Thấy thương “Ngõ phố”, thấy thương “Người đời”

Mai Linh

(Nhân đọc “Ngõ phố người đời” của Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính)

Trên giá sách nhà tôi có một cuốn sách cũ, bìa đã hoen ố, in bằng thứ giấy dầy, xốp từ thời Tây, cuốn sách quý có tiêu đề “Hà Nội ba sáu phố phường” xuất bản từ năm 1943, tức là sau khi nhà văn Thạch Lam mất được tròn năm. Cuốn sách vừa là tri thức Hà Nội cũ, vừa như kỷ niệm của tôi với Hà Nội từ buổi thiếu thời. Ông tôi vốn là chủ một hiệu sách lớn mang tên “Thái Lai thư Quán”. Khi ông qua đời, trong mớ sách cũ còn lại, có cả “Hà Nội ba sáu phố phường” được coi như “di sản văn hoá” quý  giá của gia tộc.

Thấy thương “Ngõ phố”, thấy thương “Người đời” - ảnh 1

Phố cổ Hà Nội trong tranh của Bùi Xuân Phái

Bây giờ tôi lại có trong tay “Ngõ phố người đời” mà tôi tự liệt nó vào chiêm nghiệm thể loại (chứ không phải bút ký, tuỳ bút hay tản văn…) của Hoàng Đạo Kính. Cuốn sách dày 168 trang, đề tài mở hơn, phạm vi địa lý cũng rộng hơn, bàn cũng lắm việc hơn (không chỉ bàn chuyện Hà Nội mà bàn từ chuyện làng quê ra chuyện ngõ phố, bàn từ cái mộc mạc kiến trúc quê mùa đến một Hà Nội nghìn năm văn hiến, bàn từ cây xanh Hà Nội đến diễm lệ hoa và kiến trúc Pháp ở Đà Lạt…). Tất cả đều nhìn qua khoảng trời kiến trúc, khoảng trời của một bộ môn không hẳn khoa học tự nhiên, chưa chắc đã toàn phần nghệ thuật mà còn là xã hội, là nhân tình thế thái và nói to tát lên là một phần rất quan trọng của quốc kế dân sinh trước một đất nước đang phát triển, mãnh liệt hơn là “tìm mọi cách” phát triển.

 

        Thấy thương “Ngõ phố”, thấy thương “Người đời” - ảnh 2                     

                    Trường cao đẳng Sư phạm Đà Lạt - 
một công trình kiến trúc cổ còn được gìn giữ tại thành phố Đà Lạt .

*

*           *

Tôi biết Hoàng Đạo Kính đã lâu, từ thời anh đương chức, còn trẻ. Một cặp kính đen, to treo trên gương mặt khá ấn tượng, cái họ, cái lót, cái tên nghe chẳng “phổ thông” chút nào, một kiến thức lịch lãm của con dòng cháu giống, một mực thước của tư duy kiến trúc văn hoá và một lối nhẩn nha rất “thần sầu”. Trước khi biết đến “Ngõ phố” nhà ông, tôi đã nhìn “đời người” Hoàng Đạo Kính trong cái dòng chảy của “người đời” như thế.

 

         Thấy thương “Ngõ phố”, thấy thương “Người đời” - ảnh 3

 

Và mãi đến giờ tôi mới gặp Hoàng Đạo Kính hoàn chỉnh trong Văn: ngay ngắn, hồn vía, điềm tĩnh, sắc sảo, sang trọng và “kinh kỳ”.

Hoàng Đạo Kính đã thổi dạt tri thức kiến trúc vào văn chương một cách rất hồn nhiên và ngộ năng:

1. Liên hệ giữa thực đơn ẩm thực với thực đơn kiến trúc thế này thì ắt là văn: “…Thời nay hễ đãi khách, ta thường huy động lên mâm con vật bay, con vật đi lẫn con vật bơi… Với kiến trúc cũng vậy, thực đơn thật dồi dào: các chất liệu, các màu sắc, các kỹ thuật, các kiểu cách…”.

2. Tả hình con rồng trong không gian kiến trúc đình Tây Đằng thế này thì rùng rùng, rờn rợn cảm xúc: “…Thân rồng gầy rộc, con ngươi mắt vượt ra ngoài quỹ đạo, miệng há rộng mà không phát thành âm. Nó nhìn ta, xói vào cõi lòng ta, thổi lùa vào lòng ta cái khí lạnh tê tái từ những thời xa xăm…”.

3. Thương về một Hà Nội nề nếp đã tàn phai theo định đoạt của quy chuẩn không gian kiến trúc mà thương bằng những chữ này là nỗi lòng thi sỹ: “…Có một đô thị mà vẻ đẹp kiến trúc không được tạo nên bởi những quần thể. Đường phố chưa thành đại lộ. Những khoảng không chưa khép thành những quảng trường. Có một đô thị mà cả sự kỳ vĩ lẫn tráng lệ đều vắng bóng. Đó là Hà Nội…”

*

*           *

Trong cả cuốn sách nhẹ tênh trọng lượng với bốn phần “Cái đẹp mộc”; “Ngõ phố người đời”; “Quá khứ thì hiện tại”; “Đôi lời” là cả những khó nhọc suy tư của Hoàng Đạo Kính trước “vận mệnh” kiến trúc nước nhà. Trong những trang viết buồn và nhân ái, Hoàng Đạo Kính như hiện thân của chính kiến bằng da thịt trước ngã ba đường: hưng phế với rêu phong, thờ ơ và huỷ hoại, xa hoa và trọc phú của kiến trúc. Ông đâu phải người đủ sức leo lên chiếc bục chỉ đường để dẫn lối cho mạch lạc giao lộ. Ông chỉ có một lương tâm văn hoá trong kiến trúc đã là đủ. Ông may mắn không trở thành một Don Quixote đã là may mắn lắm rồi.

Thấy thương “Ngõ phố”, thấy thương “Người đời” - ảnh 4

Làng cổ đường Lâm (Ảnh: Flickr)

Bởi vì chúng ta đang phát triển. Phát triển là đi về phía trước mà bảo tồn lại là sự thành khẩn với lịch sử, với quá khứ. Vấn đề Hoàng Đạo Kính muốn đề cập là phát triển cũng đòi hỏi nhân cách của thể chế mà bảo tồn lại càng cần đến nó.

Bởi vì vấn đề toàn cầu hoá và đồng hoá là vấn đề của dân tộc trước nhân loại. Có người nói đùa đó là vấn đề của con cò trước đại dương. Chúng ta sống trong lòng nhân loại, dưới mái nhà và kiến trúc theo nghĩa rộng của nhân loại nhưng lại không lâm vào cảnh chới với, chia lìa với bản sắc. Chính điểm này là sự giằng xé giữa đồng thuận và tranh cãi…

*

*           *

Trong “Ngõ phố người đời” có một số bài “lạc đề” so với tên sách. Nhưng tôi tin không phải thế vì tôi vẫn hiểu rằng 100% dân số nước ta là nông dân, và tôi lại càng không tin “cỡ” Hoàng Đạo Kính lại nhầm. Chúng ta vẫn từ “Cổng làng” ra đi và mãi kỳ vọng đến các “Khải hoàn môn” đô thị.

Vấn đề là Hoàng Đạo Kính cứ giữ khư khư cái cổng làng và những suy tính lôgíc kiến trúc trong ông mách bảo ba điều: 1. “Cổng làng” là ở làng và “Ngõ phố” là ở phố; 2. “Ngõ làng” và “Ngõ phố” giống nhau; 3. “Ngõ phố” Việt Nam mất “ngõ” còn “phố” với những ngôi nhà chọc trời ngông nghênh thế giới.

Trong “Ngõ phố người đời”, Hoàng Đạo Kính luôn cảnh giác trước sự rình rập của ba sự mách bảo này. Và với tâm tính của ông, sự ngay thẳng luôn nhường quyền cho lựa chọn thứ nhất. Ông luôn muốn yên bình trú ngụ ở “Cổng làng”, “Cái đường làng lát gạch, cái giếng khơi kè đá ong và cái đình to tát và một đô thị phải là “Hà Nội quen thân” “tinh lọc ra tinh tuý từ cốt cách của những người làm ruộng, những ông đồ, những người chạy chợ phố tỉnh”. Cái “Cổng làng” hay cái đô thị thân quen ấy vừa là hoài niệm của nhau, vừa là hai thực thể kiến trúc không thể chen lấn.   

Thấy thương “Ngõ phố”, thấy thương “Người đời” - ảnh 5

Firenze là thủ phủ của vùng Toscana, Ý.

Trong nghề nghiệp, Hoàng Đạo Kính quy hoạch kiến trúc bằng lôgíc của lý trí, trong văn chương chữ nghĩa, Hoàng Đạo Kính quy hoạch kiến trúc bằng tình cảm bởi ông vẫn lưu xét đến “người đời”. Hai mạch của tư duy lôgíc này đều hướng thiện về một không gian không chỉ dục vọng mà có cả lương tâm “người đời”.

Với ông, những nguy nga đồ sộ là “ngoại ô” của tâm tưởng. Khát khao giữ lại bản thể, vẻ đẹp cung kính, những hoài niệm với “người đời” đâu phải ai cũng thế.

Nhưng phải chăng đây lại là đòi hỏi quá chừng khắt khe, quá chừng trong trẻo, quá chừng tinh khiết, thậm chí ở một khía cạnh nào đó, là sự “phiền phức” đối với nhân danh phát triển.

Toàn cầu hoá và đồng hoá trong nỗ lực phát triển là những khái niệm rất dễ bị nhầm lẫn.

*

*           *

Trong nội dung “Ngõ phố người đời” Hoàng Đạo Kính ít chạm đến hai từ văn hoá - “Cái còn lại sau tất cả những gì đã mất đi cùng thời gian” như André Malreaux nói. Nhưng tôi vẫn nhìn thấy trong sương khói bảng lảng của các địa danh làng, xã, phố, cổng, ngõ, trong hoài niệm của những câu chuyện kể là những day dứt khôn nguôi về phận người. Kiếp luân hồi vẫn dạy ta về luân lý, vốn là phẩm chất cô đọng của văn hoá.

Lời cuối, nếu tôi biên tập cuốn sách này tôi sẽ bỏ đi những “kiến nghị” rải rác, gạch đầu dòng 1, 2 xoàng xĩnh ở cuối mỗi câu chuyện. Ca ngợi vẻ đẹp, vỗ về nó đã là đánh động hấp dẫn khách quan, dù đó là vẻ đẹp đến chết người của sự điêu tàn mà đôi lúc “người đời” tưởng đã lãng quên…


Hà Nội, ngày đầu Hè 2008

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác