Tập thơ Hán nôm của một tác giả người Mường mới được phát hiện

Tập thơ được viết bằng chữ Hán nôm. Nói mới phát hiện là vì thời gian viết tập thơ này từ thập kỷ thứ 10 đến thập kỷ 40 của thế kỷ trước. Tập thơ này do cụ Quách Lục Kinh (dân tộc Mường), 86 tuổi, thông thạo chữ Hán và chữ Nôm phát hiện được ở làng Song, xã Cẩm Ngọc, huyện Cẩm Thủy.

Tập thơ được viết trên giấy bản đã cũ, ố màu, nhưng chữ viết đẹp, còn rõ. Các tờ được đóng lại thành sách. Sách có chiều dài 27 cm, rộng 15 cm, dày 45 trang, gồm 52 bài thơ và phú. Thể phú có 3 bài bằng chữ Nôm; thơ có 1 bài bằng chữ Hán, còn lại là chữ Nôm. Trong số 52 bài của tập thơ, có 2 bài của tác giả khác được tác giả họa lại. Trừ  3 bài phú ở đầu tập, còn lại các bài khác đều viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật rất chỉnh.

Tác giả tập thơ là Trương Công Bích, sinh năm 1877, mất năm Nhâm Ngọ - 1942, thọ 65 tuổi. Ông còn có biệt hiệu là Hổ Phong Đình. Quê ở thôn Song, xã Song Nga, tổng Gia Dụ, huyện Cẩm Thủy, nay thuộc làng Song, xã Cẩm Ngọc, Cẩm Thủy. Ông làm Chánh tổng tổng Gia Dụ từ năm 1912 đến năm 1936. Dân trong vùng gọi ông là ông Bá Song, là người hay chữ nhất vùng.

Đọc thơ  của Trương Công Bích ta thấy nổi lên những nội dung rất đáng chú ý: Trước hết, đó là vẻ đẹp của núi sông quê hương: Từ động Cửa Hà:

                Trong veo nước biếc dòng in nguyệt

                Thắm ngắt rừng xanh gấm vẻ hoa.

đến núi Chùa Mộng:

                Trông lên nhật nguyệt gần gang tấc

                Ngó xuống giang sơn suốt dặm nghìn

và:       

Bốn mùa hoa thụ xuân riêng mãi

Một cõi yên hà thú lạ thay

Trăng gió nào bằng trăng gió đó

Nước non dễ mấy nước non này.

Đáng chú ý, trong những bài vịnh cảnh đẹp ở Cẩm Thủy có một bài vượt lên  về cách nhìn. Đó là vào đêm rằm tháng bảy, ông cùng với khách văn nhân dạo thuyền trên sông Mã tới động Cửa Hà, vừa thực vừa mơ:

Gió quang mây tránh vầng trăng sáng

 Rừng gấm non cao nước  Mã sâu

Qua động Cửa Hà trăng trinh nữ

Doanh châu thuở trước khác chi đâu.

Đến Hương Sơn (Hương tích), tác  giả có bốn bài vịnh. Bài nào cũng hay, độc đáo. Cảnh sắc ở đây dù đã có nhiều thi nhân ngâm vịnh nhưng tác giả vẫn  tìm ra cảm nhận riêng:

 Trên cành gõ kiến chim khoe phách

Dưới suối nghe kinh cá lẫn đàn.

Không chỉ là một người yêu thiên nhiên, yêu  cảnh đẹp quê hương, qua các bài thơ, ta  còn thấy tâm hồn ông rất khoáng đạt, khảng khái,  thanh cao. Ông tỏ cái chí “bốn phương hồ thỉ” và “phi thường tỏ mặt mới can tâm”. Một lần đến thăm chùa Hang Lòn, ông viết:

Cái cửa từ bi đà hỉ xả

Mặc ai vào cúi với ra luồn

Không lặn lội, luồn cúi và giữ tấc gan vàng:

Sóng dạn không kinh loài đại ngạc

Mưa vũ mới biết giống tiềm long

 Chẳng thèm lặn lội chi cho mệt

 Giữ tấc gan vàng với núi sông.

                                             (Vịnh Đất sỏi có chạch vàng)

Với quê hương, ông yêu cảnh; với bản thân, ông giữ “danh hương” và ý chí; với người lao động quanh ông thì ông phê phán kẻ trọng phú, khinh bần:

                Thế thường quen lối dễ người nghèo

                Kẻ có xem chừng những kính yêu.

Còn ông thì:

                Tỏ vị phận đành ta chẳng thế

                Nọ thèm nịnh hót, nọ thèm kêu.

                                                 (Vịnh Trọng phú khinh bần)

Chưa hẳn đã có ý thức đề cao người lao động, nhưng qua bài Vịnh Đi cày, hình ảnh người nông dân chân lấm tay bùn hiện lên với một tầm cao lớn mà ta ít thấy ở các bài thơ về đề tài này:

Đội trời lồng lộng cần chi nón

Đạp đất thanh thanh nọ phải giầy.

Đọc các bài thơ Vịnh cảnh non xanh nước biếc, hầu hết tác giả đều gửi gắm nỗi niềm tâm sự. Đó là trắc ẩn đối với thời cuộc, đối với đất nước và xa gần, thầm kín một tình yêu nước. Vãn cảnh nhưng ông có nhiều suy ngẫm, lúc nào cũng như canh cánh “cái sự nhân gian”, “nước non, non nước”.

Trong bài Điều lo lắng gặp ở Văn miếu Hà Nội, ở đây “nước non” đã mở ra ở một phạm vi rộng. Một vấn đề văn hóa, nhưng là hồn dân tộc. Nhưng rồi cái hồn ấy nay có còn không? Tác giả như hoài niệm, hoài nghi, xa xót:

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Hà Nội có tòa thánh miếu công

Điện các trăm đời mưa gió dạn

Cung tường bốn mặt cỏ hoa phong

Núi Nùng mây rợp bia châu tử

Thành Lý rêu mờ dấu đỉnh chung

Lễ nhạc hãy còn nền nếp cũ

Y quan này có giống xưa không?

Trong  thơ ông, có những bài tỏ nỗi bất bình về những điều ngang trái, khó chịu vì còn lắm gập ghềnh, “nham nhở”, ông muốn:

Ra tay bạt thác đem xây lại

Nham nhở bao nhiêu cũng phải bằng.

                                                (Hạ lãm khe đá mài)

Đọc tập  thơ nôm của Trương Công Bích hẳn sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến sự chắc tay của người làm thơ nôm theo thể thất ngôn bát cú khá chỉnh  về thể thức niêm luật, vần và đối. Khi vịnh cảnh đẹp, người xưa thường theo mẫu có sẵn như thần tiên, bồng lai, đào nguyên, doanh châu... tác  giả chưa hẳn đã vượt ra những cái đó, song đã hướng tới những cái mới. Ở đây tác giả đã đưa vào tác phẩm của mình yếu tố dân gian như bài: Vịnh Ao rau muống, gợi ra ý “có gan ăn muống có gan lội hồ”. Một số từ dùng gợi ý hai nghĩa khá đắt như từ “nước”.

  Căn bản vốn sinh ra từ nước

 Thử xem gan lội mấy ai liều.

Hoặc từ “chàng”. Nó là chàng Xay nhưng cũng là “chàng trai”.

Ngôi cao chỉnh thẳng nhờ tay tạo

Chuyển vận vì chàng mới nổi danh.

                                              (Vịnh cối xay lúa)

Đáng chú ý là tâm hồn nghệ sĩ của tác giả. Phải là người có nhãn quan thẩm mỹ lành mạnh, tiến bộ mới có thể viết trong bài đề tranh Tố nữ:

 Kìa hình ngọc diện in ra đó

 Cái điểm băng tâm vẽ được nào

Chẳng động mảnh tình trăng với gió

Xuân xanh còn mãi biết là bao?

Đọc truyện Kiều, tác giả khen Kiều và thông cảm cuộc đời Kiều, đồng điệu với nhà thơ lớn Nguyễn Du:

Tú khẩu cẩm tâm nền phú quý

Thiên tư tài mạo bậc thanh tao.

 Đương thời, tập thơ này không được phổ biến mà chỉ một số bạn bè được đọc. Gần thế kỷ trôi qua mới được công bố, nhưng tập thơ không “cũ” mà vẫn còn nguyên giá trị. Với tâm hồn khoáng đạt, thanh cao và nhạy cảm, tác giả Trương Công Bích đã thể hiện trong tập thơ hình ảnh quê hương, đất nước với những non xanh nước biếc kỳ thú, đẹp như trong mộng, nhưng hiện thực xã hội cuộc sống đầy trắc ẩn trong lòng. Dẫu chưa mãnh liệt nhưng đã nhen nhóm lên thành tình yêu nước. Và đó chính là giá trị quý giá của tập thơ. 

Tập thơ này xứng đáng là một báu vật đóng góp vào kho tàng Văn học các dân tộc Việt Nam. Thiết nghĩ tác phẩm cần được biên tập, xuất bản, giới thiệu với đông đảo bạn đọc.

 

(Báo Thanh Hoá)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác