Tiếng nói của nhà văn Việt Nam


Ngày mùng 07/3/2015, bức thư T
hư gửi Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Raúl Castro của nhóm nhà thơ đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Martha Collins (Mỹ); Alex Pausides (Cuba); Nguyễn Quang Thiều (Việt Nam); Fernando Rendón, (Colombia)… với những chữ kí ủng hộ lời kêu gọi Chính quyền Mỹ nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với Cu Ba chính là sự kiện nóng hổi nhất mang dấu ấn của nhà văn với các vấn đề trọng đại của dân tộc, nhân loại. Từ sự kiện này, nghĩ về những lần nhà văn- kẻ kĩ nhập thế, nói lên ước vọng của mình, cảnh tỉnh nhân loại bằng những triết lí nhân sinh, chúng ta chợt nhận ra, tiếng nói của nhà văn cũng chính là một phần của lịch sử nhân loại.

Văn chương, vốn dĩ đã không phải là một hình thái ý thức xã hội đơn giản. Sau khi ra đời trong khối nguyên hợp cùng với yếu tố vũ, âm nhạc, tín ngưỡng… nó bắt đầu hành trình tự cá biệt hóa bằng những thể loại hành chức, gắn với chức năng chính trị, xã hội. Kể từ khi vượt qua nhiệm vụ truyền tải đạo lí, tư tưởng trực tiếp sang hình thức hình tượng nghệ thuật, văn học vẫn giữ trong mình tinh thần của các giá trị nhân văn. Ở vào từng thời đại, với những ý thức hệ khác nhau, tiếng nói ấy lại vang lên bằng một thể thức, cách lập ngôn, nhưng tựu chung lại, ta vẫn nhận ra những điểm khá tương đồng. Nếu như Gabriel Garcia Marquez với Đấu tranh cho một thế giới hòa bình là tiếng nói cảnh tỉnh nhân loại trong một thế giới toàn cầu hóa nhưng mải mê với cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân thì trong quá khứ, các nhà văn Việt Nam cũng từng có những cách biểu hiện riêng, tuy âm thầm gửi gắm vào những trang viết hay tuyên ngôn nhưng cũng không kém phần quyết liệt, thể hiện cái tâm của người cầm bút.

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, bên cạnh những trận đánh “sạch không kình ngạc”, “tan tác chim muông” làm suy sụp tiềm lực quân sự và tinh thần của giặc, quên đi những ngày tháng gian nan, hiểm nguy “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần / Lúc Khôi Huyện quân không một đội” (Bình Ngô đại cáo) vẫn có những bức thư của Nguyễn Trãi trong Quân trung từ mệnh tập đánh lui hàng vạn quân và đề cao tinh thần yêu chuộng hòa bình, lui họa binh đao:

“Ngồi giữ một mảnh thành con, để chờ sáu cái cớ bại vong ấy, thật tiếc thay cho các ông! Cổ nhân có câu: "Nước xa không cứu được lửa gần". Dù có viện binh đến đây, cũng không ích gì cho sự bại vong cả. Trước đây Phương Chính, Mã Kì đem đến cửa quân dâng nộp. Như vậy trong thành sẽ khỏi nạn cá thịt, trong nước sẽ khỏi vạ đau thương, hòa hiếu lại thông, can qua xếp bỏ. Nếu muốn rút quân về nước, ta sẽ sửa sang cầu cống, mua sắm tàu thuyền, thủy lục hai đường, tùy theo ý muốn…” (Nguyễn Trãi, Tái dụ Vương Thông thư).

Bức thư ấy tuy giới hạn bởi văn tự, bối cảnh lịch sử và nền văn hóa nhưng đã mang những giá trị nhân văn sâu sắc vượt qua thời gian. Việc đề cao “hòa hiếu” làm trọng (nhưng không nhượng bộ) với kẻ đang ở thế yếu, đứng trước nguy cơ bại vong cho thấy cái tầm nhìn và sự nhân ái của kẻ sĩ- người cầm bút.

Sau Nguyễn Trãi, đã có rất nhiều nhà văn cất lên tiếng nói mạnh mẽ với thời đại của mình bằng các trang viết. Nguyễn Đình Chiểu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã nói lên một chân lí đến nghịch lí: khi chiều đình đớn hèn thì người nông dân chân phác, thuần hậu dám xả thân vì nước:

Hỡi ơi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ. 

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; 

Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Bản thân cặp đối bất tương xứng “súng giặc”- “lòng dân” đã nói lên khí phách của những người yêu nước. Đó cũng là lời nhà văn nói hộ muôn dân trước họa mất nước với bao tang tóc. Trong gần trăm năm Pháp thuộc ấy, tiếng nói nhà văn luôn là thứ vũ khí sắc bén tố cáo tội ác và cảnh tỉnh nhân quần.

Không trực tiếp đề cập đến hiện thực trung tâm là các cuộc xung đột vũ trang, thậm chí, ít nhiều để lại những ấn tượng không tốt trong quan điểm chính trị. Tuy nhiên, ở phương diện giữ gìn và bảo vệ nền văn hóa truyền thống, Phạm Quỳnh đã có câu nói rất nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta cònnước ta còn”. Khái niệm “tiếng ta” của ông nếu được đặt trong mối tương quan ứng chiếu với tiếng Tây, trước xu thế Tây hóa, nô dịch, đồng hóa thì chính là tất cả những yếu tố thuộc phương diện tinh thần của một đất nước. Còn tiếng nói, tiếng nói giữ gìn lịch sử, văn hóa, truyền thống…

Trong giai đoạn xây dựng đất nước, tái thiết đất nước sau chiến tranh, nhà cách mạng, nhà văn Phạm Văn Đồng, Trường Chinh đã có những nhận xét, phát biểu về văn hóa. Các nhà văn từng khoác áo lính, từng đi qua các cuộc chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Bảo Ninh, Lê Lựu… với nhiều cách thể hiện khác nhau như nói bằng hình tượng nghệ thuật hay nhường cho nhân vật tự cất lên những triết lí, suy cảm đã thể hiện trách nhiệm của người cầm bút trước thời cuộc. Những tiếng nói ấy, song hành cùng tài năng và những đóng góp đã góp phần củng cố thêm địa vị của nhà văn.

Việt Phương

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác