Thơ viết về Bảy Núi


(Toquoc)- Tôi có dịp đọc bài của Trần Sang, và đồng cảm với anh - một tác giả trẻ An Giang đang sung sức, anh quan niệm rằng: “Thơ có thể hay với người này nhưng lại không hay với người khác”, bởi vậy khi tiếp nhận thơ rất khó đưa ra được “tiêu chuẩn” rõ ràng để đánh giá. Chính vì thế, quan niệm thẩm mỹ lại là cái chủ quan của mỗi người. Có những bài thơ, khi ta đọc xong, cảm giác lâng lâng, sao thấy nó gần gũi quá, quen thuộc lắm, từ cảnh vật đến con người, hình như ta đã gặp ở đâu đó rồi, hình như ta đã từng tiếp xúc, nay đọc thơ thêm một cách nhìn khác về cảnh vật đó, về con người đó. Đó là tôi muốn chia sẻ lên những suy nghĩ của mình khi đọc cảm nhận của tác giả giới thiệu Tuyển tập Thơ An Giang 30 năm…

“Hơn ba mươi năm cùng với sự phát triển của đất nước, của tỉnh nhà, nền văn học An Giang cũng đã lớn mạnh không ngừng về số lượng tác giả cũng như chất lượng tác phẩm. Thơ An Giang đã giới thiệu được những tình cảm, đời sống, quê hương và con người An Giang. Những cây bút nối tiếp nhau mà trưởng thành, khẳng định vị trí của mình trong nền văn học cả nước…”

Khi đọc lác đác những bài thơ “viết về Bảy Núi nói chung qua các tuyển tập, hay nói riêng Tri Tôn đã mở trại viết năm 2012 do hội VHNT huyện Tri Tôn, cùng Phân hội Văn học An Giang tổ chức, đa phần là tác giả An Giang; và ta sẽ gặp ngay những hình ảnh đặc trưng của quê hương sông núi, với dãy Thất Sơn oai phong hùng vĩ nhưng cũng đầy bi thương, với vùng đồng nước, kênh rạch chằng chịt miệt Tứ giác Long Xuyên, với những kỳ tích thiên nhiên, con người anh hùng trong chiến đấu, lao động chân chất trong thòi kỳ phát triển quê hương… Nhưng cái ấn tượng nhất ở đây, là mỗi tác giả lại có những cảm nhận khác nhau về quê hương, con người Bảy Núi, làm nên sự đa dạng trong cách thể hiện, không làm cho người đọc nhàm chán. Ở bài viết này người viết chỉ mong ước thu lượm và cung cấp những tác phẩm về địa danh Thất Sơn kỳ bí, về Tri Tôn thấm đậm xứ núi nghĩa tình, linh thiêng và huyền thoại của những cuộc chiến tranh gần một thế kỷ đã qua.

Ngoài các bài thơ dài ngắn gây ấn tượng về vùng núi ở An Giang như “Gặp gỡ, Chia tay…”, "Ngủ đêm trên đồi Tức Dụp”, “Trên đồi Ma Thiên Lãnh”, "Trên đất Óc Eo”, “Ba cặp núi và một hòn núi lẻ“, “Núi Dài”, “Đêm nghe núi trở mình”… của Chim Trắng, Trần Thế Vinh, Nguyễn Thị Trà Giang, Anh Sắc, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Bá, Vũ Hồng… và các nhà thơ Hồ Thanh Điền, Phạm Nguyên Thạch, Lê Chí, Trịnh Bửu Hoài, Lê Thanh My… đã khái quát lại một thời kỳ lịch sử hào hùng của quân và dân An Giang, Bảy Núi, Tri Tôn... Với những ngợi ca vẽ đẹp của quê núi, những hình ảnh đó đã làm cho những người con Bảy Núi, yêu thương và tự hào hơn về quê hương của mình. Những người không phải quê ở An Giang sẽ hiểu hơn về quê hương Thất Sơn hùng vĩ..

Đọc lại ngày xưa bậc tiền nhân, nho sĩ… Bùi Hữu Nghĩa đã cảm nhận:

Ngồi trên cao, nghĩ mông lung

Cỏ tươi, đồng rộng, trời trong bốn bề

Buồm qua xóm vắng, mưa sa

Xe đi trong khói núi nhòa mờ cây

Nhà, tre chiều nắng cuối ngày

Rẽ lau, đường mở, thuyền đầy lời ca

Hơn đời, được tiếng là ta

Năm rồi, năm vẫn sa đà ải quan…

(Vĩnh Thông Đồn trấn - Bùi Hữu Nghĩa)

Một điều không thể thiếu được đối với cảm nhận của mỗi tác giả thơ - đó chính là sự rung động, cảm thụ từng góc nhìn trước tình yêu quê hương xứ sở, và cuộc sống… Anh hay lê la vùng núi nhiều, nên Phạm Nguyên Thạch thốt lên:

…Quán lẻ loi cứ là quán núi

Cứ là hoa mọc trên đá, nhiêu khê

Em có lúc ngỡ mình hạt bụi

Bụi vẫn phù sa của chợ núi, góc quê…

(Quán núi - Phạm Nguyên Thạch)

Còn với nhà thơ Chim Trắng:

Lên núi tập ngồi trơ như đá

Gió không hương mưa nắng không hồn

Cúi xuống ngực hôn lên từng lá biếc

Chạm phải môi mình - chiếc lá khô cong.

(Chơi trên núi Cấm - Chim Trắng)

Chiến tranh đã đi qua, nhưng nỗi đau của mẹ thì vẫn còn đó “nửa đời còn lại mẹ dành khóc con”. Thế hệ chúng ta phải biết ơn những người ngã xuống, những người còn sống đã hy sinh quãng đời tuổi trẻ của mình cho độc lập của dân tộc, đặc biệt là các bà mẹ Anh hùng sinh ra các liệt sĩ. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta.

Tri Tôn ơi cả nước biết tên

Niềm kiêu hãnh rạng ngời thiên sử đỏ

Đồi Tức Dụp chiến công còn đó

Núi Cô Tô điểm tựa tiền tiêu

Những tên người yêu quý biết bao nhiêu

Má Sáu, chú Mười, anh Hai, cô Út…

Là những người kiên trung bất khuất

Mảnh đất này nuôi cách mạng miền Tây !

Sa Rết ơi, chiếc áo vẫn còn đây…

(Tri Tôn trong nỗi nhớ - Trần Trường Sơn)

Cũng với thơ khắc họa về thời chiến tranh, nơi nhà thơ Nguyễn Minh Nhị từng sống chết ở đây:

Vang lên cao điểm Núi Tô

Lũ giặc gật gờ cũng lắng im nghe

Đêm nay mấy đứa trốn về

Tiếng chày giục giã hồn quê lạc loài

Vang ra Sóc Triết, Chà Đây

Thì cùng tiếng cuốc đêm nay phá đường

Gió ơi mang đến Tri Tôn

Tiếng chày, Nói với bà con ngoài này

Rằng đây phum sóc vui vầy

Vườn dâu vẫn tốt, tằm đầy mấy nong

Cũng là núi Cấm nhưng đối với Vũ Hữu là nơi đồng đội anh đã hy sinh, để đem lại màu xanh cho rừng núi, cái màu xanh của hy vọng vào tương lai:

Đồng đội tôi nhiều người ngã xuống nơi đây 

Người còn lại mang rất nhiều kỷ niệm 

Cơn sốt rừng thoắt đi chợt đến 

Chỉ tiếng cười đọng mãi lòng thung…

Hay như Trần Thế Vinh, nơi anh sinh ra và anh đã dài hơi bằng một trường ca về nơi anh ở:

Ô Tà Sóc, Núi Dài

Cao, dốc thấp

Dìu đở nhau đi kháng chiến lâu về

Tóc anh rụng bạc màu suối cũ

Hẹn em từng ngày - Hội ngộ, chia tay…

Núi Dài

Ngọa Long xuyên nắng

Tà Sóc ô cao - Dốc ngắn, dốc dài

ta về thăm cứ ngày nay

đội mưa

đi theo bước dài, bước ngắn…

 

Đá núi

cây rừng. Tĩnh lặng

là người nặng nghĩa tình sâu

hang Ma Thiên Lãnh sướt đầu

người dũng sĩ thương vong đâu còn nữa…

(Trích Trường ca “Về nơi anh ở” của Trần Thế Vinh )

Chiến tranh đã lùi xa, đất nước trên đường xây dựng, phát triển và đang từng bước hội nhập với thế giới, chúng ta phải gác lại nỗi đau chiến tranh và tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng, nhưng không được phép quên công ơn của những người đã ngã xuống. Nhà thơ - là người đa cảm mà… dù một cảm xúc nhỏ ở đâu, ở cảnh ngộ nào, thì thơ cũng xuất phát từ tận đáy lòng. Có khi nhói đau lúc trở về chiến trường xưa, giọng thơ nữ Nguyễn Thị Trà Giang:

…Tôi thẫn thờ trước khối đá lặng câm

lấp cửa hang chôn các anh trong đó

chôn nỗi khát khao, chôn niềm thương nhớ

mười tám đôi mươi trẻ quá cuộc đời !

Hãy ngồi thêm một chút bạn ơi

Nhang sắp tàn. thắp thêm tuần nhang nữa…

(Trên Đồi Ma Thiên Lãnh - Nguyễn Thị Trà Giang )

Hay là:

Mỗi lần lên biên giới 

Tôi lại ghé thăm anh 

Nghĩa trang vàng nắng quái 

Xao xác đồi cỏ tranh…

(Viếng bạn - Trần Quang Mùi)

Hay trong bài “Nhớ về một người con” của Vũ Anh:

… Tri Tôn vùng đất còn ghi dấu.

Bảy Núi miền quê rạng nét son.

Chiến đấu kiên cường : “sông với núi”.

Hy sinh bất khuất : “nước cùng non”.

Sóc Triết năm nào nguyền quyết tử

Thái Hùng oai dũng một người con!

Và trước một Ba Chúc bi thương do bon diệt chủng Pôn Pốt gây ra năm 1978, động tâm trong mỗi chúng ta vào nơi sâu thẳm của lòng người với nhau; nhà thơ Ma Joan từ Phú Yên vào, anh thổn thức qua bài Đêm ở Ba Chúc:

 29 hài nhi ở Ba Chúc

Đó là em tôi

Đương vào độ xanh xuân bung sức nở tài

 

264 đứa trẻ chưa thành niên ở Ba Chúc

Đó là bạn bè tôi

Chủ nhân những gia đình biết vén vun và khát khao hạnh phúc

 

88 trinh nữ và thiếu phụ ở Ba Chúc

Đó là chị cô dì tôi

Lo toan cơm áo một đời

Nhưng họ đã bất ngờ đứng lại

Khoảnh khắc tàn khốc vô danh

Vĩnh viễn trở thành những ô BB/IB/JFB… ngu ngốc

Mà oan linh lang thang khắp núi đồng cống kinh Ba Chúc

Đếm cạn đêm 3.157 hồi chuông nã vào thinh không

Siêu thoát

Còn thơ của Nguyên Anh, người quê xứ núi thì:

Tội diệt chủng ngàn đời còn ghi mãi

Quyết không để hành tinh này lập lại

Đớn đau lòng xin khắc niệm nghìn thu

Một nắm nhang hương hồn ấy lời ru

Để an nghỉ yên lành nơi chính suối

Thơ viết về Bảy Núi  - ảnh 1
Núi Két (ảnh afamily.vn)

Đêm về Tri Tôn nghe núi vặn mình trong từng hơi thở… nhà thơ Vũ Hồng không nén được lòng nên bật lên:

Người trở về Thất Sơn, ban trưa

Núi vặn mình trong ta rượu đắng

Nỗi lo tháng tư đồng xa khô giọt lệ

Bụi tầm vông tóc trắng mùa màng!

(Đêm nghe núi trở mình - Vũ Hồng)

Nhà thơ Giang Nam - Hồn thơ ấy đã để lại cho đời qua bài thơ Quê hương nổi tiếng, khi về Bảy Núi nhà thơ cảm nhận:

Chiều Bảy Núi biên giới “ không bình yên”

Người lên tuyến trong khói mù đại bác

Lòng rất bình yên…biết trước mặt mình là giặc

Chim bắt cô bay trên chốt gọi mùa

(Chiều Bảy Núi - Giang Nam)

Và đây là những xúc cảm thật của những người trong cuộc thời tham gia chiến trường chống Mỹ ở Bảy Núi:

Kẻ thua trận hiểu chăng nơi chúng đến ?

ấy là nơi gang thép của tâm hồn

độc lập tự do dù máu đổ đâu sờn

Tổ quốc nhói đau bao vết bầm thân đá !

(Thăm hang Tuyên Huấn - Anh Sắc)

…Tức Dụp, núi Dài, Bụng Địa hoang vu…

Còn khắc dấu chúng mình trong hang động

Máu, nước mắt, mồ hôi chiến trận

Nghe mặn mà dòng sữa mẹ trào tuôn.

 

Cuộc chiến nào cũng đổi bằng máu xương

Đọng mãi trong ta hùng thiêng trang sử

Ký ức vui buồn hơn phần ba thế kỷ

Còn ai nhớ nhau khi kỷ niệm tràn về…

(Ngược dòng ký ức năm xưa - Trần Trường Sơn)

…Xuống núi

Phải đi lòng vòng

Đừng ngoảnh lại, chớ bao giờ ngoảnh lại

Khát vọng trên cao sẽ làm ta bịn rịn

 

Em ơi

Xa mãi mãi một tình yêu cũng vậy

Dễ gì trong chốc lát, quay đi

Em chỉ còn là một chấm nhỏ ở kia

Có khi mất nhiều năm, ngoảnh lại

Thấy mình xa chẳng được bao nhiêu

(Chia tay - Chim Trắng)

Sau trận đánh em nằm trên đá ngủ

Tóc em xõa thành chiếu trải sau lưng

Súng kề bên như tóc nào chợt nhú

Giấc mơ em tóc đổ thác qua rừng

 

Bom giặc dội trên đầu rung vách đá

Giấc ngủ em khói lửa chớ len vào

Anh ngội đoán sau sâu nồng giấc ngủ

Có anh về thấp thoáng giữa chiêm bao…

(Trích trường ca Ba cặp núi và một hòn núi lẻ - Trần Mạnh Hảo)

Đến lúc yên bình sau các cuộc chiến tranh, quê hương Bảy Núi trở lại màu xanh trên từng phiến đá, hố bom, chót núi… Hai ba dân tộc anh em Kinh, Khmer, Hoa cùng dựng xây lại xứ sở thân yêu của mình. Mỗi lần các nhà thơ đến, đi, rồi quay lại - là mỗi lần có cảm xúc mới… Hãy cùng đọc những trải bày của từng tác phẩm thấm đậm vùng quê núi đang hồi sinh:

…Em nâng niu mùa chín trên tay

Ngọt trái thị thơm

No hạt lúa đồng trên bao đời người vun trồng, cấy hái

Con đường ô nước suối Cô Tô bao mùa tuôn chảy

Mát rượi lòng em, nuôi lớn giấc mơ đời                           

Lời kinh nào ẩn trong thần Bayon bốn mặt

Chùa XvayTon thâm nghiêm

Rêu xanh thềm đá

Hằng trăm năm tháp mộ trụ trì

(Những bài kinh lá - Nguyễn Lập Em)

…Bạn về nước mắt rưng rưng

Hài cốt anh còn ở Soài So

Liệt sĩ ngày xưa chưa có mộ

Thì đành. Anh linh đất mẹ Cô Tô!

            (Đâu cũng đất anh linh - Hồ Thanh Điền)

Thật ra mùa xuân là một dịp may 

Em tươi nắng nõn 

Như trăng huyền hoặc 

Như núi lim dim 

(Trăng/núi/bướm/xuân & em - Trần Hữu Dũng)

…Núi vào xuân

mỗi ngày một lạ

thanh sắc nhiều hơn, lưu luyến thêm tình

lưng lũng núi ta thấy mình như lá

chơi vơi hồn bay giữa những dãy khăn mây

(Về quê núi - Vũ Miên Thảo)

 … Giơ tay là hái được tình

Một mình mình nắm, một mình mình buông.

Núi buồn, đá tựa vào sương

Em ngồi, bóng tựa vào đường gió đi

(Với núi - Thu Nguyệt)

 Đêm biên giới Tây nam xa lắc

Nghe tiếng đàn kìm trúc trắc

Hai vai gánh Đạo - Đời sâu nặng

Sư Thầy vui kinh kệ tháng ngày…

(Chùa Xa - Thu Hồng)

Cung đường mòn thổn thức

điệu hát Lý thương nhau                    

Cô gái Khmer ngồi bên bậu cửa

nhìn trời qua kẽ lá

Trời xanh và lá cũng xanh

Đong đầy mắt em

một thế giới yên lành

(Ấm áp Tri Tôn - Thế Lân)

…Kinh Vĩnh Tế như đàn chim sải cánh

hoa lục bình tím biếc chiều xa

thốt nốt xòe lá tròn ngô nghĩnh

bóng dừa xanh soi mát dòng kinh

lòng tin và ao ước hòa bình

đã gặp đây rồi

Vĩnh Tế!

(Vĩnh Tế bây giờ - Lê Chí)

…Ở ngã ba này ta ngắm núi

Núi của ta yên ả đến vô cùng

Mấy khi được nằm nghe núi thở

Hơi ấm ùa về, lan tỏa bao dung

(Ngắm núi - Lê Thanh My)

…Lương Phi mới đến một lần

Mà sao ta cứ bâng khuâng nhớ hoài

Nhớ từng cô gái chàng trai

Tâm hồn trong trắng làm say lòng người…

(Với Lương Phi của Cao Thế Phiệt)

… Đồng hoang !

Thôi kệ đồng hoang

Lúa ta sạ xuống…

Nước tràn chân mây

Rồi thì lúa sẽ lên cây

Chân mây hóa gạo, ắp đầy đồng hoang

(Tháng ba Vĩnh Tế - Vĩnh Thông)

…Chiều Soài So chợt động cánh dơi

Rừng núi bỗng lung linh huyền ảo

Tiếng chuông chùa ngân vào nẻo đạo

Nẻo lòng ta thanh thoát một tình yêu

(Chiều Soài So - Trịnh Bửu Hoài)

…Trông lên Thất Sơn

Thắm thoát đã năm mùa gặt hái

Trăng vành vạnh sáng trên Cô Tô mê mải

Luôn chỉ hướng về em.

 

Trông lên Thất Sơn

Ấm áp ly rượu tri âm năm mùa ký ức

Cứ tràn đầy theo nẽo về xuôi.

 

Trông lên Thất Sơn

Anh cứ bùi ngùi năm mùa lúa chín!       

            (Nhớ em năm mùa lúa chín - Trần Thế Vinh)

Từ góc nhìn qua mảng thơ viết về Bảy Núi, Tri Tôn được thu thập hạn hẹp của người viết, ta cũng đã cảm nhận được vùng đất Thất Sơn huyền bí anh linh, vừa bi tráng bằng nhiều địa chỉ lịch sử truyền thống cách mạng và nay đang vươn lên sức sống đầy hoa thơm trái ngọt, mãi thấm đậm trong lòng văn nghệ sĩ bốn phương.

Thế Vinh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác