Từ "thơ mới" nghĩ về "thơ trẻ"

Phạm Khải

Gần đây, trên trang web của các nhà văn trẻ Phong Điệp, Lê Thiếu Nhơn, chúng tôi thường xuyên bắt gặp những bài viết cùng các bài trao đổi xung quanh những vấn đề nổi cộm của thơ trẻ và sức chiếm lĩnh thị trường của các nhà thơ trẻ.

Bài viết sau đây chỉ là một đôi suy ngẫm mà người viết đúc rút từ những năm đèn sách muốn được chia sẻ cùng bạn yêu thơ xung quanh vấn đề này.

 

Nghĩ về cái trẻ của Thơ Mới


Thú thật, nghe hai chữ Thơ Mới, nhiều người có vẻ ngơ ngác… Ai đó còn hỏi tôi "Thơ Mới nào, có phải là…". Sự thực, không ít người nhầm Thơ Mới là thơ của lớp trẻ bây giờ.

Vì chữ Mới đồng nghĩa với Trẻ. Tuổi trẻ luôn luôn mới. 

Thực tế, chúng ta có Thơ Mới. Thơ Mới hôm qua và Thơ Mới hôm nay. Nhưng liệu chúng ta đã có thơ mới mà trẻ (trẻ ở đây, dĩ nhiên phải căn cứ vào tuổi) chưa? Trong khi, những tác giả Thơ Mới, thời 1932-1945 họ trẻ thật. Thế Lữ, khi "nã" những phát đại bác mở màn cho Thơ Mới, vào độ 25, 26, đã bị xem như già lắm. 

Vậy cái gì đã khiến cho các nhà Thơ Mới đạt thành tựu như vậy, cái gì khiến cho có tác giả được giải thưởng văn học mặc dù trình độ văn hóa mới chỉ chừng lớp ba? Cái gì khiến cho những tài danh như Hàn Mặc Tử, Nguyễn Nhược Pháp, Bích Khê lập nên sự nghiệp lớn, mặc dù khi tạ thế, vẫn còn là trẻ.

Tôi xin thử giải đáp vấn đề này như sau: 

Trước tiên, xin mượn hai câu thơ của thi sĩ quá cố Hồ Dzếnh. Hai câu thơ này ông viết ra từ hơn sáu mươi năm về trước:

Tôi bước vào đời tự ngõ xưa

Nơi hiu gió sớm, xế buồn trưa.

Thử đặt câu hỏi: Cái ngõ xưa ấy là cái ngõ nào, mà từ đấy biết bao bàn chân đã đi vào trang sử văn đầy tự hào của dân tộc.

Nơi hiu gió sớm, xế buồn trưa ấy ở đâu, mà tạo nên cả một mùa gặt hái chưa từng thấy trong lịch sử văn học nước Nam ta. 

Ở đây, tôi muốn hiểu cái gió sớm và cái buồn trưa ấy theo nghĩa tượng trưng. Đúng, cái gió sớm ấy chính là một phương thức sáng tạo mới, được chuyển hóa từ phương Tây (đặc biệt từ thơ Pháp) vào thi đàn Việt Nam ta, tạo thành một luồng sinh lực khá mãnh liệt, tác động tới ý thức của từng cá thể sáng tạo và qua đó, đóng góp vào việc hình thành phát triển của cả một trào lưu mới trong nghệ thuật. Nhưng đó chỉ là một phía. Tiếp nhận thế nào, đến đâu lại là chuyện khác.  

Chính vì thế mà cái xế buồn trưa kia tôi lại muốn xem như là độ chín trong tâm hồn, tình cảm của cả một thế hệ sinh ra và lớn lên khi dân tộc còn đắm chìm trong vòng nô dịch, chịu cái đau của người dân mất nước, cái mặc cảm của kẻ làm nô lệ. Chưa đầy hai mươi tuổi, Huy Cận than thở:

Hồn anh đã chín mấy mùa thương đau trong khi Thế Lữ:

Hai mươi sáu tuổi mà xem nhường

Quá nửa đời dầu dãi nắng sương.

Hai mươi sáu tuổi, thi nhân đã xem như quá nửa đời, vậy thì một đời là bao nhiêu năm? Nói chung, đặc điểm của anh em văn nghệ thời bấy giờ là già trước tuổi. Môi trường sống bí bức, ngột ngạt, đày đọa hồn người.  

Thế nhưng, không chừng lại có nghịch lý xảy ra ở đây: Bởi sống trong một điều kiện o bế như vậy, con người ta càng cần phải có tư duy độc lập, một ý thức cá thể. Sự chín sớm trong tình cảm, trong nhận thức, lại gặp được một phương thức sáng tạo phù hợp, cũng như người có mảnh đất màu mỡ, lại có công cụ lao động thuận tiện, ắt thời gian gặt hái nhanh hơn, sớm hơn và hiệu suất cũng cao hơn. Phải chăng, việc thành công của phong trào Thơ Mới, phần nhiều là bởi đã hội tụ được đầy đủ hai yếu tố cơ bản nói trên?

 

…Và vai trò của lớp trẻ trong văn học mấy thập kỷ qua 


Hơn ai hết, tuổi trẻ luôn nhạy cảm với cái mới và thúc đẩy cái mới tiến triển (mặc dù có thể người châm ngòi cho nó lại thuộc thành phần đi trước). Thời Thơ Mới (1932-1945) đã có nhiều, khá nhiều đại diện như vậy. Ta có thể kể: Chế Lan Viên 17 tuổi xuất bản "Điêu tàn", Xuân Diệu 22 tuổi đã có "Thơ Thơ", Huy Cận 21 tuổi có "Lửa thiêng", Nguyễn Bính 22 tuổi có "Lỡ bước sang ngang"…

Mà không cứ riêng gì mấy ông, hầu như đại đa phần những người có tài năng khi ấy đều lập nên những "kỳ tích" văn chương ở "quãng" ấy… Đến cuộc kháng chiến chống Pháp cũng vậy.  

Giờ đây, sau mấy mươi năm nhìn lại, ta có thể thấy rõ ràng: Những bài thơ ghi được dấu ấn lịch sử lúc bấy giờ vào lòng người là của Nguyễn Đình Thi, của Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, hơn là của Chế Lan Viên, hoặc của Tế Hanh, Nguyễn Bính - những thi nhân từng nổi danh thời tiền chiến.  

Đến thời kháng chiến chống Mỹ cũng thế (ngoại trừ trường hợp những nhà thơ còn sung sức hoặc mới "đại tu" như Tố Hữu, Chế Lan Viên). Ta có thể kể đến vai trò và sự đóng góp cho cuộc chiến của những nhà thơ trẻ: Giang Nam, Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa… (đây là tôi vẫn chỉ nói về thơ).  

Tiếng tăm như "cồn" của Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa… thời đó là một minh chứng cho sức chiếm lĩnh "trận địa văn học" của tuổi trẻ. Duy chỉ có thời kỳ sau 1975 (ở đây tôi cứ tạm tính như vậy, còn từ sau 1975 tới 1986 hay tới đâu nữa ta sẽ bàn cụ thể) hình như không là thế, không phải thế.

Ta hãy trông vào danh sách tác phẩm, kể cả gây dư luận và chiếm lĩnh các giải thưởng văn học trong giai đoạn này. Những tập thơ, trường ca được giải của Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Võ Văn Trực, Vũ Quần Phương… tác giả của chúng thuộc thế hệ nào, lứa chống Mỹ hay thành phần sau 1975? 

Nếu như trong kháng chiến chống Mỹ, các nhà thơ đã sống, gắn bó với cuộc sống "tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi" (Xuân Diệu) và viết với tinh thần "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", thì hòa bình lập lại, văn học đã bị "hẫng hụt" mất một giai đoạn.  

Thơ ca lại tiếp tục "nâng cao" tính khái quát mang phẩm chất lý tưởng của thế hệ trẻ? Hay- như thơ ca "tiền chiến"- đi sâu vào cách thức diễn đạt những trạng thái xúc cảm tinh vi, những u ẩn của tâm linh con người? Thật là "tiến thoái lưỡng nan".  

Thơ ca thời kỳ này tựa như anh chàng Giang Minh Sài trong tiểu thuyết "Thời xa vắng" của Lê Lựu, lúng túng trước hiện thực cuộc sống, không biết làm thế nào để sống một cách tự nhiên hạnh phúc với một "đối tượng mới" trong một môi trường mới.  

Bởi thế, không ít nhà thơ, với tinh thần "lính chiến" đã khoác balô trở lại "đơn vị cũ". Cuộc chiến tranh đã được tái tạo lại dưới cái nhìn nghiêm ngặt, có trách nhiệm với lịch sử (do hiện thực của cuộc sống khiến các tác giả đã nhận thêm ra điều mới). Những trường ca của Thanh Thảo, Hữu Thỉnh… ra đời trong thời kỳ này và đoạt giải hàng năm của Hội Nhà văn là một vài minh chứng cho xu thế nói trên…

Trong khi đó thì lớp đàn em vốn liếng sách vở chủ yếu là của cha anh viết trong hai cuộc chiến tranh, mà sự trải nghiệm cuộc sống chưa nhiều, thành thử buộc phải phân hóa thành hai luồng, một là vẫn vớt vát theo nguồn cảm hứng cũ (từ hai cuộc kháng chiến), nhưng do tác phẩm không có hơi thở đời sống nên dễ hóa hời hợt, giả tạo.  

Hai là tìm cách khai phá bản thân mình cũng như con người trong đời sống hiện tại, song do không khí văn học lúc bấy giờ còn chưa cởi mở, thành thử dễ bị thui chột trong niềm riêng thất vọng, hoặc giả có người bản lĩnh cao hơn thế thì lặng lẽ thu thập vốn liếng, tích tụ trạng huống với phương châm "trường kỳ mai phục", chờ vận hội… 

Theo tôi, đấy là nguyên do chính cho thấy tại sao vai trò của những tác giả trẻ (sau 1975) nhạt nhòa mất một thời gian khá dài. Nói đúng hơn, cả một thời gian dài, đội quân chủ lực trong văn đàn vẫn là lớp nhà thơ, nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đúng như một ý kiến của ai đó.

Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đã mở ra một thời kỳ mới, rất thuận lợi cho sự phát triển của toàn xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật. Hai khuynh hướng sáng tác mà tôi vừa dẫn đã gặp dịp đua tài khoe sắc. Đó chính là lúc vai trò của lớp trẻ đối với nền văn học đương đại ngày một được khẳng định. Hàng loạt các giải thưởng văn học đã thuộc về họ.  

Tuy nhiên, trông vào sáng tác của đa phần anh em trẻ hiện nay, điều ta có thể thấy rõ rằng: Trước đây, để làm nên một công trình, người ta phải có động tác san nền, đằm nền, rồi mới xây; bây giờ thì anh em sẵn sàng đỏ bêtông trên cái nền hiện thực nhấp nhô, dựng những tầng ý trên cheo leo sườn núi của câu chữ.  

Điều đáng nói là cách thức ấy hiện vẫn chưa tạo ra một lớp độc giả đông đảo sẵn sàng vào ở trong những "ngôi nhà dựng nghiêng" đó. Cũng vậy, thơ văn trẻ ngày càng có xu hướng gợi mở, để cho người đọc tự gói lại tác phẩm theo cách thức của mình. Thơ như là môi trường, như khoảng sân trước cửa, khu vườn sau nhà… (đây cũng là yếu tố khiến ranh giới giữa cái mới và cái thô giản là hết sức mong manh).  

Ta bước vào khoảng không gian đó và chỉ có thể nói thích hoặc không thích, chứ thật khó thu gọn nó lại như một thứ đồ vật cầm tay để nhâm nhi bình xét, đánh giá.

Đã đến lúc phải có một cách nhìn khác về lớp trẻ, phải có những nhà phê bình trẻ, đại diện cho tiếng nói của thế hệ trẻ...

 

(vannghecongan)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác