Trường ca từ 2000 đến nay: xóa bỏ “khoảng cách sử thi” để gần gũi hơn với đời sống

Ngày nay, trường ca không còn chiếm ưu thế nổi bật nhất, nhưng là một dạng tác phẩm dài hơi khá kén người đọc, các văn bản trường ca vẫn lần lượt ra đời.

Ngoài một số tác giả “chung tình” với trường ca từ trước như Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu, chúng ta còn thấy nhiều tác giả khác cũng chọn thể loại này làm nơi chuyển tải thông điệp của mình. Đó là Trần Anh Thái, Nguyễn Thụy Kha, Mai Văn Phấn, Lê Minh Quốc, Nguyễn Quang Thiều, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Linh Khiếu, Nguyễn Hoàng Đức, Đỗ Quyên, Trần Nghi Hoàng… Những “đứa con tinh thần” ra đời trong một trạng thái xã hội đầy thử thách chắc chắn đã phải thay đổi mình, để tồn tại, để phát triển, và để đóng góp một ý nghĩa, một giá trị nào đó cho văn chương, cho đời sống con người.

 

Tiếp tục đào sâu những mảnh đất cũ

Mười năm đầu thế kỉ XXI, đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục là “đề tài không cạn kiệt” của trường ca. Tuy vậy, âm hưởng “trực chiến” không còn rõ như các tác phẩm ra đời những năm 70, 80, của thế kỉ XX, thay vào đó là sự hòa trộn của dư âm chiến tranh và bộn bề cuộc sống hiện thực, là hành trình gian khó của nhân dân để xây dựng một cuộc sống mới. Năm 2008, Nhà xuất bản hội nhà văn cho ra mắt tập Trường ca Trần Anh Thái với ba tác phẩm: Đổ bóng xuống mặt trời, Trên đường và Ngày đang mở sáng. Tập trường ca đã được các nhà nghiên cứu đánh giá cao và được quảng bá rộng rãi với hai cuộc tọa đàm lớn: một, do Khoa Sáng tác và Lý luận - phê bình văn học, Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức ngày 18/01/2008; hai, do Viện văn học tổ chức ngày 4/06/2009. Trường ca Trần Anh Thái được đánh giá cao ở những sáng tạo về phương diện cấu trúc, giọng điệu và tính đại tự sự mới mẻ trong nội dung của các tác phẩm. Có thể nói, trong các bản trường ca này, không còn nội dung chiến tranh thuần túy như trước, mà là hành trình của nhân dân, của quê hương và đất nước - hành trình ấy đã trải qua cuộc chiến tranh khốc liệt; dấu ấn của lịch sử, của văn hóa, của những thăng trầm biến động đã ảnh hưởng sâu sắc đến số phận mỗi con người và số phận dân tộc. Trần Anh Thái đã thể hiện sâu sắc những trải nghiệm ấy. Và như anh “tự bạch”: Tôi đã viết như tôi đã chết/ Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau - Lời cuối “Khúc huyền ca - Ngày đang mở sáng” “như kí hiệu kết thúc một bản nhạc về con người trước và sau cuộc chiến, tự đẩy lùi hoàng hôn để tìm thấy bình minh” (Ngọc Thiên Hoa). Đề tài chiến tranh còn được tiếp tục phát huy một cách có ý thức thông qua các cuộc vận động sáng tác do Bộ Quốc phòng khởi xướng năm năm một lần. Đặc biệt, trong lần vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca, hồi kí về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang (từ tháng 9/2001 đến 1/2004) đã có tới 50 tác phẩm trường ca được gửi đến, và có những tác phẩm ít nhiều đã gây được tiếng vang như: Sức bền của Đất (Hữu Thỉnh), Hơi thở rừng Hồi (Vương Trọng), Người lính đi đầu (Thanh Quế), Điện Biên Phủ (Trần Mạnh Hảo)… Điều đó chứng tỏ rằng, chiến tranh mãi mãi là một kí ức vừa đau buồn vừa vinh quang của dân tộc; và kí ức ấy sẽ không ngừng được tái hiện trong văn học - như một sự tri ân và cũng là những trải nghiệm sâu sắc của mỗi con người.

Sau khi Trầm tích (1999) thành công với đề tài viết về quê hương xứ Nghệ, chúng ta thấy gần đây, một số tác giả cũng ghi được dấu ấn bằng những trường ca viết về các vùng quê. Nổi bật nhất, có lẽ là sự tái hiện ‘hơi thở rừng rực Tây Nguyên’ trong các trường ca của Lê Vĩnh Tài. Các tác giả sẽ dễ thành công hơn với các vùng quê có nhiều nét văn hóa riêng, có những đặc điểm vùng miền độc đáo. Tây Nguyên với âm hưởng sử thi hào hùng từ xa xưa đã lặng lẽ tiến vào trường ca đương đại qua Vỡ ra mưa ấm, Trường ca cho quê hưởng của một ngàn năm trước:

Tây Nguyên mênh mang tận cùng máu chảy

mẹ dạy ta nhìn thấy

một bông lúa rẫy cũng khát như người

giấu ngọt bùi sau lần trấu mỏng

Tây Nguyên mênh mang tận cùng sự sống

chàng Đam San yêu con gái mặt trời

người con gái nhìn vào chói mắt

vẫn yêu

Tây Nguyên mênh mang sau những buổi chiều

lên khói

mắt người già mệt mỏi

nhìn xa

(Thay lời tựa - trường ca Vỡ ra mưa ấm)

Trong cái hào hùng và bí ẩn của Tây Nguyên xưa là những cảm nhận mênh mang về cuộc sống đương đại, là trăn trở “làm sao đổi thay số phận/ bằng điệu khan buồn măng trúc măng mai”. Đất đai núi rừng và con người Tây Nguyên dường như đang đứng trước những thử thách mới, những lựa chọn mới: cuộc sống hiện đại có thể làm thay đổi mảnh đất này, “chúng ta còn tất cả” hay “chúng ta không có gì”. Vỡ ra mưa ấm ám ảnh người đọc bởi sự trông đợi của những số phận người Tây Nguyên - những số phận ít nhiều đang có cảm giác lạc lõng bơ vơ trong hiện tại. Nhiều đoạn thơ diễn tả sâu sắc cảm giác này: ánh mắt đứng vững nhà dài/ nhỏ nhoi đau đớn/ đau đớn nhỏ nhoi những hi vọng không thôi/ nước mắt nẻo đường mòn heo hút lo âu/ đau đớn nhỏ nhoi những hi vọng không thôi/ thắp sáng điệu khan buồn ôi đáy đêm sâu. Bản trường ca sẽ gợi lên nhiều nghĩ suy trong lòng người đọc về một mảnh đất giàu truyền thống và về “tiếng thở dài trào ra hang động”. Có thể nói, Lê Vĩnh Tài đã tạo được một điệu thơ ám ảnh lôi cuốn, hệ thống hình ảnh đẹp mang tính tạo hình cao và một cấu trúc lắp ghép theo kiểu dòng ý thức. Những đặc điểm đó góp phần tạo nên sự xuất sắc trong bút pháp của ông.

Bên cạnh Lê Vĩnh Tài, cũng có một số tác giả khá thành công khi khai thác đề tài quê hương như Từ Nguyên Tĩnh với Trường ca Hàm Rồng (bản trường ca được viết 30 năm trước nhưng năm 2000 mới xuất bản), Bài ca nữ thần Jang Hơ ri (Nguyễn Khắc Phục), Phủ Quì (Huyền Lam), Vinh (Lê Duy Phương)…

 

Và khai phá những mảnh đất mới

Trong một bài viết về trường ca Mở cửa tử sinh của Trần Nghi Hoàng, tác giả Dũng Văn đã viết: “Cách đây hai mươi hoặc hơn hai mươi năm, nhiều nhà thơ đã viết trường ca để đối diện với thời thế nhận diện Núi Sông vạch mặt Chiến Tranh nhận mặt Con Người? Thơ của họ đã theo chân các danh nhân, lãnh tụ, đi trên mặt đường khát vọng, tới các sư đoàn, tới mặt trời trong lòng đất, đi tới thành phố, đi tới biển… Giờ đây nhiều thi nhân lại viết trường ca chỉ để đi vào chính cái bản ngã của mình mong nhận diện Chính Mình dù có khủng khiếp đến đâu”[1]. Quả thật, những trường ca gần đây như Nhịp điệu châu thổ mới, Nhân chứng của cái chết (Nguyễn Quang Thiều); Phồn sinh (Nguyễn Linh Khiếu), Người cùng thời (Mai Văn Phấn), Hành trình của con kiến (Lê Minh Quốc), Metro (Thanh Thảo) đã rời xa tính chất sử thi. Họ hướng vào những trải nghiệm cá nhân trước bộn bề cuộc sống, hướng vào thể hiện các vấn đề của tồn tại mà con người luôn phải đối diện, đó là vấn đề sinh tử, thiện ác, sự cô đơn, hoài nghi, thất vọng, nỗi buồn, niềm vui…. Có lẽ, đây là hướng mới cho sự phát triển trường ca. Trạng thái xã hội đã đổi khác, bất cứ một thể loại nào cũng cần thay đổi mình, vì nó là hệ quả của hình thái ý thức xã hội. Trong những tác giả sáng tác theo xu hướng này, chúng tôi thấy Nguyễn Quang Thiều là người đã gặt ái được nhiều thành công. Ông đã dung hòa được lối viết của thẩm mĩ chuẩn mực cổ điển và lối viết hậu hiện đại. Trong một hình thức mang tính suy tưởng với nhiều mảnh ghép hiện thực, ông thể hiện được những chiêm nghiệm sâu sắc về các vấn đề nhân sinh. Ngoài hai trường ca được viết trước năm 2000, Cây ánh sáng (2009)Lò mổ (chưa xuất bản, đã đăng trên Maivanphan.com) của ông tiếp tục khiến chúng ta không khỏi băn khoăn, ám ảnh bởi những cảm thức về đời sống con người vừa hiện thực vừa ảo ảnh, vừa khốc liệt vừa nên thơ, vừa cao cả vừa đê hèn.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của văn học mạng, những tác phẩm hải ngoại đã ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống văn hóa Việt, trong đó có trường ca. Các tác phẩm đến với độc giả Việt Nam chủ yếu bằng các trang web và gây ấn tượng bởi một lối viết lạ, bởi một cách nhìn từ bên ngoài, bởi thân phận của những đứa con tha hương, và trên hết, chung nhất vẫn là nỗi lòng, là trải nghiệm của những con người. Trường ca hải ngoại, với các tác phẩm tiêu biểu như Lòng hải lí, Thơ thời gian, Buồn muộn cùng thế kỉ (Đỗ Quyên - Canada), Kỳ tích từ phương Đông (Trần Nghi Hoàng - Mỹ)…, xuất hiện như một dạng trường ca phi chuẩn mực cả về cấu trúc và nội dung. Tuy nghiêng nhiều sang cách viết hậu hiện đại nhưng chúng vẫn gặp gỡ với các trường ca trong nước hiện nay ở trạng thái tâm thức thể hiện - tâm trạng bất an, tự vấn của con người hiện đại. Có thể nói, trong mười năm qua, cách nhìn sử thi của trường ca ngày càng nhạt hóa; nội dung ngày càng hướng đến các vấn đề thuộc về con người; điều đó cũng là diễn tiến chung của cả nền văn học phát triển trong bối cảnh chiến tranh sang thời hậu chiến. Tuy vậy, cốt lõi của trường ca vẫn là cảm hứng khẳng định: khẳng định sức mạnh, khẳng định sự trường tồn, khẳng định ý chí con người và dân tộc… Ý nghĩa của thể loại nằm trong tham vọng xây dựng nên một (trong nhiều) đại tự sự cho thế giới tinh thần ấy. Và, mặc dù tiểu tự sự là vấn đề quan tâm thường xuyên phổ biến hơn của con người hiện đại; nhưng đại tự sự - trong bất cứ một xã hội nào, vẫn là điều quan trọng để tạo nên sự ổn định tương đối, tạo nên niềm tin và hệ giá trị để con người không cảm thấy mất thăng bằng, bơ vơ, lạc lõng… Chính vì thế, dù không còn “trạng thái sử thi” theo quan niệm của Hegel, nhưng trường ca vẫn có cơ sở để tồn tại và thực tiễn đã cho chúng ta thấy nó đã, đang phát triển trong một trạng thái “phi sử thi” đa dạng phức tạp như thế nào.

*

Nhìn chung, với một số lượng tác giả và tác phẩm khá lớn, từ năm 2000 đến nay, khác với dự đoán thông thường, trường ca dường như đang khởi sắc. Trong loại hình trữ tình, xu hướng cách tân ở thơ bình thường có lúc tỏ ra cực đoan và nhiều bài không thể đọc thì ở trường ca, những cách tân tỏ ra hợp lí hơn. Sự đổi mới về cấu trúc, về nội dung, về ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật là những diễn biến rất tích cực để thể loại có thể phát huy được khả năng phản ánh Tinh thần thời đại một cách sâu sắc, đồng thời có thể thu hút độc giả, trở thành một tiếng nói lớn, một nơi để con người Việt bộc lộ quan điểm và những trải nghiệm cuộc đời.

Diêu Lan Phương

(Văn nghệ Trẻ) 


[1] Dũng Văn. Mánh lới cuối cùng của một con người (Đọc Mở cửa tử sinh – của Trần Nghi Hoàng). http://kesach.org/archives/457

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác