuộc cách mạng.

Một hôm, anh Thi và tôi ra phố Ẻn tìm anh Văn Cao mời anh về Gia Điền ở với anh em cho vui, nhưng anh nói:

- Thôi cứ để mình ở đây với vợ, thỉnh thoảng vào họp thôi. Sáng tác thì ở đâu chẳng được. Mình đang cao hứng viết một bản nhạc đây.

Thi bèn chộp lấy ngay:

- Bài gì đây?

Văn Cao cười, vừa có vẻ khiêm nhường, vừa tự tin:

- Chưa biết là cái gì, nhưng chiến thắng Sông Lô đẹp thế này thì không thể không viết được.

Quả nhiên mấy tuần sau, anh đem vào Gia Điền một bài hát và cùng với anh Thi hát to bài Trường ca Sông Lô nghe rất hay. Nguyên Hồng bốc lên:

- Người ta có Đanúyp xanh thì mình có Sông Lô, hơn cả xanh nữa chứ. Thế là báo sắp ra có bài nhạc này rồi!

Anh Thi vốn kín đáo, cặm cụi viết bài Nhận đường. Một luận văn rất sắc sảo mà có tính trữ tình rất dễ vào lòng người nghệ sĩ. Chẳng những thế, đêm đêm, đã nghe anh hát thì thầm để hoàn chỉnh bài Người Hà Nội:

Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây

Đây lắng hồn núi sông ngàn năm

Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu...

Bài Người Hà Nội thiết tha nỗi nhớ và rất đỗi hào hùng đang hình thành dần trong anh. Và chỉ mấy tuần sau, một bản nhạc với lời ca rất đẹp được viết xong. Anh Thi cùng mấy anh em trẻ hát lên, vô cùng cảm động.

Một hôm có người bên báo Cứu quốc của Như Phong, sang đưa cho chúng tôi bài Đôi mắt của Nam Cao, một truyện ngắn rất sắc sảo, tả rất thực tâm trạng của một số trí thức đã đi theo kháng chiến, nhưng nhìn đời, nhất là những người nông dân chất phác một cách ngạo mạn, coi thường. Nguyễn Huy Tưởng thì tiếp tục viết Những người ở lại, vở kịch lớn mà anh mơ ước được trình diễn khi trở về Hà Nội. Anh “nhà quê” Kim Lân hóa ra làm một tay ghê gớm. Truyện ngắn Làng của anh thật sâu sắc, sinh động, chỉ có người thật hiểu biết nông thôn mới viết nổi. Ông Nguyên Hồng thì ở trên rừng mà vẫn còn mơ về Hải Phòng, nơi anh đã cho ra đời hai truyện dài đặc sắc Bỉ vỏNhững ngày thơ ấu. Ông đang ấp ủ bộ truyện dài Sóng gầm ngồn ngộn cuộc sống sôi động. Còn tôi thì cũng đã có sẵn mấy bài Cá nước, Bà mẹ Việt Bắc, Phá đường có thể gọi là đóng góp chút gì cho những số báo tới. Anh Tưởng thấy tôi có vẻ rụt rè, bèn nói:

- Thơ ông anh có mấy bài cứ cho ra đi. Đọc bài Cá nước lên trước xem.

Tôi đọc to bài Cá nước, đến đoạn:

Một thoáng lặng nhìn nhau/ Mắt đã tìm hỏi chuyện/ Đôi bộ áo quần nâu/ Đã âm thầm thương mến

Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh Vệ quốc quân ơi/ Sao mà yêu anh thế!

Nguyên Hồng ta khoái chí:

- Hai câu dễ thương quá: “Anh Vệ quốc quân ơi, sao mà yêu anh thế” - Nghe như ai tỏ tình ấy nhỉ.

Tôi lại đọc tiếp, đến đoạn gần cuối bài:

Trưa nay trên đèo cao/ Ta say sưa vài phút/ Chia nhau điếu thuốc lào/ Nào anh hút tôi hút

Bác Kim Lân reo lên:

- Ôi, thật quá! Tình quân dân thế này mới vui chứ!

Anh Tưởng khuyến khích thêm:

- Thế còn bài Bà mẹ Việt Bắc hôm anh nói ở Nhã Nam thì đến đâu rồi? Đọc đi!

Tôi đọc đến đoạn tả người con trai sau khi trở thành anh bộ đội, về nhà thăm mẹ:

Đầu nó đội mũ/ Có cái sao vàng

Trước nó lam lũ,/ Bây giờ thấy sang!

Tôi ôm lấy nó/ Tôi kể trước sau/ Nỗi nhà mất bố/ Nỗi anh chết tù.

Mắt nó đỏ nọc/ Nó cầm tay tôi/ Mé ơi, đừng khóc/ Nước độc lập rồi!

Nghe đến đây, bác Tưởng liền vỗ đùi:

- Hay! Giọng Đỗ Phủ đấy! Thật đơn giản mà cảm động.

Để kết thúc, tôi nó:

- Có mấy bài còn phải dọn dẹp thêm. Trước mắt Cá nước đã, để chào mừng chiến thắng Việt Bắc và ca ngợi tình quân dân.

Anh Tưởng lúc này thực chất là tổng biên tập, nói:

- Đồng ý! Cá nước ra trước. Các bài khác để dành cho những số sau.

Lúc này là cuối 1947, trời lạnh lắm, chỉ có cành tre khô làm củi, phải hốt thêm lá tre về đốt lên sưởi cho ấm. Dù vậy, không khí trong nhà lúc nào cũng vui vẻ, sôi nổi, mọi người đều làm việc hết mình cho số báo đầu tiên.

Điểm lại bài vở, chúng tôi thấy đã khá phong phú, chững chạc, có thể ra mắt được rồi. Chì còn vấn đề in. Có hai anh giúp việc cơ quan: anh Mãi và anh Thuật rất thạo trong việc giao dịch, xoay xở vật liệu: giấy đã có giấy Lửa Việt - một loại giấy làm từ tre nứa còn lẫn cả những cọng rơm rạ, màu ngà ngà. Còn in thì đã có báo Cứu quốc bên cạnh do anh Như Phong phụ trách.

Về tên gọi tạp chí, nhất trí là Văn nghệ. Mọi người đều có ý kiến phải tìm một biểu tượng có ý nghĩa. Ban đầu do Văn Cao vẽ phác họa, rồi đưa sang Xuân Áng để các anh Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn góp ý thêm. Cuối cùng là hình một cửa sổ mở trông ra trời cao với một ngôi sao sáng. Biểu tượng khá đẹp mang ý nghĩa văn nghệ hướng vào cuộc đời lớn, có Đảng lãnh đạo, còn giữ mãi đến bây giờ.

Tạp chí được in ra số đầu vào tháng 3 năm 1948. Đó là thành quả đầu tiên của một nhóm anh em văn nghệ, có thể coi như một trận thắng mở màn đầy triển vọng. Chúng tôi liền đưa đến biếu các anh làm sân khấu ở Ao Châu và mỹ thuật ở Xuân Áng đưa cả vào Thanh Hóa cho nhóm văn nghệ Khu Tư. Các anh nhận được số báo đều rát vui và mừng là văn nghệ mình đã có một tạp chí tốt, có sức hấp dẫn. Có thể nói tạp chí Văn nghệ biến thành ngọn cờ tập hợp được các văn nghệ sĩ vào một mặt trận. Nhận được giấy triệu tập về dự Hội nghị cán bộ Trung ương mở rộng, tôi mang mấy số lên Trung ương để báo cáo với anh Trường Chinh và các anh trong Thường vụ. Anh Trường Chinh cầm tờ tạp chí trong tay, nhìn qua tên các bài và tác giả, tỏ ý vui:

- Các đồng chí cố gắng làm được thế này là tốt. Vừa đoàn kết được anh em, vừa đi đúng hướng. Nhưng đây là bước đầu, cần chú ý thu hút nhiều anh em hơn nữa, và đi sâu hơn nữa vào cuộc chiến đấu đang diễn ra ở các vùng. Nêu cao được lòng yêu nước và khí phách anh hùng của chiến sĩ và đồng bào ta (*).

-------------------------------

(*) Trích Hồi ký của Tố Hữu - Nhớ lại một thời, Nxb. Văn học, H., 2000, tr. 205 - 216.


 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác