Văn chương: nên tuần tự hay nhảy vọt


(Toquoc)- Lạ nỗi, văn chương lại thường mang bản tính khiêm nhường ẩn náu những điều thú vị trong câu chữ tưởng như chẳng có gì lạ lẫm. Cơ chế “tự động hóa” mài mòn những nghi ngờ để rồi tạo ra một tuần tự chơn chu của sự vô cảm với những tận cảm của nghệ sĩ. Nhưng, bất giác đọc lại vài câu thơ trong tiềm thức, chợt thấy… trước tiên là lạ:

Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?

Sống lại cho tôi hỏi một câu:

Bác tạc bấy nhiêu hình khổ hạnh

Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?

(Các vị la hán chùa Tây Phương - Huy Cận)

Vốn dĩ, chỉ bác thợ cả ấy đã là người đứng cao hơn và riêng ra thành một kiến trúc sư. Bấy lâu người thợ ấy đã toan “để sáng tạo ra những khúc thức mới nhảy vọt qua những thao tác, kĩ thuật tuần tự của những người thợ khéo tay.” Bởi thế cái công khai mở từ đêm đen của văn minh những chấm sáng của nghệ thuật hay cái tội gieo sầu lụy cũng từ bác thợ ấy - một hình mẫu của sự sáng tạo.

Đọc sang những chất liệu sáng tạo khác cũng thấy cái “tội giời đầy” đều đổ lên đầu những bậc không chịu mải miết theo vòng quay quen mòn của nhịp sống đều đặn mà bứt phá ra thành những sáng tạo. Nào là: Ới thị Bằng ơi đã hết rồi/ Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi […] Đập cổ kính đi tìm thấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi (Tự Đức). Hay là: Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình/ Chị cũng xinh mà em cũng xinh/ Đôi lứa như in tờ giấy trắng/ Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh (Hồ Xuân Hương); Cùng quê có ai ngồi đó chửa/ Cành đa xin chị nhắc lên chơi. (Tản Đà). Chẳng biết, đó là những phút hứng khởi mà đột phá đầu ngọn bút hay chính thi nhân đã tự vượt qua thoát ra ngoài những khuôn thước để viết những câu thơ làm rạn nứt những quy phạm cứng nhắc của thơ ca đương thời? Chỉ biết rằng người đời ghi nhận những “bước nhảy” của nghệ thuật đó; bỏ qua những trăn trở của lí trí mà lấy cảm tính cấp cho nghệ thuật những tấm vé đến với tương lai.

 

Tuần tự bằng kinh nghiệm quan hệ

Văn chương thường được cảm thụ từ một nền văn hóa. Bước vào những trang văn, bản sắc đó hình thức hóa thành những trào lưu sáng tác đa dạng nhưng đồng nhất ở cách nhìn, cách cảm theo những quan niệm được xác tín với cộng đồng bằng những điển phạm. Bởi thế, bước lên đài cao của văn chương thật vững tin bởi chỉ cần nằm lòng những điển đó như: giếng ngọc, rừng phong, khách má hồng, khách lồng hồng, tường đông… là đã có một chỗ đứng. Tuần tự theo hành trình đó, đến cả Thơ mới - thay đổi triệt để và đột phá- vẫn tuần từ những điệu ngâm từ Tản Đà: Nước non nặng một lời thề/ nước đi đi mãi không về cùng non. Rồi đến đến Huy Cận: Sợi buồn con nhện giăng mau/ Em ơi! Hãy ngủ, anh hầu quạt đây./ Lòng anh mở với quạt này,/ Trăm con chim mộng về bay đầu giường. Tuần tự còn ở sự thoát li như một định mệnh trong thơ, như một luận đề trong văn để rồi chính những nhà văn ưu tú nhất của cuộc cách tân đầu thế kỉ tự bó hẹp mình trong một chiếc vòng kim cô của “thú đau thương”, của việc đời ngổn ngang ngưng kết trong những trang viết của Vũ Trọng Phụng.

Văn học cách mạng vốn dĩ là một sinh thể tất yếu của lịch sử. Các nhà văn đến với một hiện thực mới ngay trên nền chất liệu sống cũ là hiện thực cuộc sống của một đất nước bị đô hộ. Nhưng, một lần nữa, cũng lại vì những tất yếu của lịch sử mà những khúc tráng ca trùng điệp của hình tượng người lính, của bom đạn, sự hi sinh, không khí sử thi lại tạo nên nhịp rung đều đặn, dồn dập như hơi thở của cuộc kháng chiến. Cũng như anh họa sĩ trong một truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu (Bức tranh) hối hả bước vào chiến trường với cành cọ (đã được hóa thân thành cây súng), cũng như bước chân mạnh mẽ của anh bộ đội trong Núi đôi của Vũ Cao; Màu tím hoa sim của Hữu Loan:

Anh đi bộ đội, sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

(Núi đôi)

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

Tím chiều hoang biền biệt.

(Màu tím hoa sim)

Điều đó, nhìn từ góc độ thi ảnh, thi pháp thơ chẳng gợi lên nhiều suy nghĩ của người đọc. Nhưng ở phương diện khác nhìn lại, chợt thấy nó giống nhau đến lạ ở chất hùng, ở bàn tay nắm chặt một thời bởi chủ nghĩa anh hùng. Khuynh hướng sử thi ấy tuy có tuần tự nhưng không nhàm chán bởi hiện thực đa dạng trong từng sáng tác, bởi chất sống đã lất át những chiều kích của chất suy tư.

 

Nhảy vọt bằng những mẫn cảm văn chương

Công bằng mà nói, trên cái nền tảng của sự tuần tự ấy, văn chương mới hứa hẹn những bước nhảy vọt. Kẻ sĩ luôn ám ảnh thứ triết lí “sinh bất phùng thời”, văn sĩ lại càng ám ảnh những địa tầng giời gian sẽ vùi lấp tên tuổi mình nếu như không mạo hiểm vượt thoát ra ngoài những chuẩn mực, vừa mắt, ổn định cho dù đó là những điển phạm. Thi ca vốn cổ kính, gò bó trong niêm luật nhưng lại là nơi có sự cương tỏa “lỏng lẻo” nhất của sự quy phạm. Bỗng dưng từ bỏ những điển mẫu mực, Nguyễn Trãi tạo ra một bước đột phá khi viết rằng:

Bóng tháp ngời trâm ngọc

Tóc mây gợn ánh huyền

(Dục Thúy sơn - bản dịch của Huy Cận)

Chẳng biết đương thời, trong mĩ cảm đồng đại, “tóc mây” có bị coi rẻ như một “tai nạn nghề nghiệp” của một bậc danh nho hay không? Dẫu vẫn chỉ là “tóc mây” chứ chưa phải tóc xanh, tóc em, tóc ai… nhưng cũng đủ đứng riêng ra thành một cái lạ. Từ cái cụ thể, cảm tính, bé nhỏ ấy mà đôi cánh của thi ca được bay bổng, bỏ lại đằng sau những thành trì ước lệ cao ngất mà hạ cánh xuống cỏ xanh, đất nâu của đời thực mà dựng lên những đỉnh cao mới của những: Yếm đào trễ nải dưới nương ong; Quân tử dùng dằng đi chẳng được/ Đi thì cũng dở ở không xong. (Hồ Xuân Hương); Rõ ràng trong ngọc trắng ngà (Nguyễn Du); Trăng nằm xõng xoài trên cành liễu (Hàn Mặc Tử)… Cái đẹp bắt đầu dọi theo thước linh hoạt của một hằng số ấy là con người. Tự nhiên, bản ngã trở về ngắm nghía mình và tự nhận ra biết bao nhiêu chiều sâu, bao điều mới mẻ trong tâm hồn.

Trong thơ là thế còn trong văn, cô Tố Tâm bỗng dưng để lại một thắc mắc về sự ưu tư trong tâm hồn, đến cái kết bằng sự thác oan khó hiểu nhưng cũng đủ cổ súy cho một thời văn chương lấy tình cảm cá nhân thay cho bổn phận, lấy những ưu tư của tâm hồn thay cho ngoại hiện của những trận đánh, những cuộc vật lộn với thiên nhiên. Cũng từ đó, xen lẫn với những tuần tự đều đặn, văn mạch có những đứt đoạn như Nam Cao với Chí Phèo, Đôi mắt; Thạch Lam với Hai đứa trẻ. Sau này là Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp… bản thân họ tự nhận thức được sự nhảy vọt như là một thuộc tính của văn chương.

Nhận thấy thay vì “khơi lại” dù đó là “những gì chưa ai khơi” cũng chẳng bằng mở đường những gì chưa ai đi, mổ xẻ tâm hồn, “hồn thoát xác rũ ruột gan ra đếm”. Để rồi nhịp văn chương đã bắt kịp nhịp đời sống thành những dòng ý thức miên man trong tâm trí nhàu nát của Kiên (Nỗi buồn chiến tranh- Bảo Ninh); Hoàng (Cơ hội của Chúa - Nguyễn Việt Hà). Để rồi bất tận trong con đường đi đến “cùng đường tuyệt lộ” của Nguyễn Ngọc Tư… bởi lẽ đó, văn chương sẽ còn biết vượt lên chính mình bằng sự biết người (tuần tự) và biết mình nên nhảy vọt.

Phương Mai

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác