Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam

Hội thảo khoa học toàn quốc ‘Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay’ do Hội đồng LLPBVHNTTU tổ chức từ ngày 12-13/7/2010 tại thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Đây là một trong những hoạt động cụ thể hóa Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, và cũng là hội thảo lần thứ 3 sau hội thảo ‘Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập’ (2008) và ‘Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học, nghệ thuật’ (2009).

Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 1
Hội thảo Khoa học toàn quốc ‘Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay’ diễn ra trong hai ngày 12-13/7/2010 tại TP. Đà Lạt


GS.TS Phùng Hữu Phú
khẳng định vai trò quan trọng và những đóng góp to lớn của văn học Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 2nghệ thuật thời gian qua, đồng thời nhấn mạnh: thực tiễn đất nước ta hiện nay đặt ra những vấn đề mới mẻ, phức tạp, riêng lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề thu hút sự quan tâm, trăn trở, tìm tòi tâm huyết của đông đảo nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ. Qua Hội thảo, được tổ chức trên tinh thần khoa học, dân chủ, lần này, Hội đồng LLPB văn học nghệ thuật trung ương sẽ khái quát các ý kiến bản thảo nhằm tư vấn, tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ những vấn đề liên quan đến đường lối phát triển văn học nghệ thuật, đến các chủ trương, chính sách lớn đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật.

GS.TS. Đinh Xuân Dũng trong Báo cáo đề dẫn đặt ra vấn đề tính chất, nội dung, đối tượng và giá trị phản ánh của văn học nghệ thuật; sơ bộ nhận diện đặc điểm của hiện thực hôm nay từ đó lí giải thực trạng phản ánh hiện thực của văn học nghệ thuật những năm gần đây. GS nhấn mạnh “nghệ thuật là sự phản ánh, nhận thức, chiếm lĩnh, khám phá, sáng tạo và đồng hóa hiện thực theo cách riêng của nó… Công chúng nghệ thuật luôn cần và chờ đợi ở những người sáng tạo cùng thời với họ những lý giải, những tìm kiếm, kể cả những trăn trở, lo toan và dự báo… về cuộc sống mà chính họ đang sống”. Ông đề nghị các nhà văn, nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm lý giải mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực, phân tích các xu hướng vận động của hiện thực đất nước, trao đổi về các phương thức chiếm lĩnh bằng nghệ thuật hiện thực cuộc sống, đánh giá thành tựu và hạn chế trong nhận phức phản ánh hiện thực, nhận diện các khuynh hướng, lý giải những hiện tượng mới, những vấn đề đặt ra trong phản ánh, nhận thức, khám phá hiện thực đất nước, đề xuất các yêu cầu, giải pháp về mặt lí luận,…

Đồng chí Tô Huy Rứa- Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 3Trung ương- nhấn mạnh ý kiến chỉ đạo tại Hội thảo: Quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực đất nước hôm nay là một vấn đề cơ bản, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển đúng hướng của văn học nghệ thuật nước nhà; hội thảo này có ý nghĩa lý luận và tính thời sự sâu sắc trong đời sống văn học, nghệ thuật của đất nước ta hiện nay và nhiều năm sắp tới; giải quyết tốt vấn đề cơ bản đó sẽ thể hiện rõ vai trò tích cực, to lớn của văn học, nghệ thuật đối với đời sống đất nước. Ông cũng lưu ý “để làm được những điều trên, có rất nhiều việc phải làm, cả văn nghệ sĩ, các hội văn học nghệ thuật từ trung ương đến địa phương và cả các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, quản lí văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước. Đối với những người sáng tạo và hoạt động văn học nghệ thuật, bản lĩnh, vốn sống, sự trải nghiệm, và tài năng là những nhân tố không thể tách rời… Đảng và Nhà nước đảm bảo với các đồng chí sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để văn nghệ sĩ gắn bó hơn nữa với đời sống, phát huy mạnh mẽ tiềm năng, năng lực và tài năng của mình, dồn tâm sức cho những tác phẩm có giá trị, phản ánh trung thực, sâu sắc cuộc sống và con người hôm nay của đất nước ta”.

Hội thảo nhận được hơn 60 bản tham luận. Có gần 20 báo cáo được trình bày trực tiếp trong hai ngày làm việc.

GS.TS. Trần Đình Sử khẳng định: văn học và hiện thực là một vấn đề trung tâm của lí luận văn Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 4học, cho đến nay đã có nhiều hệ thống lí luận giải thích khác nhau về mối quan hệ này, nhưng chưa có lí luận văn học, mỹ học nào nhất trí công nhận, đó là vì mỗi lí luận đều xây dựng trên một khung lí tính, với điểm quan sát nhất định để khát quát thực tiễn văn học thành nguyên lí. Theo ông, trước đây mệnh đề văn học phản ánh hiện thực bị hiểu giản đơn, sơ lược, nhưng nói chung bản thân mệnh đề đó không sai, bởi vì nó xác định được một cách tổng quát nhất mối quan hệ giữa văn học với hiện thực và thời đại, không có cách biểu hiện khác. Tuy nhiên, nếu coi phản ánh luận là lí thuyết duy nhất để giải thích văn học nghệ thuật là chưa đủ. Để hiểu văn học có thể nghiên cứu quy luật sáng tạo, tâm lí học sáng tạo, kí hiệu học, tiếp nhận nghệ thuật… Xuất phát từ quan niệm mỗi hình thái ý thức xã hội có một đối tượng hiện thực tương ứng, GS. chỉ ra sự khác nhau giữa hiện thực của khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và chính trị. Một thời gian dài chúng ta hiểu hiện thực của văn học theo nghĩa hẹp là hiện thực đã được chính trị hóa, có ý nghĩa chung với mọi loại ý thức. Nay có thể hiểu hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa mà con người sống trong đó. Tất cả những gì con người tìm thấy ý nghĩa đối với cuộc sống và từ đó khám phá những con đường để đi tới những ý nghĩa tốt đẹp hơn, thú vị hơn trong nghệ thuật là hiện thực. Cái khả nhiên là hiện thực độc nhất, vô nhị của văn học. Phản ánh cái khả nhiên, ngoài chức năng dự báo còn có chức năng giải phóng tư duy con người khỏi những khuôn mẫu cứng nhắc. GS nhấn mạnh: hiện thực là nguồn kí hiệu tự nhiên vô tận của sáng tạo nghệ thuật và sức mạnh của chủ nghĩa hiện thực, sự phản ánh thực chất là một kiến tạo của ý thức con người, kiến tạo tác phẩm văn học là tạo nên một văn bản có khả năng sinh nghĩa. Để phản ánh hiện thực sâu sắc, rộng lớn, không chỉ có chủ nghĩa hiện thực mà có thể sử dụng nhiều phương pháp - ngôn ngữ nghệ thuật khác (Văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện đại).

GS.TS. Mai Quốc Liên cho rằng trước khi bàn về vấn đề phản ánh sáng tạo trong văn học cần nhận thức đúng về hiện thực đất nước ta hiện nay. Có nhận thức đúng mới phản ánh đúng. Sau khi điểm qua diễn biến tình hình hiện nay, GS. nhận định “năng lượng sáng tạo mà nhà văn nghệ sĩ tích lũy được qua thời kì chiến tranh cách mạng cơ hồ đã gần hết… Hiện nay vẫn còn một số nhà văn - nghệ sĩ trung thành với đề tài kháng chiến - cách mạng, và đó là điều rất đáng khích lệ” (Phản ánh, sáng tạo, hiện thực với lí tưởng xã hội và lí tưởng thẩm mỹ XHCN của chúng ta).

Tham luận của GS. Phong Lê trước hết đề nghị cách xác định hiện thực hôm nay như thế nào. Theo ông, cần tìm hiểu hiện thực hôm nay trên sự đối sánh với lịch sử hôm qua: “hiện thực hôm nay theo tôi quan Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 5niệm là một thời gian khá dài, nếu tính từ khởi động của công cuộc Đổi mới với Đại hội Đảng lần thứ VI - 1986. Những 24 năm… Đủ cho sự hiện diện của nhiều thế hệ viết, nếu kể từ Tô Hoài, Nguyễn Xuân Sanh… với tuổi thọ 90 cùng thế hệ trên dưới 80 như Sơn Tùng, Dũng Hà, Hồ Phương, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Sáng, Xuân Khánh, Nam Hà, Ma Văn Kháng, Nguyễn Quang Thân, Lê Văn Thảo, Bùi Bình Thi, Nguyễn Khắc Phê… cho đến thế hệ cuối 8X đầu 9X trở đi, trên tổng số hàng nghìn người viết”. “Cái hiện thực hôm nay ta đang cần bàn, cần phải tính từ mốc 1986, với hai khẩu hiệu làm nên linh hồn của nó- đó là khát vọng dân chủ hóa, lấy dân làm gốc, gắn với hai mục tiêu dân chủ và văn minh; và với cách tiếp cận: nhìn thẳng vào sự thật”. Sau khi nêu đặc điểm riêng, thế mạnh riêng của bốn thế hệ viết, GS. đánh giá: “Nhìn lại sự đồng hành của của bốn (hoặc hơn bốn) thế hệ viết hôm nay như là một biểu tượng lạc quan của sự phát triển văn học sau ngót 30 năm trong sự nghiệp Đổi mới và sau một thế kỉ hiện đại hóa, về phân tôi, tôi không khỏi băn khoăn về thế hệ thứ tư (sinh ra sau chiến tranh, bắt đầu viết từ cuối thập niên 90- TG) - là thế hệ đối ứng và đáp ứng trực tiếp và sâu xa nhất trước hiện thực hôm nay; thế hệ có thẩm quyền nói lên chính tiếng nói của cuộc sống hôm nay, thế hệ không ai thay thế được họ, trong tư cách người đại diện”. Ông khẳng định tin tưởng: “phải một thế trẻ, hoặc rất trẻ, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, lại vừa là chủ thể của hoàn cảnh, với bản lĩnh cá nhân và sức mạnh đội ngũ, mới mong đưa đời sống văn học vào một bước ngoặt, mang tính cách mạng, như đã từng diễn ra ở nửa đầu thế kỉ XX” (Văn học với hiện thực hôm nay và sự đồng hành của hơn bốn thế hệ viết).

Nhà phê bình Lê Quang Trang trình bày tại Hội thảo vấn đề Khi thực tiễn chênh với dự định. Ở báo cáo của mình, ông nêu rõ, sự chênh đó do bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, do đi sai quy luật của đời sống, sai về phương thức thực hiện. Cụ thể là: ý định thì rất tốt, rất hay mà kết Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 6quả lại dở. Ông nêu được một số vấn đề có ý nghĩa thiết thực như: “làm sao có thể cho ra đời một tác phẩm ca ngợi việc khoán sản phẩm đến người lao động trong khi ta đang chủ trương đề cao nhấn mạnh lợi ích tập thể, coi nhẹ, thậm chí phê phán lối suy nghĩ quan tâm đến lợi ích cá nhân. Làm sao một tác phẩm đề cao lối làm ăn theo cơ chế thị trường lại có thể được hoan nghênh trong khi chủ trương, đường lối chính sách đang chiếm lĩnh tuyệt đối đời sống xã hội là phương thức sản xuất theo cách kế hoạch hóa tập trung. Hơn nữa, cũng cần thấy bối cảnh xã họi còn bị nhiều chi phối khác, và nhất là tính dân chủ trong Đảng cũng như trong đời sống còn nhiều bất cập, hạn chế. Trong tình hình như vậy, rất khó có thể cho ra đời những tác phẩm “ngược dòng”, nhận thức ra và phản ánh cái độ chênh giữa dự định và thực tiễn…. Im lặng thì không đành, viết thì khó được in, được đến với công chúng”. Lê Quang Trạng đề nghị: Nhà nước nên có quy định cởi mở hơn cho văn nghệ sĩ, người nghệ sĩ cần được hoàn toàn tự do tư tưởng trong đánh giá sự kiện cũng như thể hiện suy nghĩ ý tưởng của mình trong tác phẩm, “nếu tác phẩm không thể xuất bản theo quy trình bình thường, cần thành lập Hội đồng thẩm định đặc biệt, bao gồm một số chuyên gia chuyên để xem xét, đánh giá, cho ý kiến về hướng giải quyết”, “trường hợp được Hội đồng thẩm định đánh giá tác phẩm đạt chất lượng tốt, có giá trị về nghệ thuât và lịch sử nhưng chưa có lợi cho công tác tuyên truyền trước mắt, Nhà nước nên có chế độ mua bản quyền đưa vào lưu trữ, để có thể xuất bản khi có điều kiện hoặc làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu”.

GS. Trần Thanh Đạm đặt vấn đề Đạo đức và văn cương: tham luân về một chủ đề xưa cũ. Ông nói: vấn đề đạo và văn, đạo đức và văn chương là chủ đề xưa cũ mà cũng là chủ đề hiện đại của văn học hiện đại Việt Nam chúng ta. Vấn đề đó cần được đặt ra, lý giải trong lý luận, phê bình văn học cũng như trong thực tiễn sáng tác và tiếp nhận văn học của chúng ta trong thế kỉ XXI này.

Nhà phê bình Nguyễn Hòa nêu Một góc nhìn về tả thực và hệ lụy văn chương. Ông lưu ý: “tả Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 7thực trong văn chương khác với tả thực trên báo chí… một thời, chủ nghĩa hiện thực cùng lối hiểu thô sơ về chủ nghĩa hiện thực đã ảnh hưởng khá lớn đến văn học Việt Nam… thêm thói quen quy giản các vấn đề lí luận, đã đẩy yêu cầu tả thực tới một cách hơi riết róng trong tác phẩm văn học, đôi khi còn là ‘mô hình’ khá ổn định trong quan niệm của cả nhà văn, người viết phê bình lẫn người đọc… một hệ lụy khác của văn chương tả thực còn lại tới hôm nay là sự quan tâm thái quá đến các đề tài có tính thời sự”. Cuối bản tham luận Nguyễn Hòa khẳng định: “nhà văn cần tiếp tục viết về đề tài chiến tranh - vì có viết bao nhiêu vẫn không thể nói hết về cái giá mà dân tộc phải trả, song để văn học phát triển, đáp ứng các nhu cầu văn học lành mạnh của công chúng, hội nhập với văn học nhân loại.. đã đến lúc chúng ta, nhà văn - xã hội - công chúng, cần xác lập các tiêu chí mới của sự phát triển văn học… đã đến lúc cần tới một cuộc ‘lột xác’ của cả nhà văn và công chúng’.

GS.TS. Nguyễn Văn Hạnh đã chỉ ra thực tế là: văn học Việt Nam đang đứng trước một sự lựa chọn “hoặc làm một thứ trò chơi, một phương tiện giải trí đơn thuần, mải mê sục sạo vào cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ theo tinh thần ‘duy ngã’, hoặc cất cao lên tiếng nói chân thực của cộng đồng, của xã hội, làm người bạn đồng hành đáng tin cậy, minh triết của con người thời đại”. Ông đề nghị văn học phải cần phải phấn đấu, đổi mới và tìm tòi những con đường hữu hiệu nhằm đáp ứng đòi hỏi chinh đáng của người đọc và xã hội. Cần phải nắm bắt thực tế cuộc sống, xu thế vấn động của nó, những vấn đề mới nảy sinh, hiểu biết đúng đắn và sâu sắc bản chất - chức nnawg của văn chương, khai thách tốt nững động lực tư tưởng quan trọng nhất của thời đại. “Trong văn học và trong cuộc sống của chúng ta hiện tại, phải nhấn mạnh và phát huy tác dụng của hai động lực tinh thần cực kì quan trọng là dân chủtự do” (Đời sống văn học, tình hình và suy nghĩ về hướng phát triển).

PGS.TS. Trương Đăng Dung trình bày Mô hình phản ánh trong mỹ học và lý luận văn học Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 8Macxit. Ông giải thích rõ “mô hình phản ánh, về thực chất, là sự khẳng định văn học phản ánh hiện thực”. Đã có nhiều cách nhìn nhận, diễn giải về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, tuy nhiên, trong điều kiện thời gian có hạn của Hội thảo, ông chỉ tập trung đề cập đến những quan điểm chủ đạo của ba nhà mỹ học mác xít lớn là G. Lukács, Ch. Caudwell, P. Macherey trong ba tác phẩm quan trọng của họ: Đặc trưng mỹ học, Ảo ảnh và hiện thực, Đến với lí luận sản xuất văn học. Sau khi cho thấy thực chất của mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cũng như những giới hạn của một vài mô hình phản ánh, PGS. kết luận: “phản ánh hiện thực không phải là sự sao chép hay mô phỏng hiện thực mà là sự sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm tạo ra hiện thực. Các tác phẩm văn học lớn vì thế luôn mở ra những chiều kích mới của hiện thực, giúp người đọc khám phá chiều sâu của hiện thực”.

Nhà phê bình Lê Thành Nghị đi sâu bàn thảo Thơ trong cuộc sống hôm nay. Sau khi nhận diện thị trường thơ sau Đổi mới, Lê Thành Nghị cho rằng “đời sống văn học rất thoải mái.. nhưng hình như đang có sự nhiễu loạn giá trị”. Lí giải nguyên nhân của sự nhiễu loạn, ông băn khoăn: “việc cho in nhiều thơ kém, thơ trung bình, thơ được biên tập qua quýt… dẫn đến làm nhiễu loạn các giá trị phải chăng chính là ở khâu biên tập. Nếu các tờ báo, các nhà xuất bản có những biên tập viên giỏi, có trách nhiệm, chỉ cho in nhưng bài thơ, những tập có chất lượng, chắc chắn thị trường sẽ không có nhiều thơ dở như vậy”. “Có thể nói hai mươi lăm năm sau đổi mới, thơ Việt Nam đang tiếp tục tìm tòi, vẫn chưa định hình một giọng điệu, một đặc trưng thẩm mỹ mang tính thời đại…. thơ Việt Nam những năm qua thiếu một tư tưởng thẩm mỹ chủ đạo, hay nói khác đi, thiếu một sức hút mãnh liệt của cá đẹp, đủ sức tạo nên những tình cảm lớn trong sáng tạo của nghệ sĩ… mặt khác hình như trong cuộc sống của chúng ta hôm nay đang thiếu đi một sự cộng hưởng cần thiết mang tính xã hội giữa người làm thơ và công chúng… Một cách rất tự nhiên là khi thơ thiếu đi những tình cảm lớn của thời đại, chỉ đi vào những tình cảm vụn vặt, thậm chí rắc rối, cầu kỳ, khó hiểu… thì thơ ấy không phải là tiếng hát của mọi nhà. Và khi người đọc cảm thấy thơ không còn cần thiết với họ nữa thì có nghĩa thơ ấy đang mất chỗ đứng trong đời sống”.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn bàn về Vấn đề phản ánh hiện thực trong văn xuôi viết về nông thôn Tìm tiêu chí mới để phát triển VHNT Việt Nam - ảnh 9thời kì đổi mới. Sau khi nêu hiện thực đất nước trước những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội để thấy rằng hình ảnh người nông dân và đời sống thôn quê đã và đang đặt ra cho văn học những vấn đề mới, những khả năng phản ánh tiếp cận hiện thực mới- kể cả những yêu cầu và thách thức thức mới, ông đi sâu phân tích ba tiểu thuyết từ đặc điểm nội dung và nghệ thuật của chúng, gồm: Ba người khác của Tô Hoài, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bao Công làng của Phan Quế. Theo ông, trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỉ XXI, mảng sáng tác về đề tài nông thôn có phần chững lại, không có mấy tác phẩm lớn, chưa theo kịp đời sống xã hội nông thôn đang phát triển mạnh mẽ và cũng ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp. Ông đề nghị mảng sáng tác về đề tài nông thôn cần nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, tinh thần nhập cuộc, tái hiện và khám phá sâu sắc những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong đời sống nông thôn chứ không chỉ đơn tuyến như khẳng định những nhân tố mới, cách làm ăn mới.

Ngoài các báo cáo mà chúng tôi đề cập trên đây, các tham luận của PGS.TS. Trần Luân Kim (Hiện thực hôm nay và phim truyện Việt Nam), Nhạc sĩ Cát Vận (Nhạc trẻ hiện nay, một số vấn đề ‘nóng’), Nghệ sĩ nhân dân Ứng Duy Thịnh (Nghệ thuật múa với hiện thực đời sống hôm nay), Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái (Phải chăng kiến trúc chưa gắn kết với hiện thực đời sống đất nước?), Nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Huyến (Chiến tranh Việt Nam và những vấn đề đặt ra với sự phát triển nhiếp ảnh), GS. TSKH. Tô Ngọc Thanh (Thử nhận diện mối quan hệ cộng đồng - thành viên - cá thể trong hiện thực xã hội hôm nay), GS. Hoàng Ngọc Hiến (Từ thái độ mới với cái tiêu cực, hình dung vai trò, bộ mặt mới của người trí thức ‘dấn thân’), PGS.TS. Phạm Quang Trung (Văn chương và đời sống - những bài học từ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ - Latinh)... và báo cáo của TS. Ngô Phương Lan (Báo cáo về tình hình văn học nghệ thuật Trung Quốc) cũng được trình bày tại Hội thảo.

Phát biểu tổng kết Hội thảo, GS.TS. Phùng Hữu Phú kết luận các ý kiến tham luận, trình bày tại hội thảo nhìn chung bám sát vấn đề, có nhiều gợi mở, tiếp cận từ nhiều góc độ. Có thể tóm tắt trên bốn vấn đề. Thứ nhất: các đại biểu tham dự hội thảo đã tiếp tục cùng nhau suy ngẫm làm rõ thêm về mối quan hệ giữa VHNT và hiện thực đất nước, ở đó có điều được khẳng định một cách dứt khoát, có nhiều điều cần được bổ sung để làm phong phú hơn nhận thức của chúng ta. Thứ hai: chúng ta cũng cùng nhau bàn thảo hiện thực đất nước hôm nay, có điểm gì mới, cần lưu tâm, đã đặt ra cho văn nghệ sĩ những vấn đề gì trong quá trình sáng tác. Thứ ba: chúng ta bước đầu đánh giá vừa trên phạm vi tổng quát vừa cụ thể ở từng lĩnh vực. Thứ tư: hội thảo có nhiều đề xuất, kiến nghị, đưa ra nhiều giải pháp thúc đẩy văn học nghệ thuật của chúng ta phản ánh tốt hơn hiện thực đất nước. Hội thảo đề cao chức năng xã hội, chức năng nghệ sĩ công dân trước hiện thực đất nước./.

Kim Ngân

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác