Thơ đương đại và Thơ mới: những tương đồng loại hình


(Toquoc)- Nếu thời Thơ mới, Việt Nam tiếp xúc với phương Tây như một hình thức giao lưu với thế giới - một cuộc toàn cầu hóa hiệp I, thì sau đổi mới, là tham gia vào cuộc “toàn cầu hóa hiệp II” (Thomas L. Friedman). Chiến tranh kết thúc (1975), đất nước tiến hành đổi mới (1986) với những đường hướng chiến lược quan trọng, tạo nên hành lang rộng thoáng hơn cho sự phát triển. Trên thế giới lúc này cũng có những chuyển động lớn lao với sự kiện bức tường Berlin sụp đổ (1989), sự ra đời của máy tính, hệ điều hành Windows, internet và các phần mềm xử lý công việc, tương tác khác… đã thúc đẩy quá trình làm phẳng thế giới mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thơ đương đại và Thơ mới, trước hết, đã sinh thành trong quyển văn hóa có tính tương đồng loại hình.

Được kiến tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa, con người đương đại cũng trải qua cơ chế giống con người cá nhân tư sản thời cận hiện đại. Sự tiếp xúc với phương Tây hậu kỳ phong kiến đã đưa con người cá thể lên vị trí trung tâm của đời sống văn hóa, xã hội. Sau đổi mới, con người cá thể tiếp tục ý thức về mình để hoàn thiện tư cách bản thể. Chủ thể của thơ đương đại là con người cá nhân bản thể. Sự biểu hiện trong thơ sẽ có nhiều điểm khác nhau, tuy nhiên, điều đáng nhấn mạnh chính là cơ chế hình thành chủ thể sáng tạo, tiếp nhận thơ và các giá trị thẩm mỹ trong môi trường mở của toàn cầu hóa. Sự tương đồng loại hình ở đây là cơ chế hình thành kiểu thi sĩ, kiểu sáng tác, kiểu tư duy thơ… gắn với hai cuộc hội nhập thế giới. Chủ thể sáng tạo của Thơ mới là con người cá nhân tư sản, chủ thể của thơ đương đại là con người bản thể. Như những vòng sóng xoáy sâu vào hiện hữu, đó là những quá trình có tính tương đồng, quy luật trong việc biểu tỏ đời sống, nội cảm của con người toàn nguyên. Không thể không suy tưởng rằng, càng hội nhập, ý thức cá nhân, bản thể lại càng riết róng.

Quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và các hệ giá trị làm nên đời sống của con người là những yếu tố có tính chất nền tảng tạo nên “dưỡng chất” của nghệ thuật. Đối với thơ, cơ chất nền tảng này biểu lộ trong dạng thái nhuần nhuyễn là: quan niệm về chất thơ. Quan niệm về chất thơ là biểu hiện mang tính tinh lọc, kết tụ của cảm quan về thế giới, về con người và cái đẹp. Đó lại cũng vẫn là câu chuyện của những hệ giá trị không bao giờ ổn định. Giá trị luôn thay đổi bởi xã hội loài người luôn vận động. Chất thơ chính là chất sống, độ sống trong cảm niệm thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo. Khi những cảm quan về giá trị này thay đổi sâu sắc khi ấy các loại hình thơ mới vận động và biến đổi. Trong bối cảnh đương đại, người ta nhận ra những thay đổi thực sự quan trọng trong quan niệm của các nhà thơ về chất thơ. Chất thơ trong cuộc sống hôm nay là con người mới, xã hội mới, những dự cảm mới về tương lai, thân phận. Thơ ca và các loại hình nghệ thuật khác đã đi đến từng ngõ ngách của cuộc sống đương đại, khám phá những vỉa tầng khuất lấp của cuộc sống con người, đánh thức những miền sâu thẳm của kí ức, của vô thức, tiềm thức, tâm linh. Thơ phát huy thế mạnh của mình trong việc thể hiện đời sống nội tâm, chủ quan của con người cá nhân cá thể. Chủ thể thơ ca đã tìm lại bản tính của mình từng bị khuất lấp trong lửa đạn của chiến tranh. Trong sự vận động đó, có thể nhận ra những điểm tương đồng của thơ hiện nay và Thơ mới. Cái đẹp, giá trị của cuộc sống hôm nay vào thơ đã khác với thơ ca thời chiến nhưng lại gần gũi, tương đồng với Thơ mới. Cách thời điểm đổi mới (1986) khoảng bốn mươi lăm năm (1941), Hoài Thanh đã nói “tình chúng ta đã đổi mới” nên thơ cũng cần đổi mới. Sau đổi mới (1986) cái tình, cái ý, cái vui buồn sướng khổ, hạnh phúc đớn đau của con người đã khác (đúng hơn là đã tìm về với vương quốc của cái tôi thời Thơ mới). Họ quan niệm khác về những giá trị, mà trong đó, giá trị người, giá trị nhân văn, nhân bản là tối cao. Sự trần tình những diễn biến tâm lý phức tạp của con người đương đại là mảnh đất hoạt năng của thơ. Đọc thơ của các tác giả sau đổi mới (Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, Dương Tường, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hữu Hồng Minh và sau nữa như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Văn Cầm Hải, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Vĩnh Tiến, Đỗ Doãn Phương…) có thể nhận ra những biểu hiện của sự thay đổi quan niệm về chất thơ này:

Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ

Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ

Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ

Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn

(Nguyễn Trọng Tạo, Tản mạn thời tôi sống - 1981)

Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi

Chúng mình sẽ thành chồng vợ

Nếu không có một lần

Một lần như đêm nay

Sau phút giây

Êm đềm trên ghế đá

Anh không cài lại khuy áo ngực cho em

(Dư Thị Hoàn, Tan vỡ - 1988)

Quan niệm về chất thơ rõ ràng đã được mở rộng hơn rất nhiều từ sau đổi mới. Chất thơ không chỉ bắt nguồn từ cuộc sống và tâm hồn con người mà còn bắt nguồn từ chính bản thân thơ: thơ là trò chơi của cấu trúc, ngôn ngữ thơ không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích (Bóng chữ - Lê Đạt, Ngựa biển, Người đi tìm mặt - Hoàng Hưng, Đàn - Dương Tường, Ô mai - Đặng Đình Hưng…). Quan niệm mới về chất thơ là lõi cốt để xác lập một vị thế mới của nhà thơ trong bối cảnh đương đại. Nhà thơ không còn phải mang trên vai sứ mệnh của “người chiến sĩ” trên mặt trận văn hóa nữa. Họ là một cá nhân sống giữa muôn người - con người hôm nay, đúng như Nguyễn Minh Châu đã nói, có đầy đủ cả thiên thần và ác quỷ, rồng phượng lẫn rắn rết, ánh sáng và bóng tối… Tâm thế nhìn thẳng vào sự thật, đã tạo nên những diễn biến có tính chất bước ngoặt cho thơ khi ở đó, con người bản thể hiện rõ những ham muốn của mình. Đó không chỉ là ý thức mà còn là vô thức, tiềm thức, không chỉ là cộng đồng, đoàn thể mà là cá thể, bản thể, không chỉ đạo đức xã hội mà còn là bản năng tự nhiên, không chỉ là trách nhiệm, phận sự mà còn là nhu cầu… Giải thiêng là nét đáng lưu ý khi bàn về chất thơ mới hôm nay. Giải thiêng luôn đi kèm với nó là sự biểu hiện của thế tục. Thơ mới giải cấu trúc truyền thống, giải trung tâm Trung Hoa, thích ứng với phương Tây thì thơ đương đại giải cấu trúc các loại hình thơ tiền nhiệm, giải trung tâm giá trị đoàn thể, thích ứng toàn cầu hóa. Đó là sự tương đồng loại hình trong cơ chế vận động của hai hình thái thơ trong tiến trình thơ Việt hiện đại.

Đi cùng với những thay đổi trong quan niệm về chất thơ là cách thức kiến tạo hình ảnh, hình tượng và biểu tượng thơ đã khác trước. Nét đổi mới này diễn ra là hệ quả tất yếu của kiểu tư duy thơ đương đại. Cũng vẫn là những thao tác liên tưởng, tưởng tượng, suy tưởng, các biện pháp nghệ thuật vốn có trong tư duy thiết tạo hình ảnh như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, chơi chữ, điệp, hoán dụ… nhưng quan niệm mới về chất thơ đã làm cho hình ảnh, hình tượng, biểu tượng trong thơ hiện lên như là những: trò chơi, sự thiếu vắng, ngẫu nhiên, hỗn loạn, thậm chí đó chỉ còn là những “biệt ngữ cá nhân”, là cái biểu đạt, là “sự khác biệt” hay một “dấu vết” của “bản sắc nhân vị” trong bối cảnh sống mới. Chính quan niệm mới về chất thơ trong cảnh sống mới đã làm cho tưởng tượng, liên tưởng, suy tưởng đổi khác. Những xung lực của trí não và mỹ cảm hướng con người đến những chân trời khác của sự thụ cảm và trình hiện thẩm mỹ dựa trên một hệ giá trị đã khác so với thời chiến tranh và cả thời tiền đổi mới (1975 - 1985). Thưa vắng dần những xúc cảm ngợi ca, những hình tượng hoành tráng, những không gian mênh mông từ hậu phương ra tiền tuyến… thơ lui về đúng với địa hạt của mình là cái tôi thẳm sâu, đầy phức tạp. Hình ảnh người anh hùng, những tấm gương điển hình trong thơ ca giai đoạn trước giờ được thay bằng cái tôi bản thể, một cái tôi đang trở về sau những tháng năm dài đi xa khỏi căn nhà của “hữu thể”. Trở về, soi nghiệm, nhận ra mình rõ hơn, đầy đủ hơn là một cá tính, một nhân xưng, một hiện hữu đầy mãnh liệt, một bản vị khát khao toàn nguyên… là phẩm chất có thể tìm thấy trong hầu hết thơ ca của các tác giả sau đổi mới:

Chích một giọt máu thường xét nghiệm

tí trí thức - tí thợ cày - tí điếm

tí con buôn - tí cán bộ - tí thằng hề

phật và ma mỗi thứ tí ti…

(Nguyễn Duy, Nhìn từ xa … Tổ quốc, 1988)

Sự đổi mới về tư duy thơ biểu hiện rõ trong cách thức lựa chọn và kết hợp ngôn ngữ thơ, cấu trúc cú pháp của thơ, cách tổ chức văn bản ngôn từ, những vận động, biến đổi của thể loại… Thêm một lần nữa ta thấy những vận động nội tại của đời sống Thơ mới lại trở về. Vấn đề cách tân thể loại cả về “ý tưởng” và “văn thể” dường như là câu chuyện hằng ngày trong đời sống thơ ca đương đại. Thơ đương đại hướng đến những giới hạn rộng xa hơn của mỹ cảm, lần ra những nẻo lối mờ khuất của cá nhân cá thể, hướng đến những vùng tâm linh, vô thức và tiềm thức, những phức cảm nghịch dị, những phản trái đầy nhân bản, những sở cầu thế tục mà đẫm chất người… Thơ là sự tự biểu hiện tiếng nói nội cảm, mỹ học cá nhân hướng tới sự tự do của con người nên đã tự phá vỡ những lớp vỏ chật chội, những địa tầng kìm giữ để phun trào nguồn sống mới của nhân sinh. Những quan niệm nhà thơ là người làm chữ, “phu chữ” (Lê Đạt), đồng nhất thơ vào chữ (Trần Dần), “Thơ ngoài lời” (Dương Tường) là một biểu hiện của sự đổi mới (không hẳn là sau 1986 mới xuất hiện, mà đã manh nha, đã được hình thành từ trước đó nhưng chưa có dịp phát triển). Từ Mùa sạch (Trần Dần) đến Bóng chữ, Ngó lời (Lê Đạt), Đàn (Dương Tường), Ô mai, Bến lạ (Đặng Đình Hưng), Ngựa biển, Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng), Sự mất ngủ của lửa, Những người đàn bà gánh nước sông, Nhịp điệu châu thổ mới, Bài ca những con chim đêm (Nguyễn Quang Thiều), thơ lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn (đã có những cách tân trong cảm thức nghệ thuật, trong tư duy thơ, thoát ra khỏi từ trường điển phạm của lục bát truyền thống), Gửi người không quen, Thư trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống (Nguyễn Trọng Tạo), (Xa thân, Lam chướng, Buổi câu hờ hững) Nguyễn Bình Phương, Khát, Linh, Đồng tử, Vili in love, Phim đôi - tình tự chậm, Vili & Paris (Vi Thùy Linh), Nằm nghiêng, Rỗng ngực (Phan Huyền Thư), Người đi chăn sóng biển (Văn Cầm Hải), và đột nhiên gió thổi, Hôm sau, Bầu trời không mái che (Mai Văn Phấn), Bé tập tô, Mỗi quốc gia một thành phố của thế giới, Hở, Mật thư (Nguyễn Thế Hoàng Linh), Lô Lô (Ly Hoàng Ly), Gửi VB (Phan Thị Vàng Anh), Ma thuật ngón (Trần Tuấn), Siêu thị mặt (Trần Quang Quý), Đêm và những khúc rời của Vũ (Lê Vĩnh Tài), Những chiếc gai trong mơ (Nguyễn Bảo Chân), Những kỷ niệm tưởng tượng (Trương Đăng Dung), Những ngôi sao hình quang gánh (Nguyễn Phan Quế Mai)… Ngoài ra còn phải nhắc đến thơ của nhóm Mở miệng, Ngựa trời, Tân hình thức, thơ Việt Nam tại hải ngoại… Đó là những mảnh ghép, những ô màu làm nên bức tranh, diện mạo của thơ Việt Nam đương đại:

Cuối kỷ XX

bồng bềnh cò vỡ tổ tha hương

biển độ

Có phải quê tượng thần loang lổ

chữ cũ dối lừa

trăng xưa tình phụ

Sóng bạc địa cầu

XXI bờ đâu

(Lê Đạt, Ngó lời)

Tựa như Thơ mới, tính phong phú, đa dạng của cá tính, các tác giả, tác phẩm, thành tựu của thơ đương đại nảy sinh trên tinh thần tự do của cái tôi bản thể. Điều đó là động năng quan trọng quyết định đến sự sinh thành cũng như tính chất, diện mạo và thành tựu của một hình thái văn học. Thơ mới và thơ đương đại có điểm tương đồng trong tinh thần nhân văn, nghệ thuật chân chính ấy.

Thơ Việt Nam đương đại đã đi được một chặng đường gần bốn mươi năm (với mốc đánh dấu từ sau 1975). Như những con sóng gối nhau, như những chân trời liên tiếp được vén mở và vẫy gọi, thơ ca Việt Nam đương đại đã có những thành tựu đáng để luận bàn và suy ngẫm. Trong những công trình, bài viết như: Tổng quan về thơ Việt Nam 1975 - 2000, Thơ Việt Nam thời kì đổi mới 1986 - 2000 (Mã Giang Lân), Thơ Việt Nam sau 1975 - Diện mạo và khuynh hướng phát triển, Thơ Việt Nam sau 1975 - Từ cái nhìn toàn cảnh, Những chuyển động của thơ Việt đương đại, Hành trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại (Nguyễn Đăng Điệp), Phê bình thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay (Phan Huy Dũng), Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ Việt Nam đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Thơ 1975 - 1995, sự biến đổi của thể loại (Vũ Văn Sỹ), Nhận diện thơ qua hệ thống thể tài (Bích Thu), Sự thức tỉnh những nhu cầu xã hội và cá nhân của cái tôi trữ tình trong thơ hiện nay (Lê Lưu Oanh), Thơ mới và thơ hôm nay (Hoàng Hưng)… nhiều vấn đề của thơ Việt Nam sau 1975 và nhất là sau đổi mới 1986 đã được nêu ra. Trong đó tập trung nhất là những ý kiến về sự đổi mới tư duy thơ trên các lĩnh vực đề tài, chủ đề, thể loại, khuynh hướng sáng tác, vấn đề cái tôi trữ tình trong thơ sau đổi mới, những thực hành mang tính “sáng tân” trong hình thức nghệ thuật… Có nhiều tác phẩm ở dạng thể nghiệm, nhưng cũng đã có những kết tinh thực sự. Tuy nhiên, thành tựu lớn nhất của thơ đương đại Việt Nam, nhất là từ sau đổi mới chính là sự trở về của phẩm tính thể loại. Thơ được đặt đúng vào vị trí của nó, là tiếng nói của cái tôi nội cảm, là sự độc thoại (cả đối thoại) của cái tôi “bản thể” về mỹ học của cá nhân trong môi trường dân chủ hóa. Tựa như đời sống của Thơ mới hồi vừa xuất hiện, thơ đương đại cũng phải chấp nhận cơ chế đấu tranh để sinh tồn. Cơ chế đó chính là quá trình đối thoại để khẳng định tư cách loại hình thơ đặc thù của thời đại. Các công trình, bài viết bàn về thơ đương đại với cái được và chưa được, cái hay và dở của cách tân nghệ thuật lại gợi về không khí tranh luận Mới - Cũ thời Thơ mới[1]. Những ý kiến phản bác, phủ định thơ đương đại cùng song hành với những lời tuyên dương, những đặt định, cổ vũ, khẳng định giá trị, thành tựu của thơ đương đại. Không khí của thời Thơ mới đã thấy trở về trong sinh quyển của thơ ca hôm nay.

Thơ mới 1932 - 1945 là sản phẩm trực tiếp của quá trình tích hợp của các giá trị phương Đông và phương Tây lâu dài, bền bỉ trong lòng xã hội Việt Nam. Thơ đương đại là sản phẩm của quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa. Đây là hai thời đại hội nhập và giao lưu quốc tế khá rộng rãi. Sự tương đồng trong cơ chế sinh thành nói lên những liên hệ loại hình của hai thời đại thi ca này. Trong cái nhìn có tính liên tục của sự phát triển, Thơ mới thực đã không bị ngắt dòng từ sau 1945. Nó có thể biểu hiện những đặc tính của mình trong thơ ca cách mạng, cũng có thể phiêu dạt đến những miền đất khác, hoặc trầm mình thành những mạch ngầm âm ỉ len lỏi bên cạnh dòng chủ lưu của thơ ca cách mạng 1945 - 1975. Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ có thể nói đến tính “trùng lặp tương đối hằng định” từ “lịch sử - sinh thành học” mà chưa thể có những kết luận khả hữu về tương đồng giá trị của thơ đương đại và Thơ mới, cũng như những khác biệt mà nó tạo ra. Trong sự vận động của lịch sử xã hội, văn hóa, lịch sử văn học, đồ thị của thơ ca Việt Nam (cũng như các loại hình văn học, nghệ thuật khác) đang hướng về vô cực, trên đó đánh dấu vô số những trị nghiệm (tiêu chí loại hình) để chúng ta có thể khảo sát. Trong từng hệ quy chiếu nhất định, chúng ta lại thấy đồ thị biến thiên theo những hình thái khác nhau. Đó chính là một cách diễn đạt mềm dẻo về loại hình học trong sự liên tưởng đầy lý thú./.

Nguyễn Thanh Tâm



[1] Về những cuộc tranh luận này có thể xem trên Website: http://maivanphan.vn. Với trường hợp Vi Thùy Linh, xin xem tiểu luận của chúng tôi: “Vi Thùy Linh - giữa những quyền lực của lời”, http://vienvanhoc.vass.gov.vn.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác