Tiếng lòng tự vang lên trong thơ viết về miền núi

 

(Toquoc)- Thành thật mà nói, thơ viết về miền núi hay bị giới hạn bằng những liệt kê. Giới hạn ấy là sự hướng ngoại để nói với cộng đồng lớn bằng cách kể tên địa danh, bằng việc tự hào về phong tục này, đặc sản nọ. Ấy cũng là khi người viết đã thực sự muốn li tâm khỏi những giá trị văn hóa cốt lõi, ngõ hầu tìm thấy một ví trị trong đối sánh. Nhưng dần dà theo thời gian, những địa danh nổi cộm lên trong thơ các tác giả miền núi, những xúc cảm kiểu ngỡ ngàng khi gặp gỡ bản này, núi kia, bịn rịn khi chia tay làng này, xóm nọ… thành nhàm chán, phẳng phiu trong ấn tượng của người đọc. Phải chăng, điều mà độc giả muốn tìm đọc phải là những cảm xúc hướng tâm, là tiếng lòng tự vang lên trong nội tâm như tiếng của núi rừng lại vọng vào vách núi.

 

Tiếng nói tự cường

Đã là người cầm bút, dẫu viết bằng ngôn ngữ nào, thì đều phải thể hiện được vẻ đẹp vốn có của dân tộc mình. Sức sống để tạo nên vẻ đẹp ấy trước hết phải là tự cường văn hóa: tự mình đủ sức làm mình đẹp, tự nhận thấy mình đẹp và tự xác tín:

Con là con trai của mẹ

Người đàn ông của làng Hiếu Lễ

Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba

Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà

Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước

Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt

Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên

(Tên làng - Y Phương)

Nhiều người sẽ nhắc đến bài thơ Nói với con như là một tuyên ngôn về bản sắc của nhà thơ dân tộc Tày này. Nhưng, sẽ chẳng có sự thành thật, sâu sắc nào bằng khi anh nói với chính mình. Những cái mới chơm chớm của “lần đầu tiên” ấy cũng là hệ trọng nhất, cũng chạm tới cái “đỉnh” trong đời người. Còn gì vui bằng đón đứa con đầu lòng, nhưng cũng là khi quá chân đến bờ vực thử thách. Cái vui đồng điệu với cái khó. Vui được làm một người cha, cũng là khi anh cảm nhận sâu sắc nhất về sự kết nối với sinh mệnh của dân tộc mình, chạm tới mạch nguồn tổ tiên. Hạnh phúc đã hừng hực trong lòng, nhưng nhen lên cho có hình hài, vóc dáng thì khó như “nhóm lửa lửa trên mặt nước”. Cuộc sống gia đình giữa thế nhân đa sự cũng có lúc phải chạm đáy trước khi thăng hoa, phải qua mong manh mới đến vững bền, biết rạn nứt rồi mới dày dặn… Cái vui vượt qua cái khó, trong cái khó lại hứa hẹn niềm vui tiềm ẩn. Lời tự tình ấy của Y Phương quả đúng là khúc hát tự cường mạnh mẽ lắm sao. Nhưng triết lí ấy anh vay mượn của ai? Không. Ý tứ ấy anh sắp đặt thành thơ? Không. Họa chăng chỉ có cung cách ứng xử văn hóa, có lối tư duy bằng quy luật cuộc sống, có quan niệm hạnh phúc của dân tộc mình là chỗ dựa. Nói bằng cái khó, cái khổ của dân tộc mình âu là một cách tự trào tự nhiên nhất.

Viết về một kỉ niệm, nhiều người cầm bút thường “đặc tả” những tiếc nuối, đau đớn bằng một giọng điệu nỉ non. Nhưng có lẽ, đó là khi tâm hồn đang thương tổn ấy còn mang cả nỗi tha hương, sự đơn lẻ khi li tách khỏi lề lối quê mùa. Còn với Bùi Minh Chức, cái “thuần” cái “mĩ” trong phong tục, cái nết trong ý thức đã nhuần nhuyễn đến độ lắng kết thành sự ý nhị trong thơ:

Rằm này trăng sau

Đến bến Bôi Lâu xem bóng núi Dọi

Rồi anh sẽ nói

Rằm mới trăng sau

Hiu hắt hoa lau bên bờ sông vắng

Chỉ còn tiếng vọng

Bước chân xa dần trên nước

Những vòng sóng như không có thật

Tan lan man trên sông. 

Rồi rằm rồi trăng

Ngày sau, mai sau

Mới nhắc đến nhau đã là kỷ niệm

Dù rằng vẫn bến.

Đu rằng vẫn sông…

(Rằm này trăng sau- Bùi Minh Chức)

Toàn bài thơ là một dòng cảm xúc lãng đãng. Một bến chờ, một cuộc hẹn cũng “lan man” tan như bọt nước. Nhưng cái lắng lại, như hòn đá tảng lầm lì cắt ngang suối nguồn vô cảm ấy là một câu thơ ngang tàng đúng lúc: “Mới nhắc đến nhau đã là kỷ niệm”. Có phải ngọn lửa ấy chưa kịp khơi lên đã thành tro tàn, chuyện tình ấy chưa kịp mở ra đã đóng băng thành quá khứ. Giọng thơ ý nhị ở chỗ “mới nhắc đến” nhưng “đã thành kỉ niệm”. Nói thế khác nào coi nhau như hư ảo, vừa mới nhớ đến đã không còn nữa, vừa mới thấy đã tan, vừa mới nhắc đến đã đau… Nhưng đằng sau sự kín đáo ấy còn là ý thức về bản sắc khá lớn. Nỗi buồn ấy, tiếc nuối ấy chính là một “đối âm” về hình mẫu hạnh phúc trong tâm thức Mường. Người biết kìm nén và gói gém những những ngổn ngang ấy là người biết trân trọng và làm nên hạnh phúc. Ngẫm ra nó còn khéo hơn cả cái cách chàng trai từng “khoe ngầm” “đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho…” trong bài ca dao Tát nước đầu đình vậy. Có lẽ sự chừng mực, có lẽ một ý thức về “độ” vừa đủ để không thành vô cảm, vừa biết dừng lại để không thành bi lụy đã giữ cho giọng điệu thơ như thế. Sự tráng kiện ấy là thứ mà Bùi Minh Chức chẳng phải vay mượn ở một mô-típ thơ nào mà tựa như một thứ “trả nghĩa” cho bản sắc văn hóa đã vỗ về, chăm chút cho mình bằng ứng xử ấy dù anh chưa một lần thốt lên, chưa một lần hiện hữu trong cuộc đời này mà chỉ âm thầm trong ý nghĩ.

 

Tiếng lòng tự vang lên trong thơ viết về miền núi  - ảnh 1
(Ảnh dongvan.gov.vn)


Tiếng vọng tri âm

Không sinh ra ở miền núi, cũng chẳng “thuộc” cách kể những đặc sắc của dân tộc mình, thơ Lê Va là tiếng vọng tri âm với núi. Đó là khi anh thấm thía được cái tinh túy trong cốt cách của con người miền sơn cước. Thay vì cách cố nhập vai gượng ép là việc anh viết về những giá trị ấy bằng cái nhìn từ bên ngoài. Nhưng không vì thế mà nó hiểu khác đi:

Bát rượu men rừng mở lối

Hỏi thăm bố mẹ gửi tình

Hỏi thăm an hem chia phận

Lời nói dốc đứng

Cử chỉ khúc khửu

Tình đầy như mây trắng quanh năm

Bụng như mùa thu suối sớm

Chén rượu chao mang

Nhìn sâu mắt khách

Bắt tay nổ đốt

Người vùng cao cười

Nụ cười em bé trong nôi

(Người vùng cao đón khách - Lê Va)

Nhan đề của bài thơ vốn đã là một đề tài cũ. Nhưng lạ ở chỗ, “người vùng cao” của anh vẫn cứ lặng lẽ là người đồng rừng ấy, người sơn cước ấy chứ không bị hòa theo những thói quen tư duy, lí giải của nhiều người viết thành một vai diễn khi bước vào thơ. Từ lúc đón khách đến tiễn khách, vẫn là một thái độ như thế: quý mà không vồn vã, vui mà không cợt nhả, lưu luyến mà không níu kéo. Bắt đầu là:

Khách đến 

Cứ làm bạn với ghế mây cái đã 

Chủ nhà lặng yên 

Tiếp sức cho lửa 

Đón nước vào bếp 

Lửa hát 

Nước reo 

Người cất lời

Cho đến lúc chia tay thì vẫn cứ là:

Chén rượu chao mang

Nhìn sâu mắt khách

Bắt tay nổ đốt

Có lẽ, phát hiện mới mẻ về tâm hồn người miền núi của Lê Va sẽ làm chúng ta giật mình nhìn lại những ôm đồm, quy chụp theo công thức trong thơ. Sống trong thực tế vốn dĩ đầy nghiệt ngã bởi thiên nhiên, giữa những thử thách sống, “người vùng cao” cần sự cẩn trọng, kiệm lời, không ưa hứa hẹn, bông lơn đã nhào nặn thành một đức tính ưa thành thực. Những phát hiện đó lại là sự thấu triệt qua lăng kính tâm hồn Lê Va. Không một lời bình phẩm, xúc cảm của anh kín đáo náu trong cái hình hài vừa khắc họa. Không gò ép những “cử chỉ khúc khửu”, không san phẳng những “lời nói dốc đứng”, cũng chẳng ngại nhắc đến cái lầm lì từ lúc gặp đến lúc chia tay bởi đó mới là bản chất của một cái đẹp. Đẹp khi, cuộc viếng thăm ấy không làm xáo trộn nhịp sống của gia chủ, sự va chạm văn hóa đó không tác động gì đến nề nếp của gia đình. Đó là gì nếu không là sự tự tại, tự cường, là bản lĩnh đã hòa quyện vào bản sắc. Nhìn ra được và viết đươc, không áp đặt thành những kiến giải tầm thường, Lê Va đã tri ân mảnh đất nơi anh sống bằng câu thơ vọng lại vách núi như sự tri âm trong cái lẽ “đồng thanh tương ứng” ngàn đời nay.

Viết về quê hương hay nơi mình gắn bó cũng đều là một sự đối chứng với tâm hồn mình. Chỉ có điều nếu mang trong mình một lòng thành thật, đã tận cảm những triết lí sâu xa thì hãy viết những gì để sắc màu xứ sở sẽ thành một hồn đồng điệu với chính câu thơ của mình.

Lâm Việt

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác