Thơ trên facebook



(Toquoc)- Lâu nay, dưới con mắt của nhiều người, những thông tin trên các mạng xã hội như Facebook, Twitter… đều rất khó tin vì chúng chỉ tồn tại trong không gian ảo, nên không thể kiểm chứng, ngay cả đối với thơ. Thậm chí cực đoan hơn có nhiều người còn cho rằng các tác phẩm văn chương được xuất bản hoặc lấy nguồn từ báo điện tử (mạng Internet) là không chính thống, nên không có thẩm quyền can dự vào trong các nội dung trích dẫn của các bài viết đánh giá, phê bình hay nghiên cứu về văn chương. Thế nhưng, những người theo chủ kiến này dường như đang cố cầm đuôi con ngựa kéo lại lúc nó đang phi nước đại, khi thời đại công nghệ thông tin và kỹ thuật số phát triển đến chóng mặt.

  Thơ trên facebook - ảnh 1


Số lượng liệu có nói lên điều gì?

Vào công cụ tìm kiếm google, gõ cụm từ Thơ hay trên Facebook, chúng ta có khoảng 389 đơn vị bài thơ, tính đến 18h, ngày 10/01/2015.

Theo chúng tôi số đơn vị bài thơ ấy có thể được chia thành ba nhóm. Nhóm I, gồm có hai tác giả đã nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật là nhà thơ Nguyễn Bính với Những bóng người trên sân ga và nhà thơ Hữu Thỉnh với Thơ viết ở biển, chiếm hơn 0,514% trong tổng số 389 đơn vị bài thơ và 10 tác giả đã nhận được Giải thưởng Nhà nước gồm: Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Hồ Dzếnh, Nguyễn Mỹ, Phan Thị Thanh Nhàn, Lê Anh Xuân, Thâm Tâm, chiếm hơn 2,5%… Trong số này có một nhà thơ được chọn hai bài là Hoàng Nhuận Cầm với Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến Chiếc lá đầu tiên.

Nhóm II, gồm 99 đơn vị bài thơ được ghi tên tác giả, chiếm hơn 25%, trong đấy có những nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang Vũ, nhưng chúng tôi không xếp vào nhóm trên vì chưa nhận được hai giải thưởng cao quí ấy. Dù Lưu Quang Vũ đã nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh ở lĩnh vực sân khấu, nhưng lại không phải ở lĩnh vực thơ.

Nhóm III, gồm 278 đơn vị bài thơ còn lại, không ghi rõ họ tên tác giả, tác phẩm, chiếm hơn 71,5%.

Thơ tình trên Facebook có hai loại. Một là chính tác giả của những bài thơ ấy tự đưa lên trang cá nhân của mình trên Facebook. Hai là do những người yêu thích thơ của một ai đó đưa lên trang cá nhân của mình, nhất là đối với những nhà thơ quá cố hoặc những người không sử dụng Internet. Có những bài thơ dù không ghi tên tác giả, cũng không ghi tên tác phẩm nhưng nhiều người vẫn biết tên bài thơ ấy là gì và của ai. Chẳng hạn như bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và bài Tổ quốc gọi tên của nhà thơ Phan Quế Mai, nhưng trên Facebook, không ghi tên bài thơ cũng như tên tác giả và chỉ trích một đoạn, hoặc một vài câu, không đưa cả bài lên.

Ở đây cũng cần làm rõ hai điều, thứ nhất là khái niệm, thuật ngữ hay cụm từ đơn vị bài thơ, bởi lẽ, ngoài các bài thơ có ghi tên tác giả, tác phẩm ở nhóm I và nhóm II, còn lại đa phần không ghi, nên rất khó xác định đó là bài thơ, mà có khi chỉ là một ý thơ hay một chút mặc khải về thơ, nên chúng tôi tạm gọi là đơn vị bài thơ, chứ không thể gọi là bài thơ như cách hiểu truyền thống của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học hay phần đông công chúng.

Thứ hai, sở dĩ phải giới hạn tính đến  18h, ngày 10/1/2015, vì sự thay đổi liên tục của quá trình update (cập nhật) trong không gian mạng xảy ra với tốc độ rất lớn, nên không thể nói một con số nào đấy có thể đại diện cho mọi thước đo thời gian. Chẳng hạn như đến 18h, ngày 10/1/2015 trên Facebook có 389 đơn vị bài thơ tình hay, nhưng chỉ cần sau đấy một tiếng, thậm chí là vài phút con số này hoàn toàn có thể biến đổi theo cả hai chiều tăng và giảm đi đáng kể.

Cũng cần nói thêm rằng, tên tác giả của 99 đơn vị bài thơ, có tên thật và có tên là bút danh, thậm chí có tên ghi như một sự đùa cợt, rất khó xác định. Chẳng hạn những cái tên như: Cua Nguy Hiểm, Aki Kokoro, Cỏ Thơm, Kè, Nâu Nóng. Có tên tác giả viết tắt như TTKH, đôi khi có bài thơ ghi danh tác giả bằng các nickname giao dịch trên mạng như: Admin, Admin nam, Nguoiduynhat83…

Với 389 đơn vị bài thơ hay có trên Facebook tương ứng với khoảng 44.381 từ và 180 trang, khổ giấy A4. Nếu đem in theo cách trình bày thông thường của sách thơ, mỗi bài một trang in thì chúng ta có được một tập sách dày khoảng gần 500 trang, với duy nhất một chủ đề là thơ tình. 

 

Gạn đục, khơi trong

Đã nói đến thơ tình, tức là nói về một loại hình văn chương mà hầu hết ở đó người ta dùng làm phương tiện để tự bày tỏ tình cảm của mình trước thiên nhiên cây cỏ, muông thú, hay trước những người ít nhiều có quan hệ tình cảm như bố mẹ, gia đình, con cái, bạn thân, người yêu và cũng có thể là một cộng đồng rộng lớn hơn như làng xóm, quê hương, dân tộc… của người thơ.

Đương nhiên cũng phải thừa nhận một điều rằng nồi lẩu thập cẩm, được gọi là thơ hay trên facebook có không ít thức độn, thậm chí cả rác rưởi khiến những thực khách khó tính ít khi quan tâm đến. Nhưng nếu ai chịu khó tìm trong cái nồi lẩu thập cẩm thơ ấy, ít nhiều cũng sẽ tìm được cho mình một vài món khả dĩ làm ấm lòng khi trống vắng, như là tiếng nói tri âm của những người chưa từng gặp mặt, biết tên.

Hầu hết những bài thơ thuộc nhóm I đều là những bài thơ khá hay. Riêng bài Những bóng người trên sân ga của nhà thơ Nguyễn Bính và bài Thơ viết ở biển của nhà thơ Hữu Thỉnh là những bài thơ rất hay, mà phần lớn những người yêu thơ không ít hơn một lần đã đọc và có nhiều người thuộc. Những vần thơ như xé ruột, cắt lòng, ai hầu dễ quên mau, vì những giấy phút xuất thần của thi sĩ đã làm cho câu thơ đạt đến mức tinh diệu, trước cảnh biệt ly, ly biệt, mà chính nhà thơ Nguyễn Bính đã từng trải nghiệm nhiều lần nơi sân ga, bến tàu: …Có lần tôi thấy một bà già/ Đưa tiễn con đi một chốn xa/ Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng/ Lưng còng đổ bóng xuống sân ga. Có lần tôi thấy một người đi/ Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì/ Chân bước hững hờ theo bóng lẻ/ Một mình làm cả cuộc phân ly

Còn với nhà thơ Hữu Thỉnh lại thấy sóng  biển, mây trời, ánh trăng, cánh buồm, vách núi… tất cả đều là vô nghĩa nếu như không đưa em đến bên anh, khi mà trong anh tình em đã chật ních một niềm yêu: Anh xa em/ Trăng cũng lẻ/ Mặt trời cũng lẻ/ Biển vẫn cậy mình dài rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn/ Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn/ Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím/ Sóng chẳng đi đến đâu/ Nếu không đưa em đến/ Dù sóng đã làm anh/ Nghiêng ngả/ Vì em...

Thơ thuộc nhóm II có những bài đọc nghe đến nao lòng khi nghĩ về những thân phận côi cút, lẻ loi. Đấy chính là những đứa trẻ ăn xin, người phụ nữ trong tình duyên trái ngang, những mối tình trắc ẩn. Các nhà thơ thuộc thế hệ chống Pháp như Thâm Tâm đã có những vần thơ chan chứa tình người. Chỉ đưa người đến bến đò tình ái, mà sao sóng cứ trào dâng trong lòng và hoàng hôn ùa vào tận trong đáy mắt cả người đi lẫn người ở lại: Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng?/ Bóng chiều không thắm không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? (Thâm Tâm- Tống biệt hành).

Còn đây lại là một cảnh huống trớ trêu khác, mà người thơ như đang với hụt bóng mây chiều quen với phiêu du. Nhưng dường như điều ấy lại là một phần tất yếu không thể thiếu được đối với các cuộc tình của thi nhân, dù chỉ là trong mộng ảo: Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!/ Tôi sẽ trách - cố nhiên! - nhưng rất nhẹ/ Nếu trót đi, em hãy gắng quay về/ Tình mất vui khi đã vẹn câu thề/ Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở/ Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ/ Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa... (Hồ Dzếnh- Ngập ngừng). Nên nhớ rằng hai câu thơ: Tình mất vui khi đã vẹn câu thề/ Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở/ đã là đề từ cho tập sách Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc xuất bản vào nửa cuối những năm 50- đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi đất nước cách chia hai miền Nam- Bắc. Chỉ khác là đổi câu thơ sau lên trước và câu thơ trước xuống sau và thay đổi chút ít: Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/ Đời chỉ vui khi giữ vẹn lời thề.

Thương cảm với những số phận éo le, nhưng nhà thơ thì nghèo rớt mồng tơi biết làm sao đây. Đấy là một thực tế nhãn tiền không cần bàn cãi. Nhưng chỉ có nhà thơ Nguyễn Duy mới lột tả hết được thực tế ấy bằng những câu thơ thật sự đắng đót và chua chát biết nhường nào: Chữ nghĩa tôi không sàng thành gạo/ Trong túi chỉ còn lạo xạo dăm bài thơ/ Như đứa con bất hiếu tôi quay đi/ Xin nhận lấy tròn đen hai con mắt/ Hai con mắt trẻ thơ thành hai con ong đất/ Đào thịt chui vào ngực tôi/ Hai con ong tôi xin tự nguyện nuôi/ Để cho mũi nọc ong độc địa/ Xâm lên vách tim tôi một dòng mai mỉa. (Nguyễn Duy- Thơ tặng lão ăn mày).

Với sự nhạy cảm của tâm hồn phụ nữ, nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn đã vẽ nên tâm trạng giằng xé khi biết mình đã bị bội tình, nhưng vẫn cố níu kéo lấy một chút gì đấy để mà sống tiếp những ngày còn lại, dù đấy chỉ là một cái nháy mắt chào vui của người chồng cũ: Rồi có thể đắng cay và đơn độc/ Sao hôm nay tôi vẫn thấy yêu đời/ Mỗi ngày sống có bao điều đẹp quá/ Khi chiều về anh nháy mắt chào vui. (Phan Thị Thanh Nhàn- Rồi có thể)

Mùa thu có thể đi cùng lá, nước trôi xuôi theo dòng, con đường quen bỗng hóa lạ mà sao vẫn còn đây một mối tình xưa cũ như ngày ấy, đù đất trời có thể đổi thay, dù cuộc đời sẽ có bao tình yêu mới, nhưng tình yêu của  anh và em thì suốt đời vẫn vẹn nguyên. Đấy là một tâm trạng, một lối sống tích cực, khiến nữ sĩ Xuân Quỳnh đã thăng hoa xuất thần viết nên những câu thơ tha thiết tình người, nghĩa đời đến như vậy: …Thời gian như là gió/ Mùa đi cùng tháng năm/ Tuổi theo mùa đi mãi/ Chỉ còn anh và em/…/ Chỉ còn anh và em/ Cùng tình yêu ở lại.../ Kìa bao người yêu mới/ Đi qua cùng heo may. (Xuân Quỳnh- Thơ tình cuối mùa thu)

Gần 100 bài thơ thuộc nhóm II, có ghi tên tác giả, nhưng hầu hết chỉ ở mức trên trung bình. Ngay cả hai bài thơ của hai nhà thơ có tên tuổi là Nguyễn Khoa Điềm và Lưu Quang Vũ được đưa lên Facebook cũng không phải là những bài thơ hay và tiêu biểu của hai tác giả này. Theo tôi chỉ có bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử là bài thơ hay đạt đến mức cổ điển. Bài thơ chỉ có 12 câu, nhưng đã nói lên được nỗi niềm của người thơ si tình trước một cô thôn nữ. Quả là một bức tranh thôn dã, sơn thủy hữu tình như mời gọi tao nhân mặc khách ghé thăm, mà nếu không có tài thơ của thi nhân họ Hàn khó có thể mà vẽ nên được: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền/…/ Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…/ Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?/…/ Mơ khách đường xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà? 

Đối với những đơn vị bài thơ thuộc nhóm III, việc đãi cát tìm vàng thực sự cũng không mấy khó khăn. Bởi lẽ các đơn vị bài thơ đưa lên Facebook đều thuộc mức trên trung bình, thậm chí có nhiều đơn vị bài thơ khá hay. Chẳng hạn như hai đơn vị bài thơ dưới đây là thuộc diện ấy: 1) Lâu lắm rồi/ Em không làm thơ nữa/ Những lời chan chứa cũng chẳng dành cho anh/ Mùa thu vàng quẩn quanh/ Trong từng con ngõ nhỏ/ Em thôi bỏ ngỏ/ Cốc cafe dở dang/ Ngày vội vàng/ Trêu những con gió hoang/ Cỏ xơ xác cả một miền nhung nhớ/ Này anh, quên khép hờ cánh cửa/ Nên nỗi nhớ chẳng biết điểm neo, dừng... Không làm thơ vì đã không còn yêu anh nữa, nhưng nỗi nhớ về anh thì vẫn còn đầy, vì anh quên khép hờ cảnh cửa, để nỗi nhớ của em cứ thế lại ùa vào.

Và 2) Em tôi đang tuổi má hồng/ Ngày mai áo gấm sang sông mất rồi!/ Ðồng làng vắng bóng em tôi/ Tiếc thì con gái lúa thôi trổ đòng/ Sen buồn chẳng muốn đơm bông/ Tôi buồn tiếc chuyện tơ hồng éo le...Mối tình éo le ấy của chàng trai và cô gái trong đơn vị bài thơ phảng phát dư vị của bài Lá Diêu bông của cố thi sĩ đa tình Hoàng Cầm. Em lên xe hoa đến nỗi sen buồn không đơm bông, lúa tiếc thì con gái không muốn trổ đòng. Có thể nói đây là một trong số những đơn vị bài thơ tình hay nhất trên Facebook, mà tôi đã đọc.

 

Tạm kết

Qua khảo sát nhỏ này chúng tôi dễ dàng nhận ra một điều rằng, thơ vẫn luôn là món ăn tinh thần của nhiều người Việt Nam ta, bất luận đấy là thơ chống Pháp, thơ chống Mỹ hay thơ đương đại, thậm chí chỉ là những cụm từ ghép không cố định được nối lại với nhau khi ngắn, khi dài, tạm gọi là đơn vị bài thơ.

Thơ tình trên Facebook phần lớn được viết theo các thể thơ truyền thống, ít nhiều có cách tân, phù hợp với tâm trạng của chủ thể sáng tạo. Số những đơn vị bài thơ từ trên mức trung bình đến hay chiếm đa số, áp đảo. Số đơn vị bài thơ dưới mức trung bình không quá nhiều. Như vậy đối với những người khó tính cũng không đến nỗi quá thất vọng về chất lượng của mảng thơ này. Tuy nhiên số lượng đơn vị bài thơ không được ghi danh cả về tên bài cũng như tên tác giả lại chiếm tới gần 2/3 tổng số đơn vị bài thơ mà chúng tôi khảo sát, nên việc tin dùng chúng làm tư liệu trích dẫn trong các bàn luận thi ca là điều bất khả dụng, nhưng xem nó như một kênh để thưởng thức cái hay, cái đẹp, những cung bậc cảm xúc khác nhau của con người là hoàn toàn có thể chấp nhận được./.

Viên An

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác